Hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường để năng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

Một phần của tài liệu Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi việt nam ra nhập WTO luận văn ths kinh tế 60 31 01 pd (Trang 76 - 94)

CHƯƠNG 3: NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi Việt Nam gia nhập WTO

3.2.1 Hoàn thiện thể chế, tạo dựng môi trường để năng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước

Kinh nghiệm của các nước và thực tế ở Việt Nam đã chứng minh rằng, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng phi hiệu quả ở các DNNN là do các DNNN không phải chịu áp lực cạnh tranh giống các doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các DNNN và DNTN là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNN. Đây cũng chính là mục tiêu của việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách kinh tế của Việt Nam. Việc tạo lập được một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc cải cách DNNN đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO. Vì trước hết, việc xóa bỏ các bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau sẽ buộc khu vực DNNN phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, tăng khả năng cạnh

tranh để tồn tại; Sau nữa, điều đó cũng có ý nghĩa là khuyến khích khu vực tư nhân phát triển và đây sẽ là điều kiện để đẩy nhanh quá trình đa dạng hóa sở hữu ở Việt Nam.

Chủ trương phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng đã được khẳng định nhiều lần.

Nhưng trong các chính sách cụ thể và trong thái độ ứng xử của các cơ quan và công chức nhà nước, trong tâm lý xã hội vẫn còn có những biểu hiện e ngại, phân biệt đối xử đối với kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài; chưa mạnh dạn trong các biện pháp phát huy sức dân bung ra làm ăn. Do yêu cầu trước mắt Nhà nước thường áp dụng các biện pháp phát triển tình thế để bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan. Nhưng hiện nay khi chúng ta đã tham gia vào sân chơi chung của thế giới thì chúng ta phải thực hiện hàng loạt các cam kết mà WTO đặt ra trong đó có cam kết xóa bỏ dần bảo hộ của Nhà Nước. Do đó, rõ ràng là cần phải có những thay đổi trong chính sách, trước hết là những thay đổi để các thành phần kinh tế được phát triển bình đẳng và lâu dài, trong đó kinh tế nhà nước phải phát triển có hiệu quả.

3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý

Như chúng ta đã biết, cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hệ thống khuôn khổ pháp lý cũng được thay đổi và phát triển theo hướng tạo môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động. Một loạt các bộ luật được ban hành trong những năm vừa qua như: Luật đầu tư nước ngoài, Luật đầu tư trong nước, Luật phá sản, Luật dân sự, Luật đất đai, Luật DNNN, Luật DN…. đã có ý nghĩa rất quan trọng. Trong thời gian tới, để tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, thuận lợi, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong đó có các DNNN phát triển thì Chính phủ cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện những điểm sau:

- Hoàn thiện hệ thống các tòa án dân sự, tòa án kinh tế và các trung tâm trọng tài để giải quyểt các tranh chấp trong các quan hệ kinh tế.

- Ban hành luật về trách nhiệm đối với sản phẩm để đảm bảo chất lượng sản phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

- Đẩy mạnh việc hoàn thiện các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp và các Luật liên quan như Luật đầu tư, Luật đất đai… Ban hành các tiêu chí đáp ứng yêu cầu đổi mới DNNN như: tiêu chuẩn về điều kiện thành lập tập đoàn, soát xét lại các lĩnh vực Nhà nước cần giữ 100% vốn hoặc cổ phần chi phối để có cơ sở xác định các DNNN tiếp tục thực hiện CFH theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X.

- Ban hành các quy chế đánh giá hiệu quả DNNN, quy chế kiểm soát, giám sát và nhất là cơ chế tuyển chọn cán bộ quản lý để nâng cao trách nhiệm giám đốc doanh nghiệp.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách đối với công ty cổ phần, tránh việc vận dụng thiếu thống nhất giữa các công ty.

- Tiếp tục sửa đổi luật phá sản doanh nghiệp.

Trong quá trình hình thành khung pháp lý, Nhà nước cần huy động sự tham gia rộng rãi của các tổ chức xã hội, chẳng hạn: hiệp hội các nhà khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn và cả các doanh nghiệp…

Có thể nói, với việc gia nhập WTO, môi trường kinh tế doanh nghiệp có nhiều biến đổi trong khi đó các quyết định pháp lý của chúng ta còn thiếu và chưa tương thích với thông lệ quốc tế. Trong một số lĩnh vực các luật liên quan điều tiết các hoạt động kinh doanh lại chồng chéo nhau, làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước. Để thúc đẩy cũng như tạo điều kiện cho các DNNN trong bước đường hội nhập, rõ ràng đi liền với thông qua luật mới, phải rà soát lại những quy định cũ, nếu không còn phù hợp cần loại bỏ, điều

chỉnh ngay, đặc biệt với những luật gắn chặt với các hoạt động liên quan đến đối tác nước ngoài.

Xu hướng chung trong hoàn thiện khung pháp lý là nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, các DNNN cũng cần có đầy đủ các quyền trong kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp khác. Nhà nước quản lý doanh nghiệp bằng pháp luật, bảo đảm cho doanh nghiệp thực hiện kinh doanh theo đúng pháp luật. Muốn tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế và thúc đẩy hội nhập của các doanh nghiệp nói chung, DNNN nói riêng điều quan trọng với chúng ta là nâng cao tính hiệu quả đi liền với sự minh bạch trong kinh doanh và theo logic để có sự minh bạch trong các hoạt động phải theo pháp luật, tuân thủ các quy định. Các quy định của chúng ta phải cố gắng bám sát các quy định, tiêu chuẩn của môi trường kinh doanh hiện đại quốc tế đặc biệt là của WTO.

3.2.1.2 Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước

Như chúng ta đã biết, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến năng lực cạnh tranh của DNNN Việt Nam thấp là do cơ chế quản lý DNNN còn nhiều hạn chế và bất cập. Trong thời gian tới, để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNN chúng ta phải đổi mới cơ chế quản lý DNNN theo chiều sâu trên mấy phương diện sau:

- Cải cách thể chế kinh doanh theo hướng nâng cao quyền tự chủ (thực sự) tự chịu trách nhiệm kinh doanh của DNNN. Chấm dứt kiểu chờ đợi, doanh nghiệp nhìn lên Chính phủ (hoặc cơ quan chủ quản) và cơ quan chủ quản chỉ việc cho doanh nghiệp. Thị trường, lợi nhuận là mục tiêu hướng tới của doanh nghiệp.

- Cải cách cơ chế quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn, lấy hiệu quả kinh doanh trên vốn làm trọng chứ không phải theo nguyên tắc bảo toàn vốn. Hiệu quả được tính theo chu kỳ kinh doanh, chứ không phải theo năm kế hoạch, cho phép doanh nghiệp hạch toán “lãi để

dành” chứ không phải lãi thì nộp, lỗ thì quy trách nhiệm. Theo đó, gắn chế độ, quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp với kết quả kinh doanh (nên áp dụng cả phương án thế chấp đối với giám đốc).

- Làm rõ quyền tài sản trong doanh nghiệp, nhất là quyền sở hữu và quyền sử dụng, theo đó cần quy định rõ quyền kiểm soát tài sản của chủ sở hữu với quyền tự chủ gắn với trách nhiệm và lợi ích của lãnh đạo và người lao động tại doanh nghiệp trên cơ sở hiệu quả. Xác định rõ ai là chủ đích thực của DNNN? Nếu cứ là chủ hờ thì dễ xảy ra tiêu cực hơn tích cực.

3.2.1.3 Hoàn thiện chính sách tín dụng

Hệ thống này cần được hoàn thiện theo xu hướng xóa bỏ sự ưu tiên, ưu đãi có phân biệt giữa DNNN và DNTN trong cùng ngành nghề,cùng lĩnh vực… Việc tạo cơ hội tiếp cận nguồn tài chính tín dụng công bằng giữa DNNN và DNTN là cần thiết. Trong những năm vừa qua các DNNN vẫn nhận được sự ưu tiên, ưu đãi từ hệ thống ngân hàng Nhà nước như: Một là, DNNN được ưu tiên trong việc vay vốn trung và dài hạn: Hai là,DNNN có thể vay vốn bằng ngoại tệ với lãi suất thấp hơn lãi suất bằng tiền nội địa, trong khi đó khu vực tư nhân rất khó tiếp cận đối với nguồn vay này. Để xóa bỏ sự phân biệt trên, các giải pháp có thể là:

- Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào hoạt động ngân hàng.

- Cổ phần hóa các ngân hàng Thương mại Nhà nước

- Mở các trung tâm làm dịch vụ vay vốn phục vụ các DNTN. Vì theo kết quả điều tra, một trong những nguyên nhân gây trở ngại đối với khu vực tư nhân trong việc vay vốn là tình trạng thiếu kiến thức và thông tin trong các thủ tục vay vốn của hệ thống ngân hàng.

- Cần triệt để xóa bỏ cơ chế đầu tư xin cho bằng con đường cấp phát, Nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp được thực hiện thông qua các công ty tài chính nhà nước đây là một tổ chức tài chính có chức năng kinh doanh vốn

của nhà nước nhằm mục đích: Chuyển từ cơ chế nhà nước cấp phát vốn sang cơ chế nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp; xác lập rõ quyền chủ sở hữu về vốn của nhà nước và quyền sử dụng vốn của doanh nghiệp; chuyển phương thức quản lý tài chính mang tính hành chính sang phương thức kinh doanh vốn theo cơ chế thị trường, góp phần thực hiện nhanh quá trình công ty hóa DNNN và xóa bỏ chế độ chủ quản của cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp. Các công ty đầu tư Nhà nước chịu trách nhiệm trước Nhà nước về kinh doanh vốn, bảo toàn và phát triển vốn, chia lãi với doanh nghiệp và chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp theo vốn góp cổ phần. Chấm dứt việc sử dụng vốn nhà nước để bù lỗ, xóa nợ cho các DNNN.

