Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng

Một phần của tài liệu Thực tiễn công tác tổ chức kế toán, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải.DOC (Trang 25 - 28)

Tiền Hải

2.1 Nội dung phân loại chi phí, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất

Để đáp ứng nhu cầu của công tác tính giá thành thực tế của sản phẩm, chi phí sản xuất ở Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải được phân loại thành các khoản mục chi phí trong giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm:

-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm. Về thực chất chi phí NVLTT là chi phí của những loại vật liệu cấu thành thực thể sản phẩm, như đất, than, dầu…

-Chi phí nhân công trực tiếp: là toàn bộ tiền lương và các khoản phụ cấp mang tính chất lương trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm cùng với các khoản trích theo tỷ lệ quy định.

-Chi phí sản xuất chung: gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp nói trên. Chi phí sản xuất chung bao gồm 4 loại chi phí: chi phí về nhân viên phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.

2.1.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Quy trình công nghệ sản xuất Gạch tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải là tương đối phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận khác nhau. Nhưng giữa các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tạo thành một

dây chuyền công nghệ sản xuất liên tục. Sản phẩm của giai đoạn này là nguyên liệu gối đầu cho giai đoạn khác, các công đoạn được thực hiện liên tục.

Do tính chất khép kín và hoạt động liên tục của quy trình công nghệ sản xuất, tính đa dạng của các loại sản phẩm nên đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của Công ty là từng sản phẩm cụ thể. Sản phẩm hoàn thành là kết quả của quá trình sản xuất khép kín, cuối mỗi công đoạn nửa thành phẩm không bán ra ngoài.

Chính vì vậy Công ty chỉ tính giá thành của sản phẩm hoàn thành còn đối tượng tính giá thành là theo từng loại sản phẩm được sản xuất.

Để phù hợp với đối tượng kế toán chi phí sản xuất Công ty đã áp dụng phương pháp hạch toán theo từng phân xưởng. Chi phí nguyên vật liệu chính được tập hợp cho từng loại sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được phân bổ cho từng mặt hàng nên thực chất đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng loại sản phẩm được sản xuất.

Kỳ tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty là tháng. Cuối mỗi tháng sau khi tổng hợp hết chi phí, kế toán tính giá thành sản phẩm. Phương pháp tính giá thành theo phương pháp giản đơn (phương pháp tính trực tiếp).

Đối tượng tính giá thành tại Công ty là các sản phẩm hoàn thành nhập kho. Cụ thể Công ty có 8 sản phẩm chính: Gạch 2 lỗ, Gạch đặc, Gạch quay, Gạch chống nóng, Gạch 6 lỗ, Gạch 4 lỗ, Ngói lợp, Ngói nóc.

2.2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải

2.2.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất 2.2.1.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

• Nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất:

- Nguyên vật liệu chính: là phần cơ bản cấu thành lên sản phẩm, có giá trị lớn. Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải là Công ty chuyên sản xuất các loại vật liệu xây dựng, xây dựng các công trình dân dụng nên

nguyên vật liệu chính của Công ty chủ yếu là đất.

- Nguyên vật liệu phụ bao gồm: dầu diêgn, dầu cám, dầu 90, dầu thuỷ lực, dầu luyn.

- Nhiên liệu: có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than.

- Công cụ dụng cụ: là những loại tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn để được coi là tài sản cố định như quần áo bảo hộ lao động, khẩu trang, gang tay…

Do vậy chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và công cụ dụng cụ được xuất dùng trực tiếp cho sản phẩm.

• Chứng từ sử dụng là phiếu đề nghị xuất kho và phiếu xuất kho

Phòng kinh doanh tính toán và lập kế hoạch sản xuất, sau đó giao kế hoạch sản xuất cho Quản đốc phân xưởng cùng công nhân sản xuất để sản xuất theo kế hoạch, mục tiêu đề ra. Quản đốc phân xưởng xem xét kế hoạch để ghi các danh mục vật tư cần sử dụng về: số lượng, chủng loại. Sau đó đưa danh mục lên phòng kinh doanh và làm giấy đề nghị xuất kho nguyên vật liệu. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất và giấy đề nghị xuất kho kế toán lập phiếu xuất kho, Thủ kho căn cứ vào số lượng ghi trên phiếu xuất kho nguyên vật liệu để xuất kho.

Để hạch toán ban đầu kế toán sử dụng Phiếu xất kho, hạch toán chi tiết chi phí nguyên vật liệu kế toán sử dụng Sổ chi tiết TK 621, Sổ tổng hợp nhập xuất

tồn nguyên vật liệu, Bảng phân bổ chi tiết nguyên vật liệu cho từng loại sản phẩm và Sổ cái TK 621.

Biểu 2.1. Phiếu xuất kho

Một phần của tài liệu Thực tiễn công tác tổ chức kế toán, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Đầu Tư và Xây Dựng Tiền Hải.DOC (Trang 25 - 28)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(75 trang)
w