Thực trạng các hình thức thanhtoán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội

Một phần của tài liệu Nâng cao hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội.doc (Trang 56 - 65)

3. Kết quả đạt được trong hoạt động năm 2007

4.1. Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội

4.3.2. Thực trạng các hình thức thanhtoán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội

Trong những năm gần đây quán triện các nghị quyết Thông tư của Chính phủ cũng như sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội, phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng là một điển hình có nhiều nỗ lực cố gắng, chỉ đạo công tác nghiệp vụ đem lại kết quả khả quan, công tác TTKDTM đã được sử dụng rộng rãi chiếm ưu thế trong thanh toán phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế . Hiện nay, ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội các hình thức TTKDTM được sử dụng là Séc chuyển khoản và Uỷ nhiệm chi.

Mỗi hình thức đều có những mặt ưu, nhược điểm của nó, khách hàng sẽ lựa chọn hình thức nào thấy thuận tiện nhất và mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất cho mình. Trong thời gian qua, tổng số thanh toán thì TTKDTM có xu hường ngày càng tăng. Để đi sâu vào nghiên cứu phân tích tình hình của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội ta có bảng phân tích sau:

Tình hình TTKDTM tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội năm 2005, 2006, 2007.

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

Bảng 05: Tình hình TTKDTM tại ngân hàng ĐT&PT Việt Nam - chi nhánh Quang Trung - Hà Nội

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Số tiền % Số tiền %

Chênh lệch

06/05 Số tiền %

Chênh lệch 07/06

Số tiền % Số tiền %

1. Séc Séc chuyển

khoản 85 0,0045 54 0,002 -31 -3647 0 -54 -100

2. UNC

chuyển tiền 1.924.412 99,55 2.640.201 99,998 715.789 37,m20 3.032.052 100 391.851 14,84 3. Uỷ nhiệm

thu 4. Thư T.D 5. Thẻ thanh toán

6. Tổng

TTKDTM 1.924.497 100 2.640.255 100 715.758 37,20 3.032.052 100 391.797 14,83

(Nguồn: Báo cáo tình hình TTKDTM của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Quang Trung)

Bảng 06: Tình hình áp dụng các hình thức thanh toán

Đơn vị: Triệu đồng

Hình thức thanh toán

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Số món Số tiền Số món Số tiền Số món Số tiền

Món Tỷ

trọng

%

Số tiền Tỷ trọng

%

Món Tỷ

trọng

%

Số tiền

Tỷ trọng

%

Món Tỷ

trọng

%

Số tiền Tỷ trọng

%

1. Séc 2 0,02 85 0,01 1 0,01 54 0,01

Séc chuyển khoản 2. UNC chuyển

tiền 11.858 99,98 1.924.412 99,99 11.140 99,99 2.640.240 99,99 13.066 100 3.032.052 100

3. Uỷ nhiệm thu 4. Thư T.D 5. Thẻ thanh toán

6. Tổng TTKDTM 11.860 100 1.924.497 100 11.141 100 2.640.255 100 13.066 100 3.032.052 100

(Nguồn: Báo cáo tình hình TTKDTM của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Quang Trung) Qua số liệu của bảng (05,06) ta thấy rõ tổng doanh số TTKDTM thì thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi chiếm tỷ trọng cao nhất và được sử dụng phổ biến nhất cả về soanh số lẫn số món thanh toán.

Trong đó doanh số thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi tăng đều hàng năm và đến năm 2004 doanh số TTKDTM đều dùng bằng hình thức uỷ nhiệm chi. Qua khảo sát thực tế tại ngân hàng đã chứng tỏ rằng khách hàng rất ưa sử dụng hình thức thanh toán này. Sở dĩ có như vậy là do hình thức uỷ nhiệm chi có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các hình thức khác. Mặt khác còn phụ thuộc vào trình độ tín nhiệm lẫn nhau của các khách hàng. Tình trạng trang thiết bị kỹ thuật thanh toán của ngân hàng và do một phần thói quen sử dụng các hình thức truyền thống của khách hàng.

Qua bảng trên ta cũng thấy rằng tình hình thanh toán bằng sét tuy không chiếm tỷ trọng cao nhưng Séc cũng đã khẳng định được vị trí của mình trong

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

tổng doanh số TTKDTM với vị trí đứng thứ hai về doanh số thanh toán chỉ đứng sau thể thức Uỷ nhiệm chi. Còn riêng với Thẻ thanh toán thì Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội mới bắt đầu đưa vào sử dụng từ cuối tháng 12/2005. Vì vậy, để có thể đưa ra những nhận xét mang tính khái quát và chính xác ta tiến hành khảo sát quan bảng theo dõi tình hình TTKDTM của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội trong 3 năm 2005, 2006, 2007. Tình hình thanh toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội được đánh giá thông qua việc xem xét cụ thể từng hình thức thanh toán.

