1.2. Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.4. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
1.2.4.2. Quản lý rủi ro tín dụng trong phân loại và đánh giá khách hàng
Đây chính là nội dung quản lý RRTD quan trọng nhất của các NHTM hiện nay. Một cơ chế hoạt động quan trọng của ngành NH chính là cơ chế sàng lọc, qua đó lựa chọn dự án tốt nhất để cho vay.Việc phân loại khách hàng thường được thực hiện thông qua các mô hình đánh giá RRTD. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình phản ánh về mặt định lượng và các mô hình phản ánh về mặt định tính.
Mô hình định tính về RRTD
Để tìm hiểu và phân tích về người đi vay, cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của người xin vay là: Character (tư cách), Capacity (năng lực), Cash( thu nhập), Collaterat (bảo đảm), Conditions (điều kiện), Controls (kiểm soát). Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tót thì khoản vay mới đựoc xem là khả thi.
Tư cách người vay:Cán bộ tín dụng phải tin chắc rằng người xin vay phải có mục đích rõ ràng và có thiện chí khi đến hạn trả nợ, ngoài ra phải xem xet mục đích xin vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của NH hay không. Thậm chí cho dù mục đích xin vay tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xét xem người vay có thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay hay không, có trả lời các câu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ vay khi đến hạn. Tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay gọi chung là tư các người vay.
Năng lực của người vay:cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Tương tự cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty klý kết hợp đồng tín dụng phải là người uỷ quyền hợp pháp của công ty.
Trươìng hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh, thì cán bộ tín dụng phải biết được thoả thuận đối tác kinh doanh để xác đinh xem ai là người có được uỷ quyền ký kết hợp đồng tín dụngcho công ty. Một hoẹp đồng tín dụng được ký kết bởi người không dược uỷ quyền sẽ không thu hồi đựoc nợ, tiềm ẩn rủi ro cho NH.
Thu nhập của người vay: Người vay có ba khả năng để tạo ra tiền là: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhạp, bán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn. Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho NH. Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này này đều có thể dùng để trả nợ cho NH. Tuy nhiên NH ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhấtvà coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ ngân hàng.Nguyên nhân do: việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay trở nên yếu hơn, khiến cho NH là chủ nợ ít được bảo đảm.
Bảo đảm tiền vay:Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng phải tự hỏi người vay có sở hữu một giá trị nào hay tài sản có chất lượng để hỗ trợ cho khoản vay. Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đén những yếu tố nhạy cảm như: tuổi thọ, điều kiện, mức độ chuyên dụng của tài sản người vay. Khía cạnh công nghệ cũng phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lac hậu thì giá trị giảm rát nhiều và khó tìm được người mua trong trừơng hợp người vay không trả được nợ.
Các điều kiện: Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt đông kinh doanh của khách hàng. Hầu hết các NH đều duy trì các files dữ liệu thông tin bao gồm các dữ liệu cần quan tâm
Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của NH và nhà quản lý về chất lượng tín dụng hay không?
Các chỉ tiêu 6C đã giúp cán bộ tín dụng và phân tích trong việc trả lời một câu hỏi tổng quát: người vay có đủ tư cách? Khi câu hỏi này được trả lời thì thì câu hỏi tiếp theo sẽ là hợp đồng tín dụng sẽ được ký kết đúng đắn và hợp lệ, đáp ứng được yêu cầu của người vay của NH?
Cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm và làm thoả mãn yêu cầu đồng thời của hai đối tượng là người vay và chủ nợ của NH (bao gồm những người gửi tiền và những người chủ sở hữu). Điều này đòi hỏi là trước hết nội dung hợp đồng tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của người vay theo một kế hoạch trả nợ thuận lợi. Tạo điều kiện thuận lợi để người vay có khả năng xử lý các nghĩa vụ trả nợ, bởi vì sự thành đạt của NH phụ thuộc vào sự thành công của khách hàng. Ngoài ra cán bộ tín dụng phải có khả năng cố vấn tài chính cho khách hàng đồng thời cố vấn khách hàng hoàn thành đơn xin vay.
Một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ quyền lợi của NH bằng cách quy định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt đọng này đe doạ khả năng thu hồi vốn vay của NH. Quá trình cưỡng chế thu hồi nợ vay (khi nào và ở đâu NH sẽ hành động cưỡng chế thu hồi nợ vay) cũng phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng tín dụng.
Trong khi những công ty lớn và các khách hàng khác có hệ số tín nhiêm cao không cần có bảo đảm tín dụng. Những khách hàng còn lại thường được yêu cầu có biệ pháp bảo đảm tín dụng như cầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh trả nợ của người thứ ba. Việc NH nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích: thứ nhất: nếu người vay không trả nợ theo quy định, thì NH có quyền bán tài sản cầm cố hay thế chấp để thu hồi nợ; thứ hai: nhận bảo đảm
tín dụng tạo cơ sở thuận lợi cho NH lợi thế về tâm lý cho người vay. Bởi vì một tài sản đã là một vạt đặt cọc buộc người vay phải có trách nhiệm hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khơi phải gán những tài sản của mình. Như vậy câu hỏi quan trọng thứ ba đối với mỗi hợp đồng tín dụng là: NH có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản đảm bảo hay thu nhập của người vay?
Khi nhận bảo đảm tín dụng NH phải xác định rõ ràng và chính xác những tài sản nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được và đồng thời phải chứng minh được bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết được mình là người hợp pháp có quyền sở hữu tài sản nếu như người vay không trả được nợ. Khi đã nhận tài sản thế chấp, NH sẽ có vị trí ưu tiên trong việc nhận gán nợ so với các chủ nợ khác và ngay cả với chủ sở hữu.
Mô hình định lượng về RRTD.
Bên cạnh sử dụng mô hình đinh tính trong quản lý RRTD các nhà quản lý còn sử dụng mô hình định lượng như một công cụ hữu hiệu. Sau đây chúng ta sẽ tiếp cận một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng.
Mô hình điểm số Z (Z –credit scoring model)
Mô hình điểm số Z được hình thành để cho điểm tín dụng đối với các công ty sản xuất của Mỹ và hiên nay có rat nhiều các NH áp dụng. Đại luợng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay phụ thuộc vào:
1- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xi).
2- Tầm quan trọng cuả các chỉ tiêu này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ.
Từ đó, đi đến mô hình cho điểm sau:
Z = 1, 2X1 +1, 4X2 + 3, 3X3 + 0, 6X4 + 1, 0X5 Trong đó:
X1: tỷ số :vốn lưu động ròng/tổng tài sản”
X2: Tỷ số “lợi nhuận giữu lại/tổng tài sản”
X3: tỷ số “lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản”
X4: tỷ số “Thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp, như vậykhi trị số Z thấp hay là một số âm là một căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm nguy cơ vỡ nợ cao.
Theo mô hình này, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1, 81 phải xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao. Căn cứ vào kết luận nà, NH sẽ không cấp tín dụng cho khách hàng này cho đến khi cải thiện điểm số Z lớn hơn 1, 81.
Bên cạnh những ưu điểm, Thì mô hình điểm số tín dụng có những hạn chế sau:
- Mô hình không cho phép phân biệt khách hàng thành hai nhóm “vỡ nợ” và “không vỡ nợ”. Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại từ không trả hay chậm trễ trong trả lãi tiền vay đến việc không trả nợ gốc và tiền lãi nợ vay. Điều này hàm ý, cần có một mô hình cho điểm chính xác hơn, toàn diện nhiều thang điểm để phân loại khách hàng thành nhiều nhóm tương ứng với mức độ vỡ nợ khác nhau.
- Không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến về tầm quan trọng của biến số thời gian, dù là trong ngắn hạn. Tương tự như vậy, các biến số X cũng không phải là bất biến, đặc biệt là khi điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyên thay đổi. Ngoài ra, mô hình cũgn giả thiết rằng các biến số X là hoàn toàn độc lập không phụ thuộc lẫn nhau.
- Đã không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hoá, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức RRTD của khách hàng. VÍ dụ, yếu tố
“danh tiếng” của khách hàng, Yếu tố “mối quan hệ truyền thống” giữa khách hàng và NH, hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doan. Nhìn
chung, các nhân tố này thương không đựoc đề cập đến trong mô hình ghi điểm tín dụng Z.Mặt khác, mô hình cho điểm thường su dụng các phương tiện thông tin đại chúng khác như giá trị thị trường của các tài sản tài chính, …
Mô hình điểm số tín dụng.
Mô hình tính điểm tín dụng tiêu dùng
Ngày nay, nhiều NH sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn xin vay của người tiêu dùng. Thực tế, nhiều tổ chức thẻ tín dụng đã sử dụng mô hình điểm số để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng, những ngân hàng cũng sử dụng mô hình này để đán giá những khoản tín dụng như mua sắm xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất đọng sảm và kinh doanh nhỏ.
Nhiều khách gàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khgi đưa ra những yêu cầu tín dụng của họ được xử lý bẵng hệ thống cho điểm tự động. Thông thường, khách hàng có thể gọi điện thoại đến NH để liên hệ xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng, trên cơ sở dữ liệu của khách hàng, trong vòng vài phút NH có thể thông báo kết quả tín dụng cho khách hàng.
Các yếu tố quan trọng iên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ huộc, sở hữu nhà thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài tài khoản nhân, thời gian công tác.
Mô hình cho điểm tín dụng thường sử dụng 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục cho điểm từ 1 đến 10. Ví dụ, bảng dưới đây cho thấy những hạng mục và điểm của chúng thường được sử dụng ở các NH Mỹ.
Bảng 1.1: Bảng tính điểm đối với khách hàng cá nhân
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm số 1 Nghề nghiệp của người vay
Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh Công nhân có kinh nghiệm
Nhân viên văn phòng Sinh viên
Công nhân không có kinh nghiệm Công nhân bán thất nghiệp
10 8 7 5 4 2 2 Trạng thái nhà ở
Nhà riêng
Nhà thuể hay căn hộ
Sống cùng người thân, bạn bè
6 4 2 3 Xếp hạng tín dụng
Tốt
Trung bình Không có hồ sơ Kém
10 5 2 0 4 Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn 1 năm Từ một năm trở xuống
5 2 5 Thời gian sống ở địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn 1 năm Một năm trở xuống
2 1 6 Điện thoại cố định
Có Không
2 0 7 Số người sống cùng
Không Một Hai Ba
Nhiều hơn ba
3 3 4 4 2 8 Các tài khoản tại NH
Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành sec Tài khoản tiết kiệm
Tài khoản phát hành sec Không
4 3 2 0
Khách hàng có điểm cao nhất theo mô hình với 8 hạng mục nêu trên là 43 điểm thấp nhất là 9 điểm. Giả sử NH biét rằng, mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tót và khách hàng có tín dụng xấu; trên cơ sở đó, Nh hình thành một khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số như sau:
Bảng 1.2: Bảng tổng hợp điểm khách hàng Tổng số điểm của khách hàng Quyết đinh tín dụng Từ 28 điểm trở xuống
Từ 29 điểm đến 31 điểm Từ 31 điểm đến 33 điểm Từ 34 điểm đến 36 điểm Từ 37 điểm đến 38 điểm Từ 39 điểm đến 40 điểm Từ 41 điểm đến 43 điểm
Từ chối tín dụng Cho vay đén 500$
Cho vay đến 1000$
Cho vay đến 2500$
Cho vay đến 3500$
Cho vay đến 5000$
Cho vay đến 8000$
Như vậy mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của NH. Tuy nhiên mô hình này cũng có một số nhược điểm như đã không thể điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế và những thay đổi của cuộc sống gia đình. Mô hình điểm số không linh hoạt có thể đe doạ đến chương trình tín dụng của NH, bỏ sót những những khách hàng lành mạnh làm giảm lòng tin của cộng đồng đối với dịch vụ của NH.
Mô hình tính điểm đối với các doanh nghiệp
Đối với hầu hết các NH đối tương khách hàng là các daonh nghiệp chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Do đó việc xây dựng một hệ thống chấm điểm tín dụng đối với đối tương khách hàng này là vô cùng quan trọng. Có một mô hình tính điểm hiệu quả sẽ là cơ sỏ để đưa ra các quyết định phòng nhừa rủi ro tín dụng rất hiệu quả.
Bảng 1.3: Bảng tính điểm đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các chỉ tiêu Điểm Các chỉ tiêu Điểm
1. Số năm hoạt động SXKD - Trên 31 năm
- Từ 21 đến 31 năm - Từ 13 đên 21 năm - Từ 9 đến 13 năm - Từ 6 đến 9 năm - Từ 3 đến 5 năm - Từ 0 đến 3 năm
30 28 24 20 15 10 0
5. Uy tín của khách hàng - Giao dịch tốt trong 2 năm trước liền kề
- Đôi khi trễ hạn trả nợ - Giao dịch tốt trên 6 tháng nhưng chưa tới 2 năm
- Khách hàng mới dưới 6 tháng
- Thường trả nợ trễ hạn
20 16 14
10 0 2. Quy mô tài sản
- Trên 60 tỷ đồng - Từ 30 đến 60 tỷ đồng - Từ 20 đến 30 tỷ đồng - Từ 10 đến 20 tỷ đồng - Từ 7 đến 10 tỷ đồng - Từ 4 đến 7 tỷ đồng - Dưới 4 tỷ đồng
12 10 8 6 4 2 0
6. Lãnh đạo ổn định - Rất ổn định
- Có một vào thay đổi trong 5 năm qua (hoạc một vài năm tới)
- Có sự thay đổi lãnh đạo liên tục trong 2 năm qua hoạc 2 năm tới mà người kế tục không rõ
14 8
0
- Quan hệ giao dịch giữa cá nhân chủ doanh nghiệp và ngân hàng.
- Có vay thế chấp, gửi tiền mua kỳ phiếu NH
- Có giao dịch không đáng kể
14 7
7. Chỉ tiêu thanh khoản (Lãi gộp+TM+TGNH)/Nợ ngắn hạn
- Trên 2
- Từ 1, 4 đến 2 - Từ 0, 85 đến 1, 4
12 10 8
- Không có giao dịch 0 - Từ 0, 5 đến 0, 85 - Từ 0, 25 đến 0, 5 - Từ 0 đến 0, 25 - Dưới 0
6 4 2 0 4. Kinh nghiệm tổ chức quản lý
của chủ sở hữu.
- Trên 31 năm - Từ 21 đến 31 năm - Từ 13 đến 21 năm - Từ 9 đén 13 năm - Từ 6 đến 9 năm - Từ 3 đến 5 năm - Từ 0 đến 3 năm
30 28 24 17 10 5 0
8.Tiềm năng lâu dài của DN
- Tốt
- Thuận lợi - Ổn định - Hơi bất ổn - Không an toàn
20 16 12 8 0
Bảng 1.4: Bảng xếp loại khách hàng
Tổng số điểm Xếp loại Tỷ lệ % nợ quá hạn trong vòng một năm Trên 120 điểm
Từ 91 đến 120 điểm Từ 75 đến 91 điểm Dưới 75 điểm
1 2 3 4
1.5% - 2.25%
2.25% - 3.5%
3.5% - 5%
Trên 5 %