Chơng II Thực trạng tín dụng và rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam
II. Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Sở
3. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch
Qua phân tích số liệu về tình hình tín dụng tại Sở giao dịch có thể thấy, tín dụng tăng trởng khá tốt qua các năm. Tốc độ tăng trởng tín dụng cao và cơ cấu tín dụng cũng ngày càng hợp lý hơn. Tuy nhiên, để đánh giá tình hình tăng trởng
tín dụng có thực sự tốt, chất lợng tín dụng có thực sự cao thì cần phải xem xét
đến mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của Sở.
Việc phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại Sở chủ yếu dựa trên chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và đợc xem xét trên ba tiêu thức đó là nợ quá hạn theo loại cho vay, nợ quá hạn theo thời gian quá hạn và nợ quá hạn theo khả năng thu hồi.
3.1. Nợ quá hạn theo loại cho vay:
Tỷ lệ nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức
độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thơng mại. Với đặc thù của Sở giao dịch là một Hội sở chính của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam, luôn có mức d nợ tín dụng hàng năm rất cao, hơn nhiều lần so với các ngân hàng khác trong cùng địa bàn, chính vì thế việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng đối với Sở là một điều rất quan trọng nhằm mục tiêu không ngừng nâng cao chất lợng tín dụng.
Việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng đối với loại cho vay góp phần giúp Sở giao dịch có cái nhìn khách quan hơn đối với từng loại hình cho vay từ đó có thể nhận xét về chất lợng tín dụng của từng loại cho vay dẫn đến điều chỉnh cơ cấu cho hợp lý.
Bảng 8 cho ta thấy tình hình nợ quá hạn theo loại cho vay tại Sở giao dịch:
Bảng 8: Tình hình nợ quá hạn theo loại cho vay: Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
N¨m 1999 N¨m 2000 N¨m 2001
So sánh % (00/99)
So sánh % (01/00) NQH % trên
D nợ NQH % trên
D nợ NQH % trên D nợ
Ngắn hạn 847 0,15 1.595 0,17 2.621 0,2 188,31 164,33
Trung dài hạn
TM 11.212 2,05 13.212 1,82 11.040 0,61 117,84 83,56
Trung dài hạn
theo KHNN 14.599 0,68 13.696 0,55 13.755 1,34 93,81 100,43 Tài trợ, uỷ thác,
cho vay khác 3.787 0,92 4811 1.35 7.061 1,82 127,04 146,77 Tổng 30.445 0,75 33.314 0,68 34.477 0,66 109,42 103,49
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh Qua bảng 8 ta thấy, d nợ quá hạn tại Sở giao dịch có tăng dần qua các năm.
Năm 1999, tổng d nợ quá hạn là 30.455 triệu đồng chiếm 0,75% trên tổng d nợ.
Có thể thấy, tỷ lệ nợ quá hạn này là thấp so với các ngân hàng khác điều này chứng tỏ công tác quản lý rủi ro tại Sở đã đợc thực hiện tốt. Sang năm 2000, tổng d nợ quá hạn là 33.314 triệu đồng, đạt tỷ lệ 0,68% trên tổng d nợ. Nh vậy ta có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn trong năm 2000 đã giảm hơn so với trong năm 1999 tuy nhiên việc giảm này là do tổng d nợ của Sở tăng nhanh trong năm 2000. Thực chất số nợ quá hạn tại Sở trong năm 2000 vẫn tăng nhẹ so với năm 1999, lợng tăng là 2.869 triệu đồng tơng ứng với 9,42%.
Năm 2001, do làm tốt các công tác bảo đảm an toàn tín dụng nên d nợ quá
hạn tại Sở đã đợc duy trì ở mức 34.477 triệu đồng, chỉ tăng 1.163 triệu đồng so với năm 2000 tơng ứng với 3,49%. D nợ quá hạn trong năm này chiếm 0,66%
trên tổng d nợ. Đạt đợc kết quả này là do trong năm 2001 Sở giao dịch đã cố gắng và tích cực thu nợ đến hạn, đặc biệt là với các dự án gặp khó khăn hoặc có dấu hiệu khó khăn, áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt để có thể thu nợ, cố gắng không để phát sinh thêm nợ quá hạn. Ta có thể thấy tuy tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm
đi nhiều nhng chủ yếu là do tổng d nợ tăng lên còn số lợng nợ quá hạn thì vẫn tăng lên hàng năm. Chính vì thế, để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, giữ một tỷ lệ nợ quá hạn thấp trong những năm tiếp theo, Sở cần quan tâm hơn
đến chất lợng tín dụng.
Đối với tín dụng ngắn hạn, số d nợ quá hạn vẫn tăng cả về số tơng đối và tuyệt đối. Năm 1999, d nợ quá hạn ngắn hạn là 847 triệu đồng chiếm 0,15% d nợ ngắn hạn. Đến năm 2000, số nợ quá hạn ngắn hạn đã là 1.595 triệu đồng, tăng hơn so với năm 1999 là 748 triệu đồng tơng ứng với 88,31%. Năm 2001, số d nợ quá hạn ngắn hạn là 2.621 triệu đồng tăng 1.026 triệu đồng so với năm 2000 t-
ơng ứng với tỷ lệ tăng là 64,33%. Chiếm 0,2% tổng d nợ ngắn hạn. Điều này cho thấy, cùng với việc mở rộng cho vay ngắn hạn, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn trên tổng d nợ thì tình hình nợ quá hạn ngắn hạn cũng tăng theo. Đây là điều mà Sở giao dịch phải cân nhắc khi mở rộng tín dụng ngắn hạn.
Số d nợ tín dụng trung và dài hạn thơng mại năm 2000 tăng 2.000 triệu đồng tơng ứng 17,84% so với năm 1999 trong khi d nợ lại tăng 32,72% nên tỷ lệ nợ quá hạn giảm xuống còn 1,82% (năm 1999 là 2,05%). Sang năm 2001, d nợ quá
hạn trung và dài hạn thơng mại đã giảm xuống còn 11.040 triệu đồng, mặt khác, do d nợ tăng lên nhanh chóng, đạt 249,72% so với năm 2000, nên tỷ lệ nợ quá
hạn đối với tín dụng trung và dài hạn thơng mại đã giảm xuống đáng kể chỉ còn 0,61% d nợ. Có thể thấy rõ, với chủ trơng mở rộng tín dụng trung dài hạn thơng mại để thay thế cho tín dụng trung và dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc ở Sở đã đạt
đợc những kết quả rất đáng khích lệ. Mặc dù d nợ tăng nhanh nhng Sở vẫn đảm bảo đợc chất lợng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đối với loại tín dụng này. Trong t-
ơng lai, khi d nợ tín dụng trung và dài hạn tăng thêm, Sở cần cố gắng thực hiện các biện pháp nhằm duy trì số nợ quá hạn thấp cũng nh tỷ lệ nợ quá hạn thấp, nâng cao chất lợng tín dụng đồng thời giảm thiểu rủi ro.
Số d nợ quá hạn của tín dụng trung và dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc là lớn nhất, chiếm khoảng gần một nửa số nợ quá hạn phát sinh trong cả hai năm 1999 và 2000. Nhng tỷ lệ nợ quá hạn đối với loại tín dụng này lại khá thấp, thấp hơn tín dụng trung dài hạn thơng mại. Điều này là do trong hai năm 1999, 2000 d nợ tín dụng loại này đạt ở mức cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng d nợ tại Sở giao dịch. Đến năm 2001, mặc dù số d nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc chỉ tăng lên rất ít nhng tỷ lệ nợ quá hạn lại tăng cao điều này là do d nợ của loại tín dụng này trong năm 2001 đã giảm đi hơn một nửa so với năm 2000 (chỉ còn bằng 41,24% so với năm 2000). Nh vậy, có thể thấy với xu h- ớng giảm đi của tín dụng trung dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc, Sở giao dịch cần phải chú trọng hơn tới việc thu nợ để góp phần làm giảm số d nợ quá hạn cũng nh tỷ lệ nợ quá hạn của loại tín dụng này nhằm làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn chung.
Nh vậy, qua phân tích tình hình nợ quá hạn theo loại cho vay tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam có thể thấy, tỷ lệ nợ quá hạn giảm đi
qua các năm. Tuy nhiên, tốc độ giảm còn cha cao, cha tơng xứng với tốc độ tăng trởng tín dụng chính vì thế, số d nợ quá hạn hàng năm vẫn tăng. Trong giai đoạn tới, Sở giao dịch cần chú trọng hơn đến công tác bảo đảm an toàn tín dụng đối với tín dụng ngắn hạn và làm tốt công tác thu nợ đối với tín dụng trung và dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc. Đồng thời, trong nghiệp vụ tín dụng cần chú trọng thực hiện tốt quy trình tín dụng, đánh giá khách hàng trớc khi cho vay nhằm ngăn chặn rủi ro có thể xảy đến trong giai đoạn xét duyệt. Đối với các khoản cho vay xấu, đã phát sinh nợ quá hạn thậm chí trở thành nợ khó đòi thì Sở giao dịch cần tích cực thực hiện các biện pháp thu nợ, giãn nợ, khoanh nợ nhằm giảm số nợ quá hạn cũng nh tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng d nợ.
3.2. Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế:
Việc phân tích cơ cấu nợ quá hạn theo thành phần kinh tế giúp cho ngân hàng có đợc cái nhìn tổng quát hơn về tình hình cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh cũng nh ngoài quốc doanh. Qua đó ngân hàng có thể đa ra đợc những nhận xét về tính rủi ro khi cho vay đối với từng khu vực, đồng thời có biện pháp nhằm hạn chế rủi ro. Trong những năm gần đây, cơ cấu nợ quá hạn theo thành phần kinh tế tại Sở giao dịch nghiêng hẳn về khu vực kinh tế quốc doanh. Nợ quá
hạn của khu vực này chiếm tới trên 95% tổng số nợ quá hạn. Thực trạng này đợc thể hiện qua kết quả tại bảng 9:
Bảng 9: Tình hình nợ quá hạn theo thành phần kinh tế Đơn vị: Triệu đồng
N¨m 1999 N¨m 2000 N¨m 2001
NQH
Tỷ trọng (%)
%/D
nợ NQH
Tỷ trọng (%)
%/D
nợ NQH
Tỷ trọng (%)
%/D nợ KTQD 29.633 97,33 0,7732.124 96,43 0,6934.477 100,00 0,70
KTNQD 812 2,67 0,40 1.190 3,57 0,45 0 0 0,00
Tổng 30.445 100,0 0,7533.314 100,00 0,6834.477 100,00 0,66 Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh Bảng 9 cho ta thấy, từ năm 1999 đến năm 2001, tỷ trọng nợ quá hạn của khu vực kinh tế quốc doanh luôn chiếm tới trên 95% tổng số nợ quá hạn.
Năm 1999, số nợ quá hạn của khu vực kinh tế quốc doanh là 29.633 triệu
đồng chiếm tới 97,33% tổng số nợ quá hạn tại Sở giao dịch. Trong khi đó, đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh con số này chỉ có 812 triệu đồng chiếm tỷ trọng là 2,67%. Xét về mặt tỷ trọng thì có thể thấy nợ quá hạn của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm hầu hết số nợ quá hạn của Sở giao dịch tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn đối với khu vực này chỉ là 0,77%.
Năm 2000, cùng với sự tăng trởng tín dụng, số nợ quá hạn của các doanh nghiệp quốc doanh cũng tăng lên 2.491 triệu đồng đạt 32.124 triệu đồng chiếm 96,43% tổng nợ quá hạn. Số nợ quá hạn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng tăng lên 378 triệu đồng đạt 1.190 triệu đồng chiếm 3,57% tổng nợ quá hạn.
Sang năm 2001, số nợ quá hạn của khu vực kinh tế quốc doanh tính đến thời
điểm 31/12/2001 là 34.477 triệu đồng chiếm 100% tổng số nợ quá hạn tại Sở giao dịch. Nh vậy, đến cuối năm 2001 thì toàn bộ số nợ quá hạn tại Sở giao dịch là nợ quá hạn xuất phát từ các doanh nghiệp quốc doanh. Có thể thấy rằng phần
lớn số nợ quá hạn này là do tồn đọng từ những năm trớc cộng thêm một số mới phát sinh trong năm.
Để khắc phục tình trạng này trong thời gian tới Sở cần có những biện pháp tốt hơn trong việc xử lý những khoản nợ quá hạn còn tồn đọng, nợ khó đòi theo tinh thần chỉ thị 3370 ngày 30/11/2001 của Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam. Thực hiện từng bớc theo lộ trình xử lý nợ của Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam.
Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, đến 31/12/2001 không phát sinh nợ quá hạn. Có thể trong năm 2001 khu vực này có phát sinh nợ quá hạn nhng đã
đợc Sở giao dịch thực hiện thu ngay trong năm nên đến cuối năm không có nợ quá hạn. Đạt đợc kết quả này là do Sở đã thực hiện tốt công tác thẩm định, đánh giá khách hàng trớc khi cho vay nên hầu hết các dự án của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều có hiệu quả, trả đợc nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó cũng phải kể đến việc thực hiện tốt công tác thu nợ, khiến cho số nợ quá hạn phát sinh
đợc thu hết trong năm.
Những kết quả này cho thấy việc mở rộng kinh doanh đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là rất cần thiết, có ít rủi ro nếu nh Sở thực hiện tốt các công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
3.3. Nợ quá hạn theo khả năng thu hồi:
Việc xem xét nợ quá hạn theo khả năng thu hồi sẽ giúp xác định đợc mức độ rủi ro đối với các khoản nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng d nợ càng lớn thì khả năng mất vốn của ngân hàng sẽ càng cao.
Cơ sở để đánh giá các khoản nợ khó đòi tại Sở giao dịch đợc xác định nh sau:
- Khoản nợ mà khách hàng cố ý lừa đảo.
- Các khoản d nợ vay ảnh hởng trực tiếp bởi thiên tai, lũ lụt, mất mùa, dịch bệnh dẫn đến khó khăn không trả đợc nợ vay ngân hàng.
- D nợ vay của khách hàng đã có quyết định tuyên bố phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động.
- Các khoản vay của t nhân, cá thể đã chết không còn khả năng trả nợ, không còn ngời thừa kế theo quy định.
- Khoản vay không phát huy đợc hiệu quả đầu t, kinh doanh thua lỗ triền miên không đợc ngân sách cấp bù lỗ.
- Các khoản vay mà sau khi phát mại tài sản vẫn không đủ trả nợ, ngời vay hết tài sản hoặc đã bị đi tù.
Tại Sở giao dịch, nợ khó đòi bao gồm:
- Số nợ vay đã quá hạn trả trên 360 ngày.
- Các khoản nợ đợc đánh giá là khó thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi. Bao gồm cả số d nợ của các khoản vay còn trong hạn, quá hạn nhng có đủ cơ sở để Sở giao dịch đánh giá là khó thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi.
Tình hình nợ quá hạn theo khả năng thu hồi tại Sở giao dịch trong những năm vừa qua là rất xấu. Nợ khó đòi luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số nợ quá hạn. Bảng 10 cho thấy rõ điều này.
Bảng 10: Tình hình nợ quá hạn theo khả năng thu hồi. Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
N¨m 1999 N¨m 2000 N¨m 2001
D nợ Tỷ trọng
(%) D nợ Tỷ trọng
(%) () % D nợ Tỷ trọng
(%) () %
NQH thông thờng 7.818 25,68 6.330 19,00 -19,03 8.619 25,00 +36,16 + Ngắn hạn 847 2,78 1.019 3,06 +20,31 1.558 4,52 +52,89
+ TDH TM 3.184 10,46 500 1,50 -84,30 0 0 ---
+ TDH theo KHNN 0 0 0 0 --- 0 0 ---
+ ODA 3.787 12,44 4.811 14,44 +27,04 7.061 20,48 +46,77 Nợ khó đòi 22.627 74,32 26.984 81,00 +19,25 25.858 75,00 -4,17
+ Ngắn hạn 0 0 576 1,73 --- 1.063 3,08 +84,55
+ TDH TM 8.028 26,37 12.712 38,16 +58,35 11.040 32,02 -13,15 + TDH theo KHNN 14.599 47,95 13.696 41,11 -6,19 13.755 39,90 +0,43
+ ODA 0 0 0 0 --- 0 0 ---
Tổng cộng 30.445 100,00 33.314 100,00 +9,42 34.477 100,00 +3,49
Nợ khó đòi/D nợ 0,56 0,55 0.5
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh Kết quả tại bảng 10 cho thấy một thực trạng là trong cả ba năm từ 1999 đến 2001, nợ khó đòi luôn chiếm một tỷ trọng tơng đối lớn (khoảng trên 75%) trong tổng số nợ quá hạn tại Sở giao dịch. Phần lớn các khoản nợ quá hạn tại Sở là khó thu hồi hoặc không có khả năng thu hồi. Điều này là do hầu hết số nợ quá hạn của tín dụng trung dài hạn thơng mại và trung dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc
đều trở thành nợ khó đòi. Nh vậy, trong ba năm qua, về cơ bản các khoản nợ khó
đòi tồn đọng nhiều năm vẫn cha có giải pháp xử lý nhất là cho vay theo kế hoạch Nhà nớc. Điều này mang lại nhiều rủi ro cho Sở giao dịch.
Trong năm 2000, nợ quá hạn thông thờng tại Sở giao dịch giảm 1.488 triệu
đồng và còn chiếm 19% tổng d nợ quá hạn, trong khi nợ khó đòi lại tăng lên 4.357 triệu đồng chiếm 81% tổng d nợ quá hạn. Nguyên nhân của vấn đề này là do các khoản nợ quá hạn từ năm 1999, Sở giao dịch cha thu đợc và sang năm 2000 thì trở thành nợ khó đòi. Đồng thời, trong năm 2000 có một số khoản nợ quá hạn mới phát sinh nhng có dấu hiệu chứng tỏ là nợ khó đòi. Trong số các khoản nợ khó đòi này, chủ yếu là các khoản nợ khó đòi do doanh nghiệp bị giải thể, ngừng hoạt động, dự án kém hiệu quả.
Sang năm 2001, tỷ trọng nợ khó đòi đã chuyển biến theo hớng tích cực. Tỷ trọng nợ khó đòi đã giảm xuống còn 75% trên tổng d nợ quá hạn. Điều này cho thấy sự cố gắng lớn của Sở giao dịch trong việc giảm tỷ lệ nợ khó đòi phát sinh trong năm. Giảm đợc tỷ lệ nợ khó đòi trong khi tổng d nợ quá hạn chỉ tăng lên
rất ít là một dấu hiệu đáng mừng cho thấy mức độ rủi ro của các khoản nợ quá
hạn có giảm đi. So với năm 2000, số nợ quá hạn đã giảm đi cả về số tuyệt đối và tỷ trọng. Có đợc kết quả này là do trong năm 2001, Sở giao dịch đã chú trọng công tác thu nợ, tập trung xử lý các khoản nợ có vấn đề, nợ khó đòi, áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt để có thể thu đợc các khoản nợ tồn đọng năm cũ chuyển sang. Tuy nhiên nợ khó đòi đối với tín dụng trung dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn, các khoản nợ khó đòi đối với tín dụng trung dài hạn theo KHNN vẫn cha có giải pháp xử lý dứt điểm. Hiện nay, Sở giao dịch đang phối hợp với các doanh nghiệp và cơ quan chức năng để giải quyết khoản nợ tồn đọng của công ty chế biến lâm sản Trung Văn, công ty Đất Việt, công ty XNK Thanh niên, và đã
làm việc với các doanh nghiệp để trả dần các khoản nợ khó đòi.
Nh vậy, có thể thấy, Sở giao dịch đã rất cố gắng dùng nhiều biện pháp để giảm tỷ lệ nợ quá hạn nói chung cũng nh tỷ lệ nợ khó đòi nói riêng nhằm hạn chế tối đa mức độ rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, tỷ trọng nợ khó đòi trong tổng d nợ quá hạn vẫn còn rất cao (trên 75%), đồng thời các khoản nợ khó đòi đối với tín dụng trung - dài hạn vẫn cha có biện pháp xử lý dứt điểm. Chính vì thế đây là
điều mà Ban lãnh đạo cũng nh cán bộ tín dụng tại Sở cần quan tâm xem xét để khắc phục trong những năm tới. Với tỷ lệ nợ khó đòi cao nói lên mức độ rủi ro tiềm ẩn của các khoản tín dụng, Sở giao dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu nợ, xử lý các khoản nợ khó đòi này. Đối với nợ quá hạn thông thờng, các biện pháp xử lý, thu hồi thờng không quá khó khăn và tỷ lệ thu hồi đợc nợ là cao. Còn đối với nợ khó đòi thì cần phải có biện pháp kiên quyết tận thu nhằm làm giảm rủi ro trong hoạt động tín dụng.