1.4 Thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính ở Tổng công ty Chè Việt Nam
1.4.4 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tại Tổng công ty Chè Việt Nam
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của một doanh nghiệp luôn phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với nhau và đây cũng là mối quan tâm của các đối tượng cả trong và ngoài doanh nghiệp, cả nhà quản trị doanh nghiệp lẫn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, khách hàng, nhà cung cấp… Nhận thức được điều đó, Tổng công ty Chè Việt Nam xây dựng một quy trình phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán một cách bài bản và chi tiết nhằm đưa ra được bức tranh toàn cảnh tình hình và khả năng thanh toán một cách rõ ràng và trung thực.
1.4.4.1 Đánh giá khái quát tình hình thanh toán.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Tổng công ty Chè Việt Nam đánh giá khái quát tình hình thanh toán của mình qua chỉ tiêu so sánh giữa số nợ phải thu và nợ phải trả, từ đó xem xét tính cân đối giữa các đối tượng nợ và cho nợ.
Tỷ lệ nợ phải thu so
với nợ phải trả = Nợ phải thu
x 100 Nợ phải trả
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688
Chỉ tiêu này trong 3 năm qua của Tổng công ty lần lượt là 64,37%; 72,81%;
63,23%. Các giá trị này đều nhỏ hơn 100% nghĩa là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, bị trì hoãn việc trả nợ từ đối tượng khác, việc thu hồi nợ là không tốt . Tỷ lệ nợ phải thu so với nợ phải trả năm 2005 cao lên so với năm 2004 nhưng đến năm 2006 lại giảm xuống mức gần bằng năm 2004 cho thấy khả năng thu hồi nợ năm 2005 tăng lên song Tổng công ty đã không duy trì được tình trạng này. Chiếm dụng vốn của đơn vị khác để bổ sung nguồn vốn kinh doanh là xu hướng chung của các doanh nghiệp hiện nay tuy nhiên bên cạnh đó Tổng công ty nên xem xét đến khoản lãi vay phải trả từ các nguồn vốn đó. Ngoài ra, Tổng công ty cần có chính sách tín dụng hợp lý để thu hồi các khoản nợ đồng thời tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho các tổ chức khác, giảm lượng vốn bị chiếm dụng để tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.4.2 Phân tích tình hình thanh toán với người mua.
Việc phân tích tình hình thanh toán với người mua được thực hiện để thấy rõ mức hợp lý của số dư các khoản phải thu của khách hàng và hiệu quả của việc thu hồi nợ của Tổng công ty theo bảng số liệu sau:
Đơn vị: 1000đ
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 2005/2004 2006/2005
+/- % +/- %
Doanh thu 789.886.376 752.815.284 688.054.931 (37.071.092) 95,31 (64.760.353) 91,40 Số dư nợ PTKH
bình quân
223.293.67
6 230.745.402 254.139.761 7.451.726 103,31 23.394.359 110,14 Số vòng quay nợ
PTKH (lần) 3,53 3,26 2,71 (0,27) 92,35 (0,55) 83,13
Số ngày một vòng quay nợ PTKH (ngày)
103,18 111,88 134,82 8,7 108,43 22,94 122,23
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004 (toàn Tổng công ty);Bảng cân đối kế toán hợp nhất, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2005, 2006)
Bảng 1.5:Bảng phân tích tình hình thanh toán với người mua
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688
Dựa vào bảng số liệu trên có thể nhận thấy tình hình thu hồi nợ của Tổng công ty là không tốt: số vòng quay nợ phải thu khách hàng ngày càng giảm đặc biệt là năm 2006 chỉ bằng 83,13% so với năm 2005 đồng nghĩa với việc số ngày một vòng quay nợ phải thu khách hàng ngày càng tăng. Như đã phân tích khái quát tình hình thanh toán, Tổng công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn, và phải tìm nguồn vốn bổ sung bằng các khoản vay khác khiến bị phụ thuộc về tài chính, chưa quản lý tốt các khoản phải thu, công tác thu hồi nợ chưa thực sự có hiệu quả để có thể tiếp tục tái đầu tư cho quá trình kinh doanh của mình.
Thời gian quay vòng của các khoản phải thu là lớn và có xu hướng tăng theo thời gian. Nguyên nhân là do doanh thu mà Tổng công ty đạt được ngày càng giảm và thấp hơn số vốn mà Tổng công ty bị chiếm dụng mặc dù tốc độ tăng của các khoản phải thu không lớn hơn nhiều so với tốc độ giảm của doanh thu thuần. Với đặc thù của mặt hàng nông sản là chủ yếu, chu kỳ sống của sản phẩm ngắn thì tình trạng thu hồi nợ như trên là chưa tốt. Chính vì vậy, Tổng công ty nên thắt chặt chính sách tín dụng, tạo nguồn tài trợ cho sử dụng vốn và tăng cường khả năng độc lập tài chính của mình.
1.4.4.3 Phân tích tình hình thanh toán với người bán.
Nếu như phân tích tình hình thanh toán với người mua cho thấy khả năng thu hồi nợ của khách hàng thì phân tích tình hình thanh toán với người bán sẽ cho thấy tình hình chiếm dụng vốn của Tổng công ty đối với đơn vị khác và nhà cung cấp.
