2.2.5.1. Lượng cầu lớn bởi người nhập cư có tích lũy.
Riêng trong năm 2007, Hà Nội có khoảng 50.000 gia đình mới, cộng với nhu cầu về nhà ở của các gia đình đã có tích lũy tại thành phố từ trước, nên cầu thực tế tại Hà Nội là rất lớn.
Điều đó đã đẩy giá đất ở Hà Nội lên quá cao (mặt bằng giá nhà đất Hà Nội cao xấp xỉ Tôkyô và Mátxcơva, gấp 2 lần so TP Hồ Chí Minh), nên những người thu nhập thấp khó tiếp cận về nhà ở.
2.2.5.2. Tính minh bạch thấp.
Ở Hà Nội, tồn tại hai thị trường nhà đất song hành - thị trường chính quy và thị trường ngầm. Tỷ trọng giao dịch ngầm được ước lượng khoảng 70/30 thậm chí tới 80/20.
Trên thực tế, cơ chế thị trường nhà đất phi chính quy đã hình thành dựa vào chính những cản trở, bất hợp lý của thị trường chính quy và đang chi phối trở lại thị trường chính quy.
Phân bổ nguồn lực của thị trường đi chệch mục tiêu, tài trợ cho các dự án nhà ở dành cho người thu nhập thấp chuyển thành tài trợ cho người thu nhập cao;
thị trường tín dụng thế chấp hầu như chưa phát triển và thiếu kênh dẫn vốn dài hạn và thiếu vốn nghiêm trọng, đặc biệt là thiếu vốn dài hạn cho các giao dịch BĐS.
Tính minh bạch và tính thanh khoản rất thấp, độ rủi ro cao (Tổ chức minh bạch quốc tế liệt thị trường BĐS Việt Nam và Hà Nội gần cuối của bảng xếp hạng).
SV: Đinh Chế Linh <10399.48> 48QD
Trang 89
2.2.5.3. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn.
Tính đến tháng 9/2008, Hà Nội đã thu hút tổng cộng 1.400 dự án đầu tƣ trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 18 tỷ USD.
Hình 18: Tổng vốn FDI cùng số dự án đầu tư vào Việt Nam trong 11 tháng năm 2008
Hình 19:Số dự án và lượng vốn FDI đầu tư vào một số tỉnh Việt Nam trong 11 tháng năm 2008
SV: Đinh Chế Linh <10399.48> 48QD
Trang 90
Hình 20: Cơ cấu các lĩnh vực được đầu tư vào TP.HN trong năm 2008.
Trong đó, Dịch vụ dẫn đầu về số dự án và Khách sạn – Du lịch vẫn là ngành dẫn đầu về thu hút vốn FDI.
Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ vừa đƣa ra dự báo thu hút vốn FDI năm 2009 khoảng 30 tỷ USD và giải ngân khoảng 12-13 tỷ USD. Chính đây là lúc ở tất cả các nước phát triển đều không có nơi đầu tư có lợi, sẽ không có đủ niềm tin để đầu tƣ. Họ có thể tìm đến các nơi có khác niềm tin để đầu tƣ.
Việt Nam cũng chịu tác động mạnh từ khủng hoảng nhƣng nếu nhìn vào các ngành có đầu tƣ dài hạn thì nguồn vốn đầu tƣ vào Việt Nam vẫn tiếp tục tăng mạnh. Trong năm 2009, sẽ có nhiều dự án đang còn bàn thảo, chƣa ký. Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ vẫn còn nhiều dự án lớn chƣa phê duyệt.
Còn vốn giải ngân. Cam kết vốn năm nay là trên 60 tỷ USD thì giải ngân nhƣ hiện nay khoảng 11-12 tỷ thì chỉ bằng 1/6 thôi. Nhƣ thế là rất thấp, thông thường giải ngân khoảng 30%.
Giải ngân liên quan nhiều đến các dự án đã ký kết. Chỉ với vốn cam kết 60 tỷ của năm nay thì theo tôi cam kết các dự án đó sẽ cho phép đạt đƣợc con số
SV: Đinh Chế Linh <10399.48> 48QD
Trang 91
như thế. Mức giải ngân cao là 50%, bình thường là 30%, nếu tính tỷ lệ 20% thôi cũng đã là 12 tỷ rồi, nếu 30% thì phải là 18 tỷ.
FDI có bị ảnh hưởng nhưng con số 12-13 tỷ USD vốn giải ngân năm 2009 mà Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đƣa ra là có thể đạt đƣợc, thậm chí có thể vƣợt.
Bởi vì những dự án của Việt Nam là dự án có khả năng huy động vốn.
Nếu là dự án vào dệt may, giày dép, ô tô, xe máy… thì khó có khả năng huy động vì khả năng mở rộng sản xuất thấp.
Nhƣng nếu vào BĐS hay sắt thép là những dự án dài hạn, những dự án họ phải chuyển khỏi nước họ, thì do vậy khả năng tiếp tục chuyển đầu tư vào Việt Nam là có. Mà những dự án này chiếm tỷ lệ vốn rất lớn trong tổng vốn đăng ký.
SV: Đinh Chế Linh <10399.48> 48QD
Trang 92