2.2.1. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp đợc ban hành vào năm 1993 để thay thế cho Luật thuế nông nghiệp đợc ban hành từ năm 1951. Thuế nông nghiệp trớc đây đánh trên hoa lợi thu đợc với thuế suất tơng đối cao đã
ảnh hởng lớn đến đời sống của ngời nông dân, không khuyến khích việc thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Thuế sử dụng đất nông nghiệp (đánh thuế đối với việc sử dụng đất) ra đời đáp ứng đợc các mục tiêu cơ bản nh: khuyến khích sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả, khuyến khích phát triển nông nghiệp cả về diện tích cũng nh sản lợng,
đảm bảo đợc sự quản lý của Nhà nớc đối với đất nông nghiệp.
Thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện điều tiết thu nhập từ việc sử dụng
đất nông nghiệp, đất trồng rừng. Căn cứ tính thuế SDDNN là diện tích, hạng đất và định suất thuế.
Diện tích đợc căn cứ trên sổ địa chính hoặc trên tờ khai của hộ sử dụng
đất.
Hạng đất tính thuế đợc căn cứ vào các yếu tố nh: độ phì, vị trí, địa hình, khí hậu, thời tiết và điều kiện tới tiêu. Ngoài ra còn tham khảo năng suất
bình quân đạt đợc trong điều kiện canh tác bình thờng của 5 năm trớc.
Dựa vào khả năng sinh lợi của đất, đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản đợc phân thành 6 hạng, đất trồng cây lâu năm đợc phân thành 5 hạng. Nguyên tắc là đất có khả năng sinh lợi cao nhất đợc phân thành hạng 1 và cứ thế thấp dần cho đến hạng 5 hoặc hạng 6 tuỳ theo từng loại đất.
Định suất thuế hàng năm đợc quy định bằng số kg thóc trên một đơn vị diện tích canh tác. Định suất thuế (mức thuế) một năm tính bằng kg thóc trên 1 ha của từng loại đất nh sau:
- Đối với đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản, hạng 1: 550kg/ha, hạng 2: 460kg/ha, hạng 3: 370kg/ha, hạng 4: 280kg/ha, hạng 5: 180kg/ha và hạng 6: 50kg/ha.
- Đối với đất trồng cây lâu năm, hạng 1: 650kg/ha, hạng 2: 550kg/ha, hạng 3: 400kg/ha, hạng 4: 200kg/ha, hạng 5: 80kg/ha.
Thuế đợc tính bằng thóc nhng thu bằng tiền theo giá thóc thực tế tại thị tr- ờng của từng địa phơng trong vụ thu thuế. Căn cứ vào các tiêu chuẩn của hạng đất tính thuế, UBND xã, phờng, thị trấn tổ chức phân hạng đất theo phơng pháp bình nghị công khai, trình UBND huyện, UBND tỉnh duyệt cho từng huyện và tổng hợp kết quả phân hạng đất của địa phơng báo cáo Bộ Tài chính trình Thủ tớng Chính phủ phê chuẩn làm căn cứ tính và thu thuế. Giá thóc thu thuế do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định không đợc thấp hơn 10% so với giá thóc ở thị trờng địa phơng trong vụ thu thuế.
Do việc cấp GCN QSDĐ đối với đất nông nghiệp, đất trồng rừng đã cơ
bản hoàn thành, nên việc quản lý đối tợng nộp thuế, diện tích tính thuế t-
ơng đối đầy đủ, chặt chẽ. Kết quả cụ thể nh sau:
BiÓu sè 4:
Kết quả thu thuế sử dụng đất nông nghiệp
TT Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
1 Số đối tợng nộp thuế 11.575.733 11.742.137 11.893.987 11.912.195 2 Diện tích đất tính thuế (ha) 4.778.807 4.937.310 4.951.524 4.956.278 3 Số thuế thu đợc(triệu đồng) 1.776.000 691.000 540.000 520.000
(Nguồn: Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính) 2.2.2. Thuế nhà, đất
Trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, đối với các nhà đầu t thì đất đai thực sự trở thành nguồn lực quý giá của đất nớc. Việc huy động tiềm năng kinh tế của đất đai vào ngân sách Nhà nớc là cần thiết để sử dụng có hiệu quả
nguồn lực của đất nớc và tăng thu cho ngân sách, đáp ứng các yêu cầu cho
đầu t phát triển đất nớc. Đáp ứng yêu cầu này, Pháp lệnh thuế nhà, đất đã
ra đời năm 1991.
Qua bớc đầu thực hiện, thuế nhà đất đã bộc lộ một số nhợc điểm nh: thiếu sự thống nhất giữa các văn bản quản lý, mức thu thuế cao đối với đất ở ở vùng nông thôn… Đồng thời, pháp luật còn quy định hợp Sau một một lần sửa đổi, đến ngày 19/5/1994, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất phù hợp với tình hình thực tế, chủ yếu là điều chỉnh mức thuế so với thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Hiện nay, chúng ta mới chỉ thực hiện đánh thuế đối với đất, tạm thời cha quy định đánh thuế đối với nhà. Thuế đất thực hiện điều tiết thu nhập trong phạm vi sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ… Đồng thời, pháp luật còn quy định hợp đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng đất (trừ trờng hợp sử dụng đất thuê).
Căn cứ tính thuế là diện tích, hạng đất và mức thuế.
- Diện tích tính thuế là toàn bộ diện tích đất mà tổ chức, cá nhân đang sử dụng, bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình, diện tích đ- ờng đi lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, bao quanh công trình, diện tích ao hồ và diện tích để trống trong khuôn viên đợc phép sử dụng.
Trong trờng hợp cha có giấy phép thì theo diện tích thực tế đang sử dụng.
- Hạng đất đợc phân biệt theo đất đô thị và đất thuộc vùng nông thôn.
Hạng đất đô thị đợc phân biệt theo loại đô thị (5 loại đô thị), đờng phố, vị trí của đất (trung tâm, cận trung tâm, ven đô) gắn với các điều kiện về thuận lợi trong sản xuất kinh doanh và sinh hoạt, áp dụng theo vị trí đất trong lô nh ở mặt đờng, gần mặt đờng hay ở sâu trong ngõ. Hạng đất thuộc vùng nông thôn để xác định mức thuế bằng cùng hạng đất nông nghiệp trong thôn, xóm, ấp, bản.
- Mức thuế đợc xác định theo từng vùng nh sau:
+ Mức thuế đất thuộc vùng đô thị, thành phố, thị trấn, thị xã bằng từ 3 đến 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong
vùng và đợc quy định cho một đơn vị diện tích của từng vị trí của từng loại
đờng phố theo 5 loại đô thị, cụ thể: Đô thị loại 1 bằng 9 đến 32 lần, đô thị loại 2 bằng 8 đến 30 lần, đô thị loại 3 bằng 7 đến 26 lần, đô thị loại 4 bằng 5 đến 19 lần, đô thị loại 5 bằng 5 đến 13 lần thuế sử dụng đất nông nghiệp.
+ Đối với đất vùng ven đô thị, tuỳ thuộc độ tiếp giáp với từng loại đô thị (loại 1, loại 2, loại 3… Đồng thời, pháp luật còn quy định hợp ), mức thuế đất bằng từ 1,5 lần đến 2, 5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng.
+ Đối với đất thuộc vùng vùng ven các đầu mối giao thông, các trục đờng giao thông chính, mức thuế đất bằng 1,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng.
+ Đối với đất thuộc vùng nông thôn, mức thuê đất tính bằng 1 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp bình quân trong xã.
Thuế đợc tính bằng thóc, thu bằng tiền theo giá thóc tính thuế sử dụng đất nông nghiệp của vụ cuối năm liền trớc năm thu thuế nhà, đất.
Kết quả quản lý đối tợng nộp thuế, đối tợng chịu thuế và số thuế nhà, đất từ năm 2000 đến năm 2003 cụ thể nh sau:
BiÓu sè 5:
Kết quả thu thuế nhà đất
TT Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
1 Số đối tợng nộp thuế 12.263.846 12.454.756 12.920.249 12.944.068 2 Diện tích đất tính thuế (ha) 401.187 421.754 446.370 449.341 3 Số thuế thu đợc(triệu đồng) 366.000 328.000 280.000 284.000
(Nguồn: Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính)
2.2.3. Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Để tăng cờng quản lý Nhà nớc về đất đai, khuyến khích định hớng sử dụng đất theo mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ, đảm bảo công bằng và nghĩa vụ nộp thuế và động viên vào ngân sách Nhà nớc một phần thu nhập của ngời sử dụng đất khi chuyển QSDĐ, Nhà nớc ta đã
ban hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.
Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất đợc Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá IX thông qua ngày 22/6/1994, sau đó đợc sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X năm 1999 là hình thức thuế điều tiết thu nhập của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chuyển nhợng QSDĐ. Theo đó, tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân có quyền sử dụng đất bao gồm cả đất có nhà và vật kiến trúc trên đó, khi chuyển QSDĐ (chuyển đổi, chuyển nhợng cho ngời khác) theo quy định của pháp luật phải nộp thuế chuyển QSDĐ, trừ các trờng hợp: Nhà nớc giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo quy
định của pháp luật, ngời sử dụng đất trả lại đất đợc giao cho Nhà nớc hoặc Nhà nớc thu hồi đất theo quy định của pháp luật, chuyển QSDĐ trong tr- ờng hợp ly hôn, thừa kế theo quy định của pháp luật.v.v … Đồng thời, pháp luật còn quy định hợp
Căn cứ tính thuế chuyển QSDĐ là diện tích đất, giá đất tính thuế và thuế suÊt.
- Diện tích đất tính thuế chuyển quyền sử dụng đất là diện tích đất thực tế chuyển QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác.
- Giá đất tính thuế chuyển QSDĐ là giá đất do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng quy định theo khung giá các loại đất của Chính phủ và đợc niêm yết công khai tại cơ quan thuế, cơ quan địa chính của địa ph-
ơng. Trờng hợp bán căn hộ thuộc nhà nhiều tầng cùng với việc chuyển QSDĐ có nhà trên đất đó thì giá đất tính thuế chuyển QSDĐ đợc phân bổ cho các tầng.
- Thuế suất chuyển QSDĐ, trớc đây, có 8 mức thuế suất áp dụng cho từng loại đất khác nhau trong từng trờng hợp cụ thể (mức thấp nhất là 0%, mức cao nhất là 50%), cha kể Luật còn cho phép Chính phủ và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đợc quy định các mức thuế suất để cụ thể hoá trờng hợp chuyển QSDĐ cùng với chuyển mục đích sử dụng. Tuy nhiên, đến năm 1999, Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thuế chuyển quyền sử dụng
đất đã rút lại còn 2 mức thuế suất: 2% đối với chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và 4% đối với chuyển quyền sử dụng đất phi nông nghiệp.
Thuế chuyển quyền sử dụng đất không áp dụng đối với đất Nhà nớc giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng; các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân chuyển đổi cho nhau để thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp và miễn hoặc giảm cho các đối tợng là hộ gia đình, cá nhân chuyển nhợng
QSDĐ để chuyển đến nơi tái định c, khu kinh tế mới; các hộ chuyển nh- ợng QSDĐ để đến nơi mới do yêu cầu công tác hoặc nghỉ hu theo quyết
định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.