Việc phân tích này được thực hiện qua bảng số liệu sau: (Bảng 1.6)
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688
Đơn vị: 1000đ Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
2005/2004 2006/2005
+/- % +/- %
Giá vốn hàng bán 704.165.917 667.747.422 617.011.903 (36.418.495) 94,83 (50.735.519) 91,40 Số dư nợ PTNB
bình quân 24.217.243 18.590.242 32.049.800 (5.672.001) 76,76 13.459.558 172,40 Số vòng quay nợ
PTNB (lần) 29,07 35,92 19,25 6,85
123,5
6 (16,67) 53,59 Số ngày một vòng
quay nợ PTNB (ngày)
12,56 10,16 18,96 (2,4) 80,89 8,8 186,61
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004 (toàn Tổng công ty);
Bảng cân đối kế toán hợp nhất, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2005, 2006)
Bảng 1.6: Bảng phân tích tình hình thanh toán với người bán
Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy rằng tình hình thanh toán nợ với người bán của Tổng công ty là tốt với số vòng quay lớn và số ngày một vòng quay nợ phải trả người bán là ngắn. Song phải thấy một điều là có sự mất cân đối giữa số ngày một vòng quay nợ phải thu của khách hàng và số ngày một vòng quay nợ phải trả người bán: số ngày một vòng quay nợ phải thu của khách hàng nhiều hơn 8 lần so với số ngày một vòng quay nợ phải trả người bán. Có thể giải thích điều này là do nguồn nguyên liệu mà Tổng công ty mua là từ người nông dân do vậy không được trì hoãn việc thanh toán với họ trong khi sản phẩm ngoài các sản phẩm chè nội tiêu còn lại phần lớn là để xuất khẩu nên thời hạn thanh toán thường dài hơn và việc thanh toán cũng cần nhiều thủ tục hơn do vậy hạn thanh toán được quy định trong các hợp đồng là dài. Mặc dù vậy, Tổng công ty nên quan tâm đến sự mất cân đối này để có những thay đổi nhằm tạo sự cân đối giữa luồng tiền vào và ra, đảm bảo khả năng thanh toán và tự chủ tài chính.
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688
1.4.4.4 Đánh giá khái quát khả năng thanh toán.
Như đã phân tích ở trên ta đã biết tình hình thanh toán của Tổng công ty nhưng tình hình đó có thực sự phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp hay không? Điều đó sẽ được chỉ rõ khi phân tích khả năng thanh toán của Tổng công ty.
Tổng công ty Chè Việt Nam sử dụng chỉ tiêu Hệ số khả năng thanh toán chung để đánh giá khái quát khả năng thanh toán.
Hệ số khả năng
thanh toán chung = Khả năng thanh toán
= Tổng tài sản Nhu cầu thanh toán Nợ phải trả
Phần đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp đã cho biết khả năng thanh toán chung của Tổng công ty trong 3 năm qua với hệ số khả năng thanh toán chung đều lớn hơn 1cụ thể là năm 2004 hệ số này là 1,52; năm 2005 là 1,30 và năm 2006 là 1,34 với toàn bộ giá trị tài sản thuần hiện có doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.
1.4.4.5 Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn.
Tương tự như Hệ số khả năng thanh toán chung, Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và Hệ số khả năng thanh toán nhanh của Tổng công ty đều tốt, đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp. Cụ thể hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn các năm 2004, 2005, 2006 là 1,49; 0,91; 1,16 còn hệ số khả năng thanh toán nhanh lần lượt là 0,64; 0,54 và 0,59. Đây đều là các hệ số trong mức an toàn, đáp ứng nhu cầu thanh toán nhưng mặt khác cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính là chưa cao. Các hệ số này năm 2005 thấp hơn các năm khác phản ánh kết quả kinh doanh của năm 2005 là thấp hơn nhưng tình trạng này đã được khắc phục một phần vào năm 2006 tuy chưa đạt được như những năm 2004 trở về trước.
So sánh mối tương quan giữa hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thấy được các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản ngắn hạn.
Khả năng thanh toán ngắn hạn còn được phân tích qua chỉ tiêu Độ dài chu kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Độ dài chu kỳ = Thời gian một vòng + Thời gian một - Thời gian một vòng
CH sè 11 - B1 - §H KTQD Chuyªn Photocopy - §¸nh m¸y - In LuËn v¨n, TiÓu luËn : 6.280.688
kinh doanh quay nợ PTKH vòng quay HTK quay nợ PTNB
Theo tính toán độ dài chu kỳ kinh doanh của Tổng công ty trong năm 2004 là 154,47ngày; của năm 2005 là 167,86 ngày và của năm 2006 là 189,6 ngày. Độ dài chu kỳ kinh doanh cho biết quãng thời gian cần thiết từ lúc chi tiền cho hoạt động kinh doanh đến khi chuyển đổi hết các tài sản đó thành tiền và Tổng công ty có chu kỳ kinh doanh tương đối phù hợp với đặc trưng thời vụ sản phẩm chè, sự chuyển đổi hình thái tài sản nhanh khiến cho khả năng thanh toán tốt hơn. Tuy nhiên, độ dài chu kỳ kinh doanh của Tổng công ty ngày càng dài một phần cho thấy hiệu quả kinh doanh sụt giảm và còn khiến khả năng thanh toán giảm đi, đó là một trong những điều mà các nhà quản trị doanh nghiệp cần lưu ý trong điều hành sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp mình.
Nói tóm lại, phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Tổng công ty Chè Việt Nam để thấy tài sản của Tổng công ty đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ. Tổng công ty cần có biện pháp thu hồi các khoản phải thu , tiết kiệm chi phí, chủ động dòng tiền thu vào đảm bảo tự chủ tài chính cũng như sử dụng tốt hơn các nguồn lực tài chính của mình.