II. TÌNH HÌNH KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2. Lập kế hoạch, bán và thực hiện tour du lịch quốc tế 1. Nghiên cứu thị trường và thiết kế tour trọn gói
2.5 Bài học kinh nghiệm và tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển du lịch quốc tế
mua bảo hiểm chuyến đi tại nước họ hoặc của các hãng lớn trên thế giới.
Trong tương lai, nếu Nhà nước thu hút đầu tư mạnh về bảo hiểm và chúng ta được khách nước ngoài quan tâm mua bảo hiểm tại Việt Nam thì đây là một nguồn lợi rất lớn không những cho ngành Bảo hiểm, Du lịch mà còn có sức đóng góp rất đáng kể cho nền kinh tế nước ta.
* Các ngành khác: Cùng với sự phát triển kinh tế, hầu hết các ngành nghề của Việt Nam đã và đang vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt là các ngành có liên quan đến du lịch như giao thông, xây dựng, bưu chính viễn thông , tài chính ngân hàng, thủ công mỹ nghệ, may mặc, các làng nghề truyền thống..., thậm chí các vùng sâu, vùng xa, vùng núi và các nơi hoang sơ cũng đang chuyển mình đứng dậy bởi sự ham muốn khám phá đất nước và con người Việt Nam của du khách quốc tế. Trong tương lai, nếu chúng ta biết khai thác tốt các thế mạnh thì du lịch Việt Nam sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều, có thể so sánh với các nước trong khu vực, kéo theo sự trưởng thành của rất nhiều ngành nghề liên quan khác bởi tiềm năng du lịch của Việt nam là rất lớn.
2.5 Bài học kinh nghiệm và tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển du lịch quốc tế
* Bài học kinh nghiệm: Qua tham khảo kinh nghiệm của những người làm du lịch ở các nước bạn láng giềng như Malaysia, Singapore và Thái Lan, ta thấy, ngoài rất nhiều các yếu tố như cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống quản lý tốt, chính sách hấp dẫn...dẫn tới thành công của họ, thì ta thấy có một kinh nghiệm khá độc đáo của họ, đó là suy nghĩ về 4 chữ “N” của người làm du lịch:
nghiệp vụ, ngoại ngữ, ngoại giao, ngoại hình. 4 “N” trên gọi là mẫu hình người làm du lịch. Những ai đã, đang và sẽ trở thành người làm du lịch phải hội tụ được đủ 4 “N”, không ngừng phấn đấu theo 4 “N” đó. 4”N” này đều quan
trọng và cần thiết như nhau, bổ trợ cho nhau, hợp tác với nhau tạo nên mẫu hình chuẩn của người làm du lịch.
+ Nghiệp vụ: Ngành Du lịch hoạt động theo một dây chuyền công nghệ hết sức khoa học, đồng bộ và liên quan chặt chẽ với nhau. Người làm dịch vụ trong Du lịch phải có trình độ nghiệp vụ thông thạo, điêu luyện. Ví dụ: đối với hướng dẫn viên phải am hiểu về văn hoá, lịch sử, địa lý, khéo léo sắp xếp các yêu cầu của khách một cách nhanh gọn; Đối với một đầu bếp đòi hỏi không chỉ nấu ngon miệng mà còn phải ngon mắt.
+ Ngoại ngữ: Muốn nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách quốc tế, người làm du lịch không thể không biết ngoại ngữ.
Ngoại ngữ là phương tiện hữu hiệu nhất để giao tiếp với khách, nếu không có ngoại ngữ thì khả năng nghề nghiệp không được phát huy tác dụng.
+ Ngoại giao: Ngoại giao ở đây là nghệ thuật giao tiếp, ứng xử. Để gây được thiện cảm với khách, người làm du lịch phải hiểu biết về phong tục tập quán, tâm lý của người dân mỗi dân tộc, theo vùng, theo lứa tuổi, nghề nghiệp;
phải biết cách ăn nói có văn hoá, lịch sự, không làm phật ý khách; tự tin trong các thao tác nghi thức như bắt tay, chào mời, tặng hoa, quà...; phải thực sự quan tâm tới khách, có nghệ thuật thu hút khách, khéo léo xử lý các ý kiến, phàn nàn của khách tạo cho khách hàng có một ấn tượng tốt về công ty, về bản thân. Vì vậy, để có kiến thức tốt về ngoại giao, người làm du lịch phải không ngừng học hỏi và rèn luyện để có được niềm tin nơi khách hàng.
+ Ngoại hình: Ngoại hình là một yếu tố quan trọng đối với người làm du lịch; phải có một cơ thể khoẻ mạnh, cân đối, ưa nhìn. Điều quan trọng là người làm du lịch phải biết tự làm đẹp cho bản thân, cho môi trường nơi mình làm việc. Cái đẹp thể hiện ở sự tươi tắn, cởi mở, đôn hậu, có duyên lôi cuốn lòng người. Khách du lịch không thể bỏ tiền ra để sử dụng các dịch vụ mà ở
đó con người luộm thuộm, mất vệ sinh, thái độ khó chịu, lóng ngóng trong công việc.
Đó là một vài suy nghĩ tuy không phải là mới mẻ, nhưng thực hiện được cũng không dễ, mà ở các nước bạn đã thành công. Ở chừng mực nhất định nào đó, 4 “N” cũng là nét gợi mở cho chúng ta suy ngẫm và tham khảo. Trước hết, là các nhà đào tạo tham khảo để xây dựng mục tiêu, chương trình, nội dung cho giảng dạy. Tiếp theo đó là các nhà quản lý doanh nghiệp tham khảo để tuyển dụng, sử dụng lao động hợp lý. Cuối cùng dành cho những người đã, đang và muốn trở làm nghề du lịch coi đó là tiêu chuẩn để phấn đấu vươn lên.
[7]
* Hợp tác quốc tế để phát triển du lịch:
Hiện nay, Việt Nam đã ký hiệp định với 15 nước trên thế giới; có quan hệ bạn hàng với 1000 hãng của 50 nước và vùng lãnh thổ; có quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như WTO, PATA, ASEANTA... Mục tiêu trước mắt của Nhà nước trong chủ trương phát triển ngành Du lịch là liên doanh, liên kết để phát triển Du lịch bền vững ngay tại các nước ở Châu á. Cụ thể là nước ta đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN với 10 nước Đông Nam á:
Trích Văn kiện Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 7 ngày 4/11/2001 tại Brunei:
“Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của ngành Du lịch đối với tăng trưởng kinh tế bền vững của các nước thành viên ASEAN, cũng như sự đa dạng về văn hoá, kinh tế và các lợi thế sẵn có của khu vực, có lợi cho sự phát triển du lịch của ASEAN nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, hoà bình và thịnh vượng của khu vực; Nhận thức được vai trò quan trọng của du lịch trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN cũng như tăng cường hiểu biết lẫn nhau và ổn định khu vực; Nhấn mạnh nhu cầu hợp tác về tạo điều kiện đi lại giữa các nước trong khu vực thuận tiện và hiệu quả hơn,
quyết tâm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của dịch vụ du lịch ASEAN. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 7, ngày 04 tháng 11 năm 2001, tại Brunei Darussalam, 10 nước thành viên ASEAN: Nhà nước Brunei Darussalam, Vương quốc Campuchia, Cộng hoà Indonesia, Cộng hoà DCND Lào, Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hoà Philippines, Cộng hoà Singapore, Vương quốc Thái Lan, Cộng hoà XHCN Việt Nam đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN với 12 điều khoản trong đó xác định các mục tiêu chung, tạo các điều kiện thuận lợi cho du lịch, cách tiếp cận thị trường, phối hợp xúc tiến tiếp thị, hợp tác phát triển nguồn nhân lực... nhằm tạo ra một môi trường tiêu chuẩn chung cho phát triển du lịch bền vững trong khu vực...” [8]
Đó là những cơ hội tốt và những thách thức không nhỏ cho Du lịch Việt Nam trên đà phát triển và hoà nhập vào xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới
2.6 Giới thiệu khái quát về các chương trình du lịch tại Việt nam