4.3.2.1. Thực trạng sử dụng Uỷ nhiệm chi

Qua bảng phân tích ta thấy rằng uỷ nhiệm chi là phương thức thanh toán phổ biến và có mức doanh số cao nhất. Trung bình tỷ trọng thanh toán bằng uỷ nhiệm chi chiếm tới 99% trong tổng số thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là tỷ trọng rất cao so với các phương thức thanh toán khác.

Nếu xét theo số món thì tỷ trọng của số món UNC trong tổng số món thanh toán không dùng tiền mặt, tỷ trong này năm 2005 là 99,98%, doanh số đạt được 1.924.412 triệu đứng đầu doanh số của ngân hàng. Có lẽ vì những ưu điểm của thể thức thanh toán này mà khách hàng rất ưa chuộng, sử dụng nó trong thanh toán, do vậy năm 2006 thanh toán bằng UNC giảm về số mons nhưng doanh số thanh toán lại đạt kết quả cao hơn so với năm 2005. Cụ thể số món UNC đạt được trong năm 2006 là 1.140 món chiếm 99,99% trong tổng số món thanh toán, giảm 2.640.210 triệu đồng với tỷ trọng rất cao so với tổng doanh thô thanh toán khong dùng tiền mặt là 99,99% tăng lên so với năm 2002 là 715.798 triệu đồng.

Bước sang năm 2007 việc sử dụng hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội ngày càng tăng cụ thể: Tổng số TTKDTM năm 2007 là 13.066 món với tổng số tiền là 3.032.052 triệu đồng toàn bộ là bằng hình thức thanh toán UNC chuyển tiền.

Nhìn chúng số món thanh toán bằng UNC có chiều hướng biến động tăng dân hay nói cách khác UNC ngày càng được khách hàng ưa chuộng và sử dụng rộng rãi nguyên nhân chính làm cho UNC được sử dụng rộng rãi một phần do thủ tục thanh toán đơn giản. Khi khách hàng sử dụng thể thức thanh toán UNC thủ tục thanh toán đơn giản. Khi khách hàng sử dụng thể thức thanh toán UNC thì người mua luôn được đảm bảo quyền lợi đặc biệt đối với người mua vì người mua được quyền kiểm soát hàng hoá trước cả về số lượng và chất lượng trước khi trả tiền cho người bán. Ngoài ra quá trình thanh toán nhanh chóng thuận lợi cho cả người bán lẫn người mua. Mặt khác do áp dụng mạng vi tính vào quá trình thanh toán hiện nay làm cho quá trình thanh toán ngày càng trở lên nhanh chóng cho quá trình thanh toán càng ngày trở lên thuận tiện hơn. Chỉ trong 1 đến 2 ngày thậm chí vài giờ kể từ khi người bán nộp UNC vào ngân hàng đã có thể nhập tiền. Đặc biệt là thời gian qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội đã tổ chức nối mạng để thanh toán liên hàng, chuyển tiền đi các tỉnh nhanh chóng, kịp thời chính xác và an toàn.

Trong thời gian vừa qua tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội không có trường hợp nào vi phạm chế độ thể lệ thanh toán đối với hình thức UNC chuyển tiền. Do vậy, hình thức thanh toán này sẽ ngày càng được nhiều người người ưa chuộng và sử dụng.

4.3.2.2. Thực trạng sử dụng Séc

Hiện nay, tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội chỉ sử dụng một loại Séc đó là: Séc chuyển khoản. Như ta đã biết Séc là một trong những phương tiện TTKDTM rất hữu ích, mặc dù Séc đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, song đối với Việt Nam, việc thanh toán bằng Séc được sử dụng rất hạn chế. Tuy nhiên, từ sau NĐ30/CP ban hành quyết định về phát hành và sử dụng Séc và thông tư 07/CP hướng dẫn thi hành NĐ30/CP, một mẫu Séc áp dụng chung cho các pháp nhân và cá nhân. Ngày 10/12/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 159/CP/2003/NHNN về cung ứng và sử dụng Séc thay thế cho nghị 30/CP trước đây, vẫn quy định cho phép các ngân

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

hàng và tổ chức in ấn Séc để cung ứng cho khách hàng của mình nhưng vẫn phải đảm bảo các yếu tố cho tờ Séc đúng theo mẫu quy định chung. Thông tư 05 thay thế cho thông tư số 07. Séc đó có thể được chuyển nhượng. Do vậy, tốc độ thanh toán Séc dần trở thành phổ biến trong các giao dịch thanh toán, phần nào làm tăng khối lượng TTKDTM trong tổng số thanh toán chung của ngân hàng.

Tuy nhiên, qua số liệu bảng phân tích tình hình sử dụng Séc tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội cho thấy doanh số hoạt động của các năm 2005, 2006, 2007 là rất thấp cụ thể:

Trong năm 2005 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội thanh toán bằng Séc chuyển khoản với hai món với tổng số TTKDTM.

Năm 2006 thanh toán bằng Séc chuyển khoản chỉ có 1 món với tổng số tiền là 54 triệu đồng chiếm tỉ trọng 0,002% trong tổng doanh số TTKDTM.

Năm 2007 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội không sử dụng Séc chuyển khoản.

Với những con số trên ta có thể nhận xét rằng tình hình thanh toán bằng Séc chuyển khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội là thấp. Năm 2003 so với năm 2002 thanh toán bằng Séc chuyển khoản có sự giảm sút về số món thanh toán lẫn tỷ trọng thanh toán và có chiều hướng giảm đi qua các năm tổng thanh toán không dùng tiền mặt. Mặc dù việc thanh toán bằng Séc giảm đi nhưng Séc luôn đứng vị trí thứ 2 về doanh số cũng như về số món thanh toán nhưng thực tế mỗi món của Séc chuyển khoản chỉ là số tiền nhỏ các đơn vị chỉ dùng Séc chuyển khoản để trả tiền dịch vụ như: Tiền điện, tiền nước, cước phí bưu điện… còn những món tiền lớn chủ yếu khách hàng thanh toán bằng UNC. Việc phát hành Séc chuyển khoản dễ bị lợi dụng nên phải tuân theo nguyên tắc. Việc phát hành Séc chuyển khoản dễ bị lợi dung nên phải tuân theo nguyên tắc ghi “Nợ” trước cho đơn vị trả tiền và ghi “Có” sau cho đơn vị thụ hưởng. Trong trường hợp bên mua nếu phát hành qua số dư sẽ bị ngân hàng sử phạt theo quy định của Nhà nước. Tuy nhiên trong những năm qua tại

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội chưa xảy ra trường hợp nào Séc phát hành qua số dư hay vi phạm kỷ luật thanh toán .

Qua sự phân tích ở trên ta thấy việc thanh toán bằng Séc chưa được các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và dân cư chấp nhận sử dụng. Nó chưa trở thành công cụ thanh toán phổ biến thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày của dân cư. Vì vậy, năm 2005 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội đã không sử dụng thanh toán bằng Séc chuyển khoản vì khách hàng có mức thu nhập của đại bộ phận người dân thấp. Mặt khách khách hàng có thể lợi dung để phát hành Séc không hoặc phát hành qua số dư chiếm dụng vốn hợp lý.

Như vậy, đẩy mạnh thanh toán Séc trong công tác TTKDTM. Ngân hàng phải có những quy định, giúp cho việc kiểm soát được dễ dàng, đảm bảo an toàn tài sản khâu thanh toán.

* Séc bảo chi

Trong các công cụ thanh toán Séc thì Séc bảo chi có ưu thế và an toàn hơn tất cả các loại Séc khác nhưng trên thực tế trong thời gian qua tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội không được sử dụng do phải lưu ký một số tiền vào tài khoản Séc bảo chi nên thủ tục Séc rườm rà và người phát hành Séc dễ bị ứ đọng vốn, có thể xảy ra tình trạng ký hiệu mật vì do người mua không biết chữ ký của ngân hàng bảo chi Séc…

Qua bảng ch thấy tình hình thanh toán Séc bảo chi tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội chưa được sử dụng bởi vì do phạm vi thanh toán của Séc còn bị bó hẹp. Chỉ đơn cử trong trường hợp thanh toán khác hệ thống, giả sử khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng thu hộ sau đó nộp tờ Séc vào ngân hàng thu hộ nhưng ngân hàng này lại không được tham gia thanh toán bù trừ theo quy định tờ Séc cũng không được thanh toán vì vi phạm thanh toán Séc không đúng, lúc này xử lý rất phức tạp. Vì vậy, chỉ có các đơn vị có tài khoản ở NHNN tham gia thanh toán bù trừ mới thực hiện thanh toán với

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính

nhau bằng Séc được. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền hướng dẫn, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân mở tài khoản vf thực hiện thanh toán Séc qua ngân hàng chưa được ngân hàng quan tâm đúng mực. Mặt khác, họ cảm thấy không yên tam khi nhận Séc vì họ không được đảm bảo một cách chắc chắn là khi nộp Séc vào ngân hàng, họ sẽ được thanh toán theo đúng số tiền ghi trên Séc.

Chính vì lẽ đó đa số ngừoi thụ hưởng thấy rằng trong quan hệ mua bán cung ứng dịch vụ việc nhận tiền mặt sẽ chắc chắn hơn và như vậy làm cho Séc khó đi vào cuộc sống.

Vì vậy để công tác thanh toán bằng Séc bảo chi cũng như Séc chuyển khoản được phát triển nhiều hơn, tốt hơn, ngân hàng cần có biện pháp phù hợp để khuyến khích khách hàng sử dụng Séc được thuận tiện hơn, thu hút được khách hàng, từ đó tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.

4.3.2.3. Thực trạng sử dụng Uỷ nhiệm thu

Hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu thuận tiện đối với các ngành dịch vụ công cộng như thu tiền nước sinh hoạt, tiền điện thắp sáng, tiền cước phí điện thoại…Tuy vậy hình thức uỷ nhiệm thu ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội với sự vận động của tiền tệ, do vậy gây nên tình trạng chiếm dụng vốn và người bán phải chịu thiệt thòi trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, các đơn vị đều chuyển sang hạch toán kinh doanh.

Để đảm bảo lợi ích của mình, bên bán ít chấp nhận thanh toán bằng uỷ nhiệm thu. Mặt khác, hiện nay các khoản thu của các ngành dịch vụ công cộng nói trên vẫn sử dụng vẫn sử dụng tiền mặt để thanh toán là chủ yếu đặc biệt là trong dân cư, bởi dân cư mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng rất ít, mặt khác đơn vị thụ hưởng cũng không biết được cá nhân nào có tài khoản để cùng thoả thuận với khách hàng của mình trả tiền theo hình thức này. Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu không dược sử dụng rộng rãi trong các đơn vị kinh tế, cá nhân có tài khoản tại ngân hàng. Điều đó cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập của ngân hàng.

4.3.2.4. Thực trạng sử dụng Thư tín dụng

Qua số liệu ở bảng (06) ở trên cho ta thấy thể thức thanh toán bằng Thư tín dụng ở ngân hàng ĐT & PT Việt Nam - chi nhánh Quang Trung - Hà Nội dang duoc mo rong manh me Mặt khác Thư tín dụng chỉ được mở đi mua hàng tại đơn vị khác địa phương với số tiền phù hợp với số tiền hàng đã ký kết và chỉ được thanh toán cho một đơn vị thụ hưởng mức phí mở Thư tín dụng lớn, tối thiểu là 10 triệu đồng. Đây cũng là những hạn chế của thể thức thanh toán Thư tín dụng.

4.3.2.5. Thực trạng sử dụng Thẻ thanh toán

Thẻ thanh toán mới được áp dụng ở ngân hàng ĐT&PT Việt Nam - chi nhánh Quang Trung - Hà Nội từ cuối tháng 12 năm 2005 vì vậy, chưa có số liệu cụ thể để phân tích. Tuy nhiên hình thức thanh toán này đã áp dụng ở một số thành phố lớn, và chúng ta không thể phủ nhận được tính ưu việt của nó. Nhưng bên cạnh đó thì thanh toánh bằng Thẻ đòi hỏi cán bộ làm nghiệp vụ thanh toán bằng Thẻ phải có trình độ, hiểu biết và ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời trình độ dân trí ở địa phương phải cao thì mới am hiểu và áp dụng thể thức thanh toán này được. Vấn đề sử dụng Thẻ thanh toán ở Hà Nội nay vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, cần tiếp tục hoàn thiện. Đây là một dịch vụ hoàn toàn tự động và dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến nên phải có cơ sở vật chất khang trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Hiện nay, thị trường Việt Nam chỉ mới có một tỷ lệ rất nhỏ sử dụng Thẻ thanh toánh do vốn đầu tư còn hạn chế nên chưa trang bị được các thiết bị chuyên dùng ở nhiều địa điểm nên việc sử dụng còn hạn hẹp.

4.3.3. Thực trạng hoạt động thanh toán vốn của ĐT&PT Việt Nam -

Một phần của tài liệu Nâng cao hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quang Trung Hà Nội.doc (Trang 56 - 65)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(103 trang)
w