CHƯƠNG XI QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
3. Phân tích những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ hiện nay
- Căn cứ vào những mục tiêu và các quan điểm định hướng cho nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay thì kể các trước kia, hiện
nay Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh có 2 nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là:
+ Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
+ Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân
a) Xây dưng cơ cấu kinh tế hợp lý:
Để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong nền kinh tế bao giờ cũng gắn liền với quá trình thực hiện phân công lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động và những ngành sản xuất và trong nội bộ từng ngành sản xuất gắn liền với các vùng lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân.
Phân công lao động xã hội có tác dụng rất to lớn bởi vì nó tạo ra nhũng đòn bẩy đối với sự phát triển khoa học công nghệ. Nhưng để thực hiện được việc phân công lao động xã hội có hiệu quả cần quan tâm những vấn đề sau đây.
+ Tỷ trọng lao động cả về mặt tuyệt đối và tương đối trong lĩnh vực nông nghiệp phải giảm xuống còn tỷ trọng lao động trong những ngành công nghiệp và dịch vụ phải tăng lên cả tương đối lẫn tuyệt đối.
+ Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày càng phải chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lực lượng lao động xã hội.
+ Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất hoặc dịch vụ phải tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng lao động trong những ngành sản xuất.
Từ những quan điểm như đã phân tích thì đi đôi với quá trình phân công lạo lao động xã hội ở nước ta một cơ cấu kinh tế mới được xem là hợp lý ở nước ta phải là:
Đó là một cơ cấu bao gồm tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân, gắn với vị trí, trình độ công nghệ, quy mô tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận với nhau, gắn với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định.
Cơ cấu kinh tế ở nước ta được cấu trúc thành 4 nhóm
- Cơ cấu ngành kinh tế: đây là một cơ cấu phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các ngành kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế được xem xét trên phạm vi vĩ mô đó là nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia và ở Việt nam hiện nay được xác định đó là cơ cấu công – nông nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế này cũng được xem là cơ cấu của các trung tâm đầu mối của nền kinh tế nước ta nhờ như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh.
Còn cơ cấu ngành kinh tế ở các vùng lãnh thổ lại dựa trên sức mạnh của các ngành kinh tế mũi nhọn ở mỗi địa phương
- Cơ cấu thành phần kinh tế:
Đây là mối quan hệ cơ cấu giữa các thành phần kinh tế tồn tại trong nền kinh tế quốc dân và giữa các vùng lãnh thổ.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều bao gồm những vũng lãnh thổ với những thế mạnh hay lợi thế không giống nhau vì vậy xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý là cần phải căn cứ vào đặc điểm của từng vùng lãnh thổ.
- Cơ cấu hành chính (thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ) cơ cấu này phản ánh mối
liên kết cả về mặt kinh tế – chính trị - xã hội của nền kinh tế quốc dân gắn với từng địa bàn hoặc từng vùng lãnh thổ cụ thể.
Việc xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trong, nó tạo ra những động lực thức đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời nó tạp ra những môi trường, điều kiện để khai thác sử dụng một cách hợp lý nhất tối ưu nhất tất cả các nguồn lực vốn là khan hiếm của nền kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
b) Tiến hành cách mạng khoa học công nghệ để trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân.
Cho đến nay thế giới đã lần lượt trải qua 2 lần cách mạng về kỹ thuật – công nghệ:
lần thứ nhất gọi là cuộc cách mạng kỹ thuật diễn ra vào thế kỷ 18 với dội dung thay thế lao động thủ công vằng lao động cơ khí, nửa cơ khí. Còn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 thì nổ ra vào thế kỷ 20 chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu cuối thế kỷ 19 chủ yếu đầu thế kỷ 20 với tên gọi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hoặc cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 với nội dung chuyển lao động cơ khí sang lao động nửa tự động hoá và tiến tới tự động hoá. Còn giai đoạn 2 nổ ra và cuối thập niên 70 của thế kỷ 20 cho đến nay với nội dung là tự động hoá và tri thức hoá vền kinh tế, biến tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của các quốc gia.
Hiện nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đang diễn ra một cách toàn diện trên các phạm vi các lĩnh vực làm thay đổi hết sức cơ bản các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất của nền kinh tế như cuộc cách mạng về năng lượng, cách mạng về vật liệu mới, cách mạng về sinh học, cách mạng về điện tử viễn thông và các cuộc cách mạng về địa chấn học, hải dương học, vũ trụ học.
9-03-2003 4. Thế nào là chuyển giao công nghệ? phân tích các tác dụng của chuyển giao công nghệ. Để tiến hành có hiệu quả việc chuyển giao công nghệ ở nước ta cần quan tâm đến những vấn đề gì
* Bả chất chuyển giao công nghệ:
Cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đã và đang đóng góp vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong tất cả các quốc gia, nhất là những nước có nền kinh tế kém phát triển.
Tuy nhiên việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở các nước khác nhau lại không giống nhau:
Có những nước tiến hành cuộc cách mạng công nghệ từ việc nghiên cứu cơ bản rồi tiến hành chế tạo và trang bị cho nền kinh tế quốc dân. Cách tiến hành như vậy đòi hỏi phải có một thời gian dài, phải có một nguồn vốn lớn và phải có một tiềm lực khoa học kỹ thuật tương ứng nhưng đồng thời trên thế giới đã có rất nhiều nước lại tiến hành cuộc cách mạng khoa học công nghệ theo con đường rút ngắn bằng cách nhập công nghệ chuyển giao từ những nước tiên tiến đi trước.
ở nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến hành công nghiệp hoá từ một xuất phát điểm rất thấp vì vậy đã đến nhu cầu là phải tăng tốc độ công nghiệp hoá để trang bị kỹ thuật cho nền kinh tế nhưng cũng đồng thời đặt ra một vấn đề phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới vì vậy nghị quyết đại hội đảng lần thứ 7 đã khẳng định rằng để đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế đồng thời tránh được
nguy cơ tụt hậu thì quá trình công nghiệp hoá phải gắn liền với quá trình hiện đại hoá đồng thời quá trình công nghiệp hoá ở nước ta phải chuyển từ công nghiệp hoá đối nội (thay thế nhập khẩu) sang công nghiệp hoá đối ngoại (công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu).
Để thực hiện mục đích của việc chuyển hướng công nghiệp hoá cũng tại đại hội đảng 7 đảng ta nhấn mạnh ở nước ta phải tiến hành lựa chọn quy trình chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến để rút ngắn thời gian công nghiệp hoá, phù hợp với nguồn lực hạn chế của nước ta nhưng lại tránh được nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với khu vực và thế giới.
Bản chất của chuyển giao công nghệ là việc đưa công nghệ bao gồm cả phần cứng (máy móc thiết bị …) và cả phần mềm (đó là quá trình, phương pháp công nghệ…) từ một nước này sang một nước khác làm thay đổi cả quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao. Thực chất của việc chuyển giao công nghệ chỉ có thể tiến hành một cách hiệu quả và suôn sẻ khi ở nước nhập khẩu công nghệ đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.
* Những tác dụng của chuyển giao công nghệ:
Việc tiến hành chuyển giao công nghệ là thực hiện mục đích rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các quốc gia vì vậy nó có những tác dụng cơ bản sau đây
- Giúp các nước đi sau, những nước kém phát triển rút ngắn được khoảng cách tụt hậu về kinh tế – kỹ thuật so với các nước đi trước và các nước tiên tiến.
- Nó cho phép khai thác và sử dụng một cách tối ưu các nguồn lực, lợi thế của các quốc gia đi sau.
- Chuyển giao công nghệ đối với những quốc gia đang thực hiện chiến lược chuyển từ mô hình hướng nội sang hướng ngoại sẽ rút ngắn được khoảng cách mõ mẫn về công nghệ và sự thiếu hụt về nguồn lực đồng thời cho phép sử dụng các nguồn lực hạn chế đó cho các mục tiêu cần thiết hơn để thực hiện quá trình đi tắt đón đầu.
* Tuy vậy trong quá trình công nghiệp hoá gắn kết với việc chuyển giao công nghệ ở nước ta muốn đạt được hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao thì việt nam trước hết cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ quốc gia mang tính lâu dài, bao gồm cả việc nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao.
Cần phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước để xây dựng một phương hướng chung cho việc chuyển giao công nghệ đó là phải hình thành một cơ cấu kỹ thuật, công nghệ nhiều tầng, nhiều trình độ, nhiều quy mô để trên cơ sở đó mà khai thác sử dụng phù hợp với điều kiện của Việt nam.
Bên cạnh phương hướng chung cần có một hệ thống các giải pháp cụ thể:
+ Phải chọn giải pháp kỹ thuật, công nghệ phù hợp với điều kiện của Việt nam để tiếp tục đầu tư chiều sâu nhưng trên cơ sở vẫn khai thác và sử dụng được những cơ sở hiện có của nền kinh tế.
+ Cần phải cải tiến nâng cấp hiện đại hoá các kỹ thuật và công nghệ truyền thống kết hợp với những công nghệ chuyển giao phục vụ cho mục tiếu phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn.
+ Phải tranh thủ những công nghệ tiên tiến đặc biệt là đối với các dự án đầu tư của nước ngoài nhưng cần phải kết hợp với việc giám định nghiêm ngặt các thiết bị chuyển giao.
+ Cần đặt ra một cách nghiêm túc ngay từ đầu cho việc chuyển giao công nghệ là phải gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái của Việt nam.
+ Để nhập công nghệ chuyển giao thì ở nước ta cần phải gấp rút nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia nhằm đổi mới và làm chủ công nghệ chuyển giao
+ Cần phải đâu tư bằng nhiều nguồn vốn cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của quốc gia cũng như chương trình khoa học công nghệ của nhà nước, xem giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu.
5. Phân tích những điều kiện tiền đề để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện