CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH
3.2. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty TNHH thương mại và dịch vụ Logich
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện
Trong môi trường công nghệ thông tin hiện tại, quá trình cung cấp thông tin đóng vai trò rất quan trọng đến quyết định ra quyết định của các nhà quản trị, nhất là thông tin kế toán. Thông qua việc kiểm tra, tính toán, ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động kinh doanh bằng hệ thống của kế toán: chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán có thể biết được thông tin một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và toàn diện về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản. Các báo cáo tài chính còn cung cấp những thông tin cho các đối tượng quan tâm về tình hình tài chính, triển vọng phát triển kinh doanh của doanh nghiệp để có những quyết định đầu tư đúng đắn trong từng thời kỳ. Vì vậy, việc hoàn thiện và đổi mới không ngừng công tác kế toán cho thích hợp với yêu cầu quản lý trong nền kinh tế thị trường là việc làm hết sức cần thiết và cần được quan tâm.
Đối với hoạt động kinh doanh thương mại, quá trình tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng nhất trong quá trình luân chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Hoàn thiện quá trình này là vấn đề cần thiết trong mỗi doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp thương mại. Do đó:
- Khi quá trình kế toán hoàn thiện, việc tổ chức chứng từ, sử dụng tài khoản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát công tác kế toán. Góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toán toàn doanh nghiệp. Việc hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng sẽ cung cấp cho cơ quan quản lý nhưng thông tin chính xác, phản ánh đúng tình hình tiêu thụ cũng nhưng kinh doanh của doanh nghiệp
- Hoàn thiện quá trình kế toán này còn là việc hoàn thiện hệ thồng sổ sách. Việc ghi chép hệ thống sổ sách chính xác hơn, dễ đối chiếu kiểm tra hơn giữa các sổ sách nhưng vẫn đảm bảo kết cấu gọn nhẹ. Giảm bớt được khối lượng ghi chép, tiết kiệm lao động kế toán mà vẫn đảm bảo cung cấp những thông tin kinh tế tài chính cần thiết cho các đối tượng quan tâm một cách chính xác nhanh nhất.
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện + Về kế toán chiết khấu bán hàng
Chiết khấu bán hàng được sử dụng thực chất để khuyến khích khách hàng thanh toán. Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Logich chưa sử dụng lợi thế của việc sử dụng chính sách chiết khấu để tăng doanh thu tiêu thụ và không bị khách hàng chiếm dụng vốn. Cho nên công ty cần đánh giá đúng chính sách chiết khấu để khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh, công ty cần áp dụng linh hoạt các hình thức chiết khấu.
Công ty cần xem xét đưa ra một tỷ lệ chiết khấu phù hợp để khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh. Như công ty có thể đưa ra các khoảng doanh số nhất định và tương ứng với nó là các tỷ lệ chiết khấu. Khi áp dụng các hình thức chiết khấu linh hoạt vì hiện nay công ty phải vay vốn ngân hàng và trả lãi để có thêm tiền mở rộng kinh doanh và quay vòng vốn. Công ty xây dựng mức chiết khấu thanh toán dựa trên những yếu tố sau:
- Tỷ lệ lãi vay ngân hàng.
- Số tiền lãi công ty phải thanh toán cho ngân hàng hàng tháng.
- Khả năng thanh toán của khách hàng có số hàng mua ổn định.
Dựa trên những thông số trên đề ra các mức chiết khấu khác nhau, đảm bảo rằng khoản chiết khấu giành cho khách hàng ít nhất bù được việc giảm lãi vay ngân hàng.
Về hạch toán chiết khấu bán hàng:
Khi áp dụng hình thức chiết khấu cho khách hàng thì các chính sách này phải đảm bảo đem lại lợi ích cho công ty. Theo thông tư số 120/1999/TT – BTC phần chiết khấu được hạch toán như sau:
Nợ TK 635: Chi phí hoạt động tài chính
Có TK 111, 112, 131: Số tiền chiết khấu giành cho khách hàng
Ví dụ: Ngày 10/10/2008 do đại lý chị Lý mua hàng trong tháng với khối lượng lớn (trên 50.000.000đ) giám đốc quyết định cuối tháng chiết khấu cho chị Hải 5%
tổng số tiền hàng mà chị đã mua trong tháng. Số tiền chị Hải được hưởng là 3.500.000 đ trả cho chị Lý bằng tiền mặt.
Kế toán phản ánh như sau:
Nợ TK 635: 3.500.000 Có TK 111: 3.500.000
Căn cứ vào nghiệp vụ phát sinh kế toán ghi vào sổ Nhật ký chung.
Cuối tháng phản ánh vào sổ cái TK 635, từ đó xác định tổng chi phí hoạt động tài chính, kết quả hoạt động tài chính.
+ Về kế toán giảm giá hàng bán:
Giảm giá hàng bán được sử dụng nhằm khuyến khích khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Khi thanh toán tiền hàng sẽ được giảm một phần nhất định trên tổng số tiền hàng. Hay trong trường hợp hàng hóa bị trả lại do kém chất lượng, không đủ quy cách công ty không muốn vận chuyển về kho muốn bán nhanh số hàng đó để thu hồi vốn thì tiến hành giảm giá cho khách hàng.
Giảm giá hàng bán là công cụ giải quyết một cách linh hoạt khâu tiêu thụ hàng hóa. Công ty cần nghiên cứu phương thức giảm giá cho thích hợp để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ trong công ty.
Khi hàng hóa được giảm giá, việc hạch toán được tiến hành như sau:
Nợ TK 532: Giá vốn hàng hóa được giảm
Nợ TK 3331: Thuế GTGT đầu ra tương ứng với lượng hàng được giảm giá Có TK 111, 112, 131: Tổng số tiền giảm giá
Khi phát sinh nghiệp vụ giảm giá hàng bán kế toán phản ánh vào Nhật ký chung.
Cuối tháng phản ánh vào sổ cái TK 532 và kết chuyển tổng số tiền giảm giá để tính doanh thu thuần theo định khoản sau
Nợ TK 5111 Có TK 532