Định hướng mục tiêu phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

Một phần của tài liệu phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam (Trang 116 - 124)

Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

4.1.2. Định hướng mục tiêu phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

4.1.2.1. M c tiêu phát tri n c a Ngân hàng Th ng m i c ph n Công th ng Vi t Nam

* Mục tiêu tổng quát

Cùng với quá trình chuyển đổi và phát triển của nền kinh tế Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, hoạt động của hệ

thống ngân hàng Việt Nam nói chung, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói riêng, trong giai đoạn đổi mới vừa qua đã đạt được sự phát triển căn bản và toàn diện, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước thời gian tới sẽ tiếp tục có nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Dự báo trong những năm tới, kinh tế thế giới sau khi được điều chỉnh lại sẽ tiếp tục đi vào quỹ đạo phát triển mới, trong đó toàn cầu hoá kinh tế vẫn là xu thế khách quan và chủ đạo, tính chất xã hội hoá kinh tế ngày càng cao và chuyên môn hoá ngày càng sâu sắc trên phạm vi toàn cầu;

khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, sẽ tiếp tục có những bước phát triển nhảy vọt và được ứng dụng rộng rãi, là lực lượng quan trọng thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế- xã hội.

Để tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, hội nhập thành công, giữ vững vai trò chủ lực củaVietinbank ở thị trường Việt Nam, định hướng chiến lược phát triển Vietinbank trong những năm tới là tiếp tục đổi mới, cơ cấu lại triệt để và toàn diện hơn nhằm: Xây dựng Vietinbank trở thành tập đoàn tài chính mạnh, hiện đại, phát triển bền vững và giữ vị trí hàng đầu Việt Nam; hoạt động kinh doanh đa năng với chất lượng dịch vụ cao; năng lực tài chính lành mạnh; trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và quản trị ngân hàng đạt mức tiên tiến theo các thông lệ chuẩn mực quốc tế; phấn đấu đến năm 2015 đưa Vietinbank trở thành tập đoàn tài chính mạnh trong khu vực.

* Mục tiêu về phát triển dịch vụ NHBL tại Vietinbank

VietinBank vừa vinh dự nhận giải thưởng “Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu 2012” do VietNam Banking Awards bình chọn và trao giải. Để nhận được sự công nhận này, VietinBank đãđáp ứng đầy đủ các tiêu chí về giá trị thương hiệu, hiệu quả tài chính, quy trình vận hành và công nghệ thông tin, sự phong phú về sản phẩm dịch vụ, khả năng thâm nhập thị trường bán lẻ, nguồn nhân lực và tiềm năng phát triển trong tương lai.

Để tiếp tục duy trì vị trí ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, trong thời gian tới Vietinbank cần tiếp tục bám sát mục tiêu chiến lược phát triển dịch vụ NHBL đãđược HĐQT phê duyệt, với những mục tiêu trọng yếu như sau:

- Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ NHBL, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ NHBL đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ NHBL tự động chứa hàm lượng công nghệ cao, tích cực nghiên cứu bán chéo sản phẩm dịch vụ, triển khai có hiệu quả các sản phẩm dịch vụ trọn gói nhằm phát huy tối đa các giá trị gia tăng của các sản phẩm dịch vụ.

- Nâng cao tỷ trọng thu nhập từ hoạt động NHBL, đặc biệt là các dịch vụ NHBL phi tín dụng, xem đây là sản phẩm chủ lực mà Vietinbank hướng tới trong trung và dài hạn.

- Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư phát triển hệ thống CNTT làm cơ sở cho việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại theo chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ CNH, HĐH.

- Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ NHBL có phong cách làm việc chuyên nghiệp, theo đúng tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ, mang phong cách văn hóa Vietinbank và yêu cầu thực tiễn đặt ra.

4.1.2.2. Nh ng thu n l i và khó kh n trong phát tri n d ch v ngân hàng bán l trong th i gian t i

* Những điểm thuận lợi

-Đảng và nhà nước đã có đường lối, chủ trương và nhiệm vụ cụ thể đối với ngành ngân hàng trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng: Đảng Cộng sản Việt Nam đãđề ra đường lối đổi mới, mở đường cho sự hình thành và phát triển dịch vụ của các NHTM nhà nước với những nhiệm vụ cụ thể. Báo cáo chính trị tại Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 12/1993) đã nêu rõ: “Hệ thống tài chính, ngân hàng phải làm tốt chức năng tạo vốn, huy động vốn và cho vay vốn có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế;

chức năng trung tâm thanh toán và lưu thông tiền tệ của toàn xã hội”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục

chuyển các NHTM sang cơ chế kinh doanh đầy đủ, cho phép các định chế tài chính kinh doanh đa dạng, phát triển mạnh các dịch vụ tài chính, ngân hàng theo đúng pháp luật và các quy định quản lý của NHNN. Khuyến khích phát triển, đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh” [9].

Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phù hợp với lộ trình cam kết hội nhập và mở cửa thị trường, đảm bảo thực hiện hệ thống cơ chế, chính sách tài chính bình đẳng, thống nhất, ổn định trong thực tế đối với mọi thành phần kinh tế. Xoá bỏ dần các ưu đãi đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh, đồng thời phải chấm dứt việc can thiệp của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng như mở rộng dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử, tăng cường đầu tư vào hệ thống thanh toán liên ngân hàng, hệ thống thanh toán thẻ tín dụng, triển khai một số dịch vụ mới. Nâng cao số lượng, chất lượng, đa dạng hóa các dịch vụ tài chính, tăng tỷ trọng trong cơ cấu ngành dịch vụ. Thu hút các thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ tài chính, ngân hàng. Đổi mới phong cách giao tiếp trong hệ thống tài chính ngân hàng để hoạt động này thực sự văn minh, hiện đại và lịch sự” [47, tr.40-42].

Với chủ trương, đường lối của Đảng, kế hoạch phát triển của nhà nước, Vietinbank có nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng, tích cực huy động vốn từ các tầng lớp dân cư, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư vốn cho sự phát triển kinh tế đất nước, đồng thời cung ứng ngày càng đa dạng cácloại hình dịch vụ tiện ích đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và đời sống nhân dân.

- Khoa học kĩ thuật, công nghệ tin học phát triển nhanh chóng: Khoa học kĩ thuật trên thế giới phát triển mạnh, các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn với tốc độ vô cùng nhanh chóng, sẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của công nghệ và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Internet đang trở thành một yếu tố không thể thiếu của nền kinh tế mỗi nước cũng như kinh tế toàn cầu.Sự phát triển củaInternet là cơ sở cho sự ra đời củacác hình thức mới của hoạt động ngân hàng: ngân hàng điện tử, ngân hàng tại nhà. Chính nhờ Internet, thương mại điện tử đã rađời, phát triển và trở thành hình thức mua bán

phổ biến trên thế giới. Sự phát triển của thương mại điện tử tạo điều kiện cho các ngân hàng phải nhanh chóng thực hiện các dịch vụ ngân hàng điện tử, bởi khâu trung tâm trongthương mại điện tử là sự luân chuyển vốn tức là thanh toán trên mạng. Như vậy, có thể nói nhờ công nghệ thông tin phát triển, các sản phẩm trí tuệ đã cung cấp nguồn năng lượng mới cho ngân hàng để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới. Ngân hàng được chắp thêm đôi cánh để tăng nhanh tốc độ phát triển, rút ngắn thời gian thực hiện giao dịch, đồng thời giảm chi phí giao dịch cho khách hàng và cho chính ngân hàng [19, tr.121].

Công nghệ tin học đang có điều kiện phát triển và ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam. Theo Tổng công ty Bưu chính viễn thông (VNPT), đến nayViệt Nam đã có 136 triệu thuê bao điện thoại và 4,4 triệu thuê bao Internet, là một trong mười nước có tốc độ phát triển viễn thông nhanh nhất thế giới. Phổ cập dịch vụ điện thoại đến 100% xã trên toàn quốc. Các dự án đầu tư sẽ tập trung vào việc nâng cao năng lực đường truyền và thiết bị hiện đại, trong đó chú trọng các cổng truy nhập trực tiếp, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về thông tin viễn thông của các ngành kinh tế. Đây là những cơ sở quan trọng để áp dụng và phát triển hệ thống dịch vụngân hàng tự động trong tương lai củaNHTM Việt Nam nói chung và của Vietinbank nói riêng.

- Môi trường kinh tế xã hội có nhiều thay đổi theo hướng thuận lợi: Mặc dù chịu ảnh hưởng trực tiếp từkhủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái nền kinh tế, Việt Nam tiếp tục tăng trưởng phát triển ở mức độ khá (GDP tăng trưởng trên 5%, mức cao trong khu vực). Trình độ chuyên môn hoá của các ngành sản xuất kinh doanh ngày càng cao đòi hỏi phải có các dịch vụ tài chính, ngân hàng đa dạng để phục vụ. Việt Nam là nước có dân số đông (khoảng 90 triệu người), đứng thứ 13 trên thế giới. Thu nhập bình quânđầu ngườihiện nay đạt 1.600 USD, tăng gấp 10 lần sau 20 năm, khả năng tiêu dùng và tích lũy tăng của người dân tăng lên, làm phát sinh các nhu cầu tích lũy, đầu tư, thanh toán chi trả… đòi hỏi phải có nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng để thoả mãn các nhu cầu. Quá trình HNKTQT diễn ra ngày càng sâu sắc, môi trường thương mại cũng được thay đổi tích cực hơn. Với sự ra đời của các trung tâm thương mại,

dịch vụ, các siêu thị, các cửa hàng tự chọn và nhất là thương mại điện tử phát triển sẽ tạo điều kiện để ứng dụng công cụ thanh toán không dùng tiền mặt và dịch vụ ngân hàng. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, việc gia nhập WTO và TTP là cơ hội lớn đểViệt Nam mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư, tiếp thu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm phát triển kinh tế… đã tạo ra những cơ hội mới đểVietinbank phát triển dịch vụ.

Để có thể thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước buộc phải thể chế hoá bằng pháp luật, ngày càng phù hợp với xu thế hội nhập với tập quán và thông lệ quốc tế. Mọi quan hệ kinh tế, quan hệ giữa các doanh nghiệp đều thực sự được điều chỉnh bằng pháp luật, ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và người dân cũng sẽ được nâng cao, do đó việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng cũng sẽ thuận lợi hơn.

Theo lộ trình đã cam kết, các loại hình dịch vụ ngân hàng và các hình thức tổ chức pháp lí để xúc tiến kinh doanh dịch vụ của nước ngoài sẽ được thực hiện ở Việt Nam. Sự cọ sát, va chạm hàng ngày về quyền lợi với các định chế tài chính ngân hàng nước ngoài ngay tại thị trườngViệtNam sẽ giúp Vietinbank có thêm kinh nghiệm và bản lĩnh thương trường, điều hành tác nghiệp, quản trị kinh doanh, quan hệ khách hàng, dự báo phòng ngừa rủi ro, phát triển bền vững.

- Khách hàng ngày càng quan tâm hơn đến sử dụngDVNH: Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu các dịch vụ tiện ích trong xã hội, trong đó là DVNH ngày càng tăng sẽ kích thích dân cư sử dụng dịch vụ ngân hàng nhiều hơn.

Trong xu thế hội nhập kinh tế, nhiều doanh nghiệp nước ngoài, người nước ngoài tới kinh doanh và sinh sống tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng các DVNH phong phú, đa dạng và hiện đại của họ cũng tiếp thêm sức cho thị trường DVNH. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, để đứng vững trên thị trường họ phải đổi mới hoạt động kinh doanh, cải tiến kỹ thuật công nghệ tiên tiến, phải thíchứng phương thức kinh doanh hiện đại, vì thế mà nhu cầu sử dụng DVNH cũng tăng lên.

- Những thế mạnh của Vietinbank: (i)Luôn đi đầu trong việc đầu tư phát triển hệ thống CNTT. Hiện nay, Vietinbank đang triển khai giai đoạn 2 phát triển

hệ thống Core Banking. Do vậy,rất thuận lợi trong việc khai thác ứng dụng kĩ thuật công nghệ tin học hiện đại để phát triển các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ hiện có. (ii) Vietinbank có màng lưới rộng khắp gồm: Ngoài Trụ sở chính và Sở Giao dịch,Vietinbank đã có 164 chi nhánh,hơn 1000 phòng giao dịch và điểm giao dịch tại các trung tâm kinh tế và các khu vực công thương nghiệp phát triển trong cả nước; có 3 chi nhánh tại Đức và Lào; có quan hệ nghiệp vụ ngân hàng với hơn800 ngân hàng và tổchức tiền tệ trên khắp thế giới.Vietinbank có đội ngũ trên 19.000 cán bộ, nhân viên; trong đó, trìnhđộ đại học và trên đại học chiếm hơn50%. Đội ngũ cán bộ nhân viên thường xuyên được đào tạo lại và tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngân hàng trong cơ chế thị trường. (iii) Khách hàng truyền thống của Vietinbank là các doanh nghiệp công thương nghiệp, dịch vụ, du lịch và dân cư buôn bán đô thị có nhu cầu dịch vụ ngân hàng rất lớn. (iv) Vietinbank đã có những kinh nghiệm quý báu được tích luỹ gần 20 năm hoạt động. (v) Sau khi IPO lần đầu thành công vào năm 2008, Vietinbank tiếp tục thành công khi đàm phán để mời các ĐCTC hàng đầu thế giới tham gia cổ phần và trở thành cổ đông chiến lược của Vietinbank. Công ty cổ phần tài chính quốc tế thuộc nhóm Ngân hàng thế giới (IFC) tham gia 10% vốn điều lệ và bán 20% cổ phần cho Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ, tăng vốn điều lệ lên 32.661 tỷ đồng, tăng vốn tự có lên 45.000 tỷ đồng và trở thành NHTM có vốn điều lệ lớn nhất và cơ cấu cổ đông mạnh nhấtViệt Nam hiện nay.

* Những điểm khó khăn

Bên cạnh những điểm thuận lợi nêu trên, việc phát triển dịch vụ NHBL cũng còn gặp phải không ít khó khăn như:

- Nền kinh tế củaViệt Nam còn phát triển ở mức thấp, chưa đồng đều, cơ sở hạ tầng hiện còn yếu kém, công nghệ kĩ thuật phần lớn là lạc hậu, trìnhđộ nắm bắt khoa học kĩ thuật của người quản lí và nhân viên thừa hành nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Trìnhđộ chuyên môn hoáở các ngành SXKD chưa cao, nên nhu cầu về dịch vụ tài chính ngân hàng chưa thật bức thiết, đa dạng. Mặt khác hiệu quả hoạt

động của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNN ở Việt Nam còn thấp. Các loại hình kinh tế khác như HTX, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, cá thể với khả năng hạn chế về vốn, trìnhđộ và năng lực kinh doanh, năng lực quản lí nói chung còn thấp thì khả năng tăng trưởng SXKD vô cùng khó khăn. Năng lực quản trị của các loại hình doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu, hiểu biết về KTTT, kinh tế thế giới và luật pháp còn nhiều hạn chế dẫn đến những vụ việc làm ăn liều lĩnh, đổ bể, thua lỗ, hiệu quả kinh doanh thấp và tất yếu dẫn đến rủi ro cho ngân hàng khi cấp tín dụng.

- Thu nhập bình quân của người dân còn thấp (năm 2012 đạt bình quân 1.600 USD), bằng50% thu nhập trung bình của các nước ASEAN và bằng 60%

mức thu nhập của Trung Quốc, nằm trong những nước nghèo nhất thế giới. Dân trí chưa cao, số người mở và sử dụng tài khoản cá nhân, tài khoản vãng lai ở ngân hàng để thanh toán chi trả chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội, thanh toán qua ngân hàng chưa là thói quen của phần đông dân chúng.

- Môi trường pháp lí còn nhiều vấn đề phải khắc phục: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, hiệu lực pháp chế thấp, các chính sách quản lí kinh tế vĩ mô chưa ổn định. Môi trường pháp lí cho hoạt động ngân hàng cũng chưa đầy đủ và đồng bộ, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

- Cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và với các ngân hàng nước ngoài ngày càng gay gắt, quyết liệt. Việt Nam sẽ có nhiều NHTM với các loại hình khác nhau cùng hoạt động: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng nước ngoài… Các NHTM đều kinh doanh đa năng, bình đẳng trên thị trường, sức ép cạnh tranh giữa các ngân hàng nội địa với nhau và với các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài sẽ rất lớn. Các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực về vốn, công nghệ, có kinh nghiệm hoạt động trong nền KTTT sẽ là đối thủ cạnh tranh đáng gờm của các ngân hàng nội địa. Ngân hàng nào có chất lượng dịch vụ tốt, lãi suất cho vay và phí dịch vụ thấp, quản lí tốt sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.Các ngân hàng cổ phần đang trong giai đoạn sắp xếp, củng cố lại sẽ trở thành những ngân hàng có qui mô đủ lớn, quản lí tốt và có sức cạnh tranh. Các định chế tài chính phi ngân hàng

Một phần của tài liệu phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam (Trang 116 - 124)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(175 trang)