Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10

Một phần của tài liệu Đẩy mạnh xuất khẩu của Công Ty cổ phần May 10 sang thị trường Hoa kỳ.DOC (Trang 25 - 34)

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC

2.1 Khái quát chung về Công ty cổ phần may 10

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty May 10

Cụng ty cổ phần May 10 tiền thõn là cỏc xưởng may quõn trang đặt tại chiến khu Việt Bắc. Cỏc xưởng may ra đời năm 1946 trong những ngày sục sụi khụng khớ toàn quốc khỏng chiến. Vào thời điểm đú, cỏc xưởng may này cú nhiệm vụ sản xuất quõn trang bộ đội trong cụng cuộc khỏng chiến chống thực dõn Phỏp, giải phúng dõn tộc.

Từ những xưởng may nhỏ bộ, với nhà xưởng, thiết bị thụ sơ, trỡnh độ quản lý lạc hậu, sản xuất theo kế hoạch nhà nước giao, đến nay May 10 đó trở thành một trong những doanh nghiệp may mặc hàng đầu Việt Nam. Hiện tại May 10 cú 14 xớ nghiệp thành viờn đặt tại Hà Nội, Hải Phũng, Thỏi Bỡnh, Nam Định, Thanh Hoỏ,Quảng Bỡnh…. Với hơn 8000 lao động, nhà xưởng khang trang, mỏy múc thiết bị hiện đại. Cho đến ngày nay Cụng ty đó trải qua cỏc giai đoạn phat triển:

* Giai đoạn khỏng chiến chống Phỏp (1946-1954) :

Sau cỏch mạng thỏng 8/1945 do nhu cầu quần ỏo, mũ… phục vụ bộ đội hỡnh thành nờn cỏc tổ may. Ngày 19/12/1946 sau lời kờu gọi toàn quốc khỏng chiến của chủ tịch Hồ Chớ Minh cỏc xưởng, cỏc nhà mỏy ở thủ đụ Hà Nội nhất loạt rời lờn nỳi rừng Việt Bắc tổ chức thành hai hệ xưởng sản xuất quõn trang: hệ chủ lực và hệ bỏn cụng xưởng. Gọi là hệ chủ lực vỡ trong cỏc xưởng này thợ may hầu hết là bộ đội và cụng nhõn quốc phũng. Cũn hệ bỏn cụng xưởng là loại xưởng chỉ cú một số ớt thợ thuộc diện cụng nhõn quốc phũng làm nũng CSE cốt cho sản xuất, cũn lại là thợ thuờ từ ngoài vào làm.

Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1949, miền Tõy tỉnh Thanh Hoỏ thuộc liờn khu IV cú xưởng chủ lực Yờn Sinh đúng ở Cầu Vàng, huyện Quỳnh Cụi (Thỏi Bỡnh) thuộc Liờn khu 3 cú cơ sở kộo sợi, dệt vải, may quần ỏo… Năm 1947, nghành Quõn nhu Liờn khu V đó tổ chức 2 xưởng may:

Xưởng May thỏng 8 ở Quảng Ngói cú 105 cụng nhõn do đồng chớ Nguyễn Duy Triờn phụ trỏch, một tổ sửa chữa may khõu và mỏy dệt do đồng chớ Nguyễn Đương phụ trỏch. Năm 1948, Bỡnh trị Thiờn tổ chức 2 xưởng may quõn trang ở Đại Lược (Bắc Thừa Thiờn) và Mỹ (Nam Thừa Thiờn).

Trong những năm 1951 – 1952, Nha Quõn nhu đó tiến hành giải thể cỏc bỏn cụng xưởng may ở Nghệ An, Thanh Hoỏ, Ninh Bỡnh. X30 – nguyờn là xưởng may của Liờn khu III đúng ở Cầu Vàng (Yờn Định – Thanh Hoỏ) và một số cơ sở may khỏc được sỏt nhập vào xưởng may chủ lực X40 (đến năm 1956 xưởng X40 sỏt nhập với xưởng X10).

Tại chiến khu Việt Bắc, ba xưởng May nhỏ AK1, BK1, CK1 Sỏp nhập lại thành xưởng May Hoàng Văn Thụ, sau đú ớt lõu lại đổi tờn thành xưởng May 1 mang bớ số là X1. Trong số cụng nhõn may của xưởng X1 ở Việt Bắc cú một số thợ thuờ ở làng Cổ Nhuế (ngoại thành Hà Nội) tỡnh nguyện bỏ làng theo khỏng chiến. Họ được Nha Quõn Nhu tuyển mộ, tập hợp rồi tổ chức thành nũng cốt của X1. Đến năm 1952, Xưởng X1 ở Việt Bắc được đổi thành Xưởng May 10 với bớ số là X10. Đõy chớnh là tiền thõn của Cụng ty cổ phần May 10 ngày nay.

* Giai đoạn 1954 – 1960:

Năm 1954 khỏng chiến chống thực dõn Phỏp kết thỳc, Xưởng May 10 được lệnh trở về Hà Nội để cú điều kiện sản xuất tập trng hơn. Đồng thời, Cục Quõn nhu cũng quyết định ghộp Xưởng May 40 ở Thanh Hoỏ vào Xưởng May 10. Với việc ghộp hai đơn vị và trở về Thủ Đụ, May 10 đó bước vào một giai đoạn phỏt triển mới cao hơn. Sau một thời gian tỡm hiểu, xó Hội Xỏ thuộc

Nội được chọn làm cơ sở mới của May 10, vỡ nơi đõy đỏp ứng được 2 điều kiện cơ bản:

Thứ nhất, Hội Xỏ là cửa ngừ Thủ Đụ, thuận tiện về giao thụng (sỏt đường quốc lộ số 5 và đường sắt Hà Nội - Hải Phũng, gần sõn bay Gia Lõm).

Thứ hai, Hội Xỏ cú khu đất hoang (trước là bói phỏo của quõn đội Phỏp và Nhật) rộng gần 20 ha, đủ để xõy dựng xớ nghiệp lớn, lại khụng ảnh hưởngđến sản xuất của bà con nụng dõn quanh vựng.

Thỏng 10/1955, Tổng cục hậu cần tiến hành biờn chế cho Xưởng May 10 số lượng 564 cỏn bộ, cụng nhõn viờn. Ngày 26/7/1956, Xưởng May 10 và Xưởng May 40 được hợp nhất.

Cuối quý IV năm 1956, một bộ phận của May 10 được tỏch ra để thành lập Xưởng May 20 chuyờn may đo quần ỏo cỏn bộ trung, cao cấp của quõn đội đúng ở khu vực Hà Nội. Riờng Xưởng May 10 được Tổng cục hậu cần giao nhiệm vụ may sẵn quần ỏo cấp phỏt từ cấp uý trở xuống.

Đến cuối năm 1956 đầu năm 1957, quy mụ Xưởng May 10 được mở rộng, mỏy múc được trang bị nhiều hơn với 253 chiếc mỏy bay, trong đú cú 236 chiếc chạy bằng điện . Nhiệm vụ chủ yếu của Xưởng May 10 vẫn là may quõn trang cho quõn đội. Yờu cầu về số lượng mặt hàng tuy cú nhiều và phức tạp hơn so với thời kỳ khỏng chiến, nhưng với sự cố gắng của toàn bộ cỏn bộ cụng nhõn, Xưởng May 10 đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, sản xuất thờm được nhiều loại hàng quõn trang đỏp ứng nhu cầu của cỏc binh chủng trong quõn đội.

* Giai đoạn từ bao cấp đến làm quen với hạch toỏn kinh tế (1961 -1964):

Nhằm gúp phần thực hiện nhiệm vụ xõy dựng miền Bắc xó hội chủ nghĩa, thỏng 2/1961, xưởng May 10 được chuyển về bộ Cụng nghiệp nhẹ.

Toàn bộ nhà Xưởng, mỏy múc thiết bị và 1092 cỏn bộ cụng nhõn Xưởng May 10 được Tổng cục hậu cần, Cục Quõn nhu bàn giao về đơn vị quản lý mới.

Ngày 20/2/1961, đồng chớ Trần Quớ Hai (Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu Cần) thay mặt Quõn uỷ Trung ương Bộ Quốc phũng tặng “cờ thi đua khỏ nhất

” cho tập thể chiến sĩ Xưởng May 10. Từ thời điểm này, nhiệm vụ của Xớ nghiệp là sản xuất theo kế hoạch của Bộ Cụng nghiệp nhẹ giao. Tuy chuyển đổi cơ quan chủ quản, nhưng hàng năm, Xớ nghiệp May 10 vẫn dành từ 90 – 95% năng lực sản xuất quan trang phục vụ quan đội, 5 – 10% năng lực sản xuất cũn lại cho mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu và dõn dụng.

Trong thời kỳ thuộc quõn đội quản lý, May 10 sản xuất theo chế độ cung cấp, ớt tớnh toỏn chi ly, thiếu thỡ xin thờm, thừa thỡ để lại, vốn hết bao nhiờu cũng được, cú cấp trờn lo, miễn đảm bảo kế hoạch và thời gian giao hàng cho quõn đội. Sau khi chuyển sang Bộ Cụng nghiệp nhẹ, chế độ bao cấp dần được thay thế bằng cơ chế sản xuất kinh doanh cú tớnh toỏn đến hiệu quả kinh tế, phải thực hiện hạch toỏn lỗ, lói rừ ràng. Đõy là sự chuyển đổi khụng hề dễ dàng, vỡ nhiều cỏn bộ, cụng nhõn May 10 đó quen với nếp sản xuất theo cơ chế bao cấp trong nhiều năm liền.

Như vậy là chỉ sau ba năm (từ thỏng 2/1961 đến thỏng 1/1964), kể từ khi chuyển sang bộ Cụng nghiệp nhẹ quản lý, May 10 từ một đơn vị sản xuất theo chế độ bao cấp, cỏch làm ăn vốn theo nếp cũ, đó kịp thớch ứng với cơ chế quản lý mới, sản xuất đó tớnh đến hiệu quả kinh tế: giỏ thành sản phẩm phải rẻ, chất lượng phải tốt. Thời gian đầu Xớ nghiệp gặp khụng ớt khú khăn về tổ chức, nhất là về mặt tư tưởng. nhưng chớnh truyền thống xõy dựng và trưởng thành trong khỏng chiến của tập thể cỏn bộ cụng nhõn May 10 đó giỳp Xớ nghiệp từng bước vượt qua cỏc kho khăn, luụn hoàn thành vượt mức chỉ tiờu kế hoạch sản xuất Nhà Nước giao và xứng đỏng là một trong những lỏ cờ đầu nghành may mặc trong xõy dựng miền Bắc xó hội chủ nghĩa.

* Giai đoạn 1965 – 1975 :

Năm 1965, giặc Mỹ thua đau ở chiến trường Miền Nam và đó liều lĩnh đem khụng quõn ồ ạt đỏnh phỏ Miền Bắc hũng ngăn chặn sự chi viện của Miền Bắc cho Miền Nam. Khụng quõn Mỹ tập trung đỏnh bom vào những tuyến đường giao thụng huyết mạch của Miền Bắc, cỏc cơ sở kinh tế, cơ quan xớ nghiệp hũng làm tờ liệt nền kinh tế, đưa Miền Băc” trở lại thời kỳ đồ đỏ”.

May 10 nằm trong khu vực kinh tế - quõn sự quan trọng, sỏt quốc lộ 5 nối Hà Nội với Thành Phố cảng Hải Phũng, gần Tổng kho 205 của Tổng cục Hậu cần, Tổng kho xăng dầu, Sõn bay Gia Lõm…. Khu vực này chớnh là mục tiờu đỏnh phỏ hang đầu của Khụng quõn Mỹ.

Thực hiện phong trào do Bộ Cụng nghiệp nhẹ phỏt động, May 10 đó cử một bộ phận cỏn bộ lónh đạo và cụng nhõn viờn lành nghề lờn Hà Bắc, xõy dựng Xớ nghiệp May X200 tại Đỏp cầu - Bắc Ninh để tăng them năng lực sản xuất cho quốc phũng. Sau này Xớ nghiệp May X200 tỏch ra hạch toỏn độc lập và nay là Cụng ty Cổ phần may Đỏp Cầu.

Ngoài việc chiến đấu bảo vệ sản xuất, May 10 hàng năm đều thực hiện đỳng nghĩa vụ quõn sự đối với Tổ quốc. Thời gian này, Xớ nghiệp hoàn thành tốt hai đợt tuyển quõn: đợt một gồm 8 cụng nhõn viờn chức, đợt hai gồm 9 chỏu là con em cỏn bộ của Xớ nghiệp.

Trong trời gian 1973 – 1975, Xớ nghiệp May 10 được cấp trờn giao nhiệm vụ sản xuất quõn trang số lượng lớn phục vụ quõn giải phúng và bộ đội Miền Bắc. Cả Xớ nghiệp sống lại khụng khớ tưng bừng, nỏo nhiệt như thời gian chuẩn bị chiến dịch Điện Biờn Phủ 20 năm về trước. Cả xớ nghiệp hăng say sản xuất vỡ tiền tuyến lớn, làm việc khụng biết mỏi, khụng quản ngày đờm. Cỏc tổ, cỏc phõn xưởng thực hiện để động viờn mỡnh: “ Ngày khụng giờ, tuần khụng thứ”. “Hễ bộ đội cần đến quõn trang là May 10 cú ngay.”

* Giai đoạn từ 1975 đến 1986:

Sau khi Miền Nam được hoàn toàn giải phúng, đất nước thống nhất, xớ nghiệp May 10 chuyển sang bước ngoặt mới trong nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Đú là chuyển từ may quõn trang phục vụ quõn đội sang làm hàng xuất khẩu. Thị trường chủ yếu là Liờn Xụ và cỏc nước xó hội chủ nghĩa Đụng Âu.

Quy trỡnh và tiờu chuẩn chất lượng làm hàng xuất khẩu rất phức tạp, khắt khe.

Từ kiểu dỏng, màu mắc, đường kim, mũi chỉ đến bao gúi sản phẩm đều được quy định chặt chẽ trong hợp đồng và buộc Xớ nghiệp phải thực hiện chuẩn xỏc. Nhiều khú khăn mới nảy sinh: tay nghề của người lao động chưa cao, thiết bị mỏy múc của Xớ nghiệp so với cỏc nước cú kỹ thuật tiờn tiến trờn thế giới cũn lạc hậu. Cụng tỏc quản lý kinh doanh cũn non yếu dẫn đến năng suất thấp. chất lượng sản phẩm chưa thoả món được thị hiếu của khỏch hàng.

Mặt khỏc trong những năm này, nền kinh tế non trẻ Việt Nam bị tàn phỏ nặng nề của chiến tranh, chế độ quan liờu bao cấp kỡm hóm sự phỏt triển, xuất hiện nhiều tư tưởng chủ quan duy ý chớ, đời sống của nhõn dõn lao động chưa được cải thiện…. Thực tế này đó ớt nhiều ảnh hưởng đến lũng tin và nhiệt tỡnh lao động của cụng nhõn, viờn chức. Nhằm thỏo gỡ khú khăn, Đảng ủy cựng Ban giỏm đốc Cụng ty đó chủ động đề ra định hướng hoạt động và cựng lỳc phải thực hiện đồng bộ nhiều biện phỏp:

Khơi dậy phong trào thi đua ỏi quốc mà Bỏc Hồ phỏt động Đổi mới thiết bị và cụng nghệ hiện đại

Tiếp cận thị trường may mặc thế giới để tỡm bạn hàng mới.

Bồi dưỡng nõng cao nghiệp vụ và trỡnh độ quản lý cho đội nhũ cỏn bộ cụng nhõn.

Vay vốn ngõn hàng, tận dụng vốn tự cú , tranh thủ sự giỳp đỡ của khỏch hàng để trang bị thiết bị mới.

Mở nhiều lớp đào tạo cụng nhõn mới, bồi dưỡng tay nghề cho cụng nhõn cũ nhằm nõng cao trỡnh độ kỹ thuật, cử cỏn bộ đi học tập trung hoặc tại chức để nõng cao trỡnh độ quản lý.

Kết quả là sản lượng , chất lượng sản phẩm cứ tăng dần hàng năm. Đặc biệt, năm 1984, hai mặt hàng xuất khẩu sang Cụng hoà dõn chủ Đức và Bungari được đặt gia cụng tăng gấp đụi so với năm 1983. Xớ nghiệp được Tổng Cụng ty Xuất nhập khẩu hàng Dệt May gửi cụng văn khen ngợi vỡ đó đảm bảo tốt cỏc yờu cầu, quy định về tiờu chuẩn, quy cỏch chất lượng sản phẩm, thời hạn giao hàng.

Từ năm 1975 đến năm 1985, mỗi năm xớ nghiệp May 10 đó xuất ra thị trường cỏc nước xó hội chủ nghĩa từ 4 đến 5 triệu ỏo sơ mi. Mức tăng trưởng bỡnh quõn hàng năm 30%, nộp ngõn sỏch tăng từ 10 – 15%/ năm, thu nhập bỡnh quõn tăng từ 5 – 10%/ năm.

* Giai đoạn từ 1986 đến nay :

Năm 1986 được xem là một mốc son lịch sử đụi với nền kinh tế Việt Nam. Từ sự tổng kết tỡnh hỡnh thực tiễn, phõn tớch những bài học thành cụng và những tồn tại của giai đoạn 1976 – 1985, những nhận thức mới về xu thế và con đường quỏ độ đi lờn chủ nghĩa xó hội ở nước ta, Đại hội lần thứ VI của Đảng đó đề ra đường lối đổi mới mà trước hết là sự đổi mới tư duy kinh tế.

Là một doanh nghiệp Nhà nước gắn bú chặt chẽ với thực tiễn phỏt triển của đất nước, Xớ nghiệp May 10 quỏn triệt tinh thần đổi mới trong tư duy kinh tế và đường hướng hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỳ trọng sản xuất và kinh doanh hàng may mặc xuất khẩu, những năm 1986 – 1990 May 10 đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Liờn Xụ và Đụng Âu theo nội dung cỏc Nghị định thư hàng hoỏ ký kết giữa Việt Nam và cỏc nước trong hội đồng tương trợ kinh tế SEV.

Những năm 1990 – 1991, hệ thống cỏc nước XHCN sụp đổ trờn phạm vi toàn thế giới. Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Liờn Xụ và Đụng Âu bị thu hẹp nhanh chúng. Sản xuất ngừng trệ, thiếu nguyờn phụ liệu đầu vào, người lao động khụng đủ việc làm… là tỡnh trạng chung ở cỏc đơn vị sản xuất trong đú cú May 10. Giỏ cả đắt đỏ, đời sống người lao động vốn đó khú khăn lại càng khú khăn hơn. Thực hiện nghị định 176/HĐBT về việc sắp xếp lại lao động trong cỏc đơn vị kinh tế quốc doanh, năm 1991 Xớ nghiệp May 10 đó giải quyết chế độ về nghỉ hưu, mất sức cho hơn 300 cỏn bộ, cụng nhõn.

Trước tỡnh hỡnh đú, để tồn tại và phỏt triển, Đảng ủy và ban Giỏm đốc Xớ nghiệp đó khanửg định : “ khụng cú con đường nào khỏc, Xớ nghiệp May 10 phải chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường Khu vực 2 - thị trường cỏc nước Tư bản chủ nghĩa. Đõy là thị trường khú tớnh, yờu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm cũng như mẫu mó, và đặc biệt là thời gian giao hàng phải chớnh xỏc”. Để đỏp ứng được những yờu cầu đú, một mặt xớ nghiệp phải đổi mới trang thiết bị tiờn tiến hơn, mặt khỏc phải cải tiến hệ thống quản lý, tiếp tục nõng cao chất lượng nguồn nhõn lực cho phự hợp yờu cầu phỏt triển của thời kỳ mới.

Sau một thời gian nghiờn cứu thị trường và củng cố bộ mỏy nhõn sự, chất lượng sản phẩm của May 10 đó cú nhiều bước chuyển biến tớch cực. Xớ nghiệp đó ký kết được hợp đồng may xuất khẩu với hai khỏch hàng Hàn Quốc, Hà Lan và họ trở thành hai bạn hàng mới của May 10. Tiếng lành đồn xa, bắt đầu từ cỏc đơn hàng đạt tiờu chuẩn chất lượng cho phớa Hàn Quốc và Hà Lan, May 10 cú được nhiều đối tỏc lớn như CHLB Đức, Nhật Bản, Bỉ, Đài Loan, Hồng Kụng…. Cũng từ đõy sản phẩm ỏo sơ mi, ỏo Jackột và nhiều sản phẩm may mặc khỏc của May 10 được biết đến nhiều hơn trờn thị trường quốc tế.

Để đỏp ứng được yờu cầu của thị trường may mặc trong nước và thế

triển thành Cụng ty cổ phần May 10 với tờn giao dịch quốc tế la “ GRACO 10”.

Năm 1992 – 1993, trong cuộc đua cạnh tranh với cỏc đơn vị kinh doanh trong nước, Cụng ty đầu tư, đổi mới trang thiết bị và dõy chuyền cụng nghệ tiờn tiến hơn. Thiết bị mỏy múc hiện đại chưa đủ mà điểm mấu chốt là phương phỏp và cỏch thức quản lý để tăng năng suất lao động . Một lần nữa May 10 tỡm cỏch khắc phục để đi lờn bằng chớnh nội lực của mỡnh. Cụng ty đó vận dụng linh hoạt, sang tạo, đồng bộ cỏc biện phỏp:

Mạnh dạn đầu tư chiều sõu.

Bồi dưỡng nõng cao tay nghề cho cụng nhõn và nghiệp vụ quản lý cho cỏn bộ.

Trang bị thờm thiết bị kỹ thuật và cụng nghệ mới.

Chăm lo đời sống và cải thiện điều kiện làm việc cho cụng nhõn viờn chức.

Mở rộng thị trường quốc tế và coi trọng thị trường trong nước, đồng thời tranh thủ sự giỳp đỡ của anh em bạn bố.

Vừa đẩy mạnh xuất khẩu, Cụng ty May 10 vừa coi trọng thị trường trong nước. Cụng ty đó mở cỏc cửa hàng, cỏc đại lý, cỏc chi nhỏnh ở nhiều địa phương trong cả nước như: Hà Nội, Hải Phũng, Quảng Ninh, Thỏi Bỡnh, Thành Phố Hồ Chớ Minh….để giới thiệu sản phẩm, bỏn hàng, dạy nghề may, chuyển giao cụng nghệ, luõn chuyển trang thiết bị. Kết quả là năm 1993 Cụng ty đó bắt đầu chiếm lĩnh được thị trường trong nước và được người tiờu dựng ưa chuộng.

Cũng bắt đầu từ thời kỳ này, Cụng ty May 10 khụng ngừng phỏt huy những thành tớch đó đạt được và liờn tục phấn đấu tăng trưởng hàng năm từ 20 – 30% xứng đỏng là một trong những cỏnh chim đầu đàn trong nghành

Chuyờn đề thực tập tốt nghiệp 28

Một phần của tài liệu Đẩy mạnh xuất khẩu của Công Ty cổ phần May 10 sang thị trường Hoa kỳ.DOC (Trang 25 - 34)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(75 trang)
w