Phải từng bước củng cố và phát triển vững chắc thị trường chứng khoán, các công ty đầu tư tài chính nhằm thu hút nguồn vốn xã hội và bên ngoài, theo nguyên tắc các DNNN tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó Nhà nước cần có những chính sách cụ thể, hợp lý để khuyến khích các doanh nghiệp trong quá trình tham gia hội nhập như ưu tiên tín dụng ( chẳng hạn vay với lãi suất thấp, giảm mức thuế..), sửa đổi bổ sung những ưu đãi thuế cho sản xuất hàng xuất khẩu, thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu

Với các giải pháp trên sẽ không chỉ tạo điều kiện lành mạnh hóa nền tài chính của bản thân các DNNN mà còn cải thiện nền tài chính nói chung, điều này sẽ tạo lập cơ sở vững chắc cho các doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế.

3.2.1.4 Hoàn thiện chính sách về đổi mới công nghệ

Để đổi mới công nghệ ở các DNNN, trước hết Việt Nam phải có một chiến lược quốc gia về đổi mới công nghệ, đặt đổi mới công nghệ của DNNN trong một chiến lược tổng thể chung. Chiến lược phải thể hiện rõ: quan điểm, mục tiêu của đổi mới công nghệ, các định hướng ưu tiên phát triển công nghệ, các giải pháp chiến lược, lộ trình đổi mới công nghệ quốc gia. Để thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các DNNN cần thực hiện các giải pháp sau:

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật cần thiết để thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học vào đổi mới công nghệ; ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao vào quá trình sản xuất của các DNNN. Cụ thể là, hoàn thiện quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ; nâng cao năng lực của các cơ quan giải quyết tranh chấp về sở hữu chí tuệ; xử lý các vi phạm về bản quyền; thể chế hóa các giao dịch, hợp đồng mua bán, chuyển giao công nghệ; làm rõ cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách đặc thù cho các DN khoa học công nghệ, trong đó phân định rõ hoạt động khoa học công nghệ có tính công ích (nghiên cứu, sáng tạo khoa học công nghệ mới, công nghệ cao; nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao) và hoạt động kinh doanh của DN khoa học công nghệ (chuyển giao công nghệ có tính thương mại; đầu tư góp vốn bằng bí quyết công nghệ sản xuất đại trà).

- Xây dựng hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho chuyển giao và đổi mới công nghệ như: thiết lập mạng lưới thông tin về công nghệ, xây dựng hệ thống tư vấn về công nghệ, hệ thống thẩm định; đào tạo cán bộ, hệ thống nghiên cứu và triển khai, hệ thống tài chính phục vụ cho đổi mới công nghệ, mạng lưới xúc tiến đầu tư nước ngoài.

- Thúc đẩy liên kết đầu tư đổi mới công nghệ thông qua liên kết viện - doanh nghiệp; Viện - Nhà nước - Doanh nghiệp; Viện - Ngân hàng/ tổ chức tài chính - Doanh nghiệp. Hạn chế đầu tư trực tiếp cho các hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ theo cơ chế “xin-cho”, chuyển sang đầu tư gián tiếp như tạo điều kiện hạ tầng, hoàn thiện khung khổ pháp luật thị trường khoa học công nghệ và chế tài, hình thành quỹ khoa học công nghệ, hỗ trợ hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm, đầu tư từ ngân sách vào hoạt đông khoa học công nghệ gắn với nhu cầu của DN.

- Sử dụng các công cụ thuế thúc đẩy đổi mới công nghệ: doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí các khoản chi cho các hoạt động ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao…

- Quy định chế độ khấu hao nhanh gắn với khuyến khích đổi mới công nghệ. Đồng thời quản lý chặt chẽ các hoạt động đổi mới công nghệ nhằm hạn chế nhập khẩu các công nghệ cũ, lạc hậu. Xóa bỏ hàng rào bảo hộ. Thiết lập hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm nhằm tạo ra sức ép buộc các DNNN đổi mới công nghệ. Cùng với đó là cải thiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào chuyển giao công nghệ.

3.2.1.5 Tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới DNNN

* Đa dạng hóa hình thức chuyển đổi sở hữu

Đây là một giải pháp không thể thiếu được trong quá trình tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh trạnh của hệ thống DNNN. Một mặt, Nhà nước có thể thu hút các năng lực quản lý của tư nhân và các nỗ lực của tư nhân vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Mặt khác, Nhà nước có thể tập trung được các nguồn lực như vốn và khả năng quản lý của mình vào các lĩnh vực khác cần có sự có mặt của DNNN. Trên cơ sở đó đẩy mạnh thực hiện chủ trương huy động vốn toàn xã hội để đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, tạo điều kiện để người lao động tham gia làm chủ thực sự, tạo động lực thúc đẩy phát triển doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước. Để có thể đẩy mạnh việc thực hiện giải pháp này, Chính phủ cần phải giải tỏa các vướng mắc về mặt tư tưởng của cán bộ ở các Bộ và các cấp chủ quản và các thủ tục hành chính. Chính phủ cần hoạch định một chương trình toàn diện bao gồm các hình thức như: giao bán cho tư nhân, cho thuê và cổ phần hóa.

Giao, bán cho tư nhân:

Trong thời gian tới, Nhà nước nên mở rộng diện DNNN thuộc loại đem bán, không hạn chế trong giới hạn có quy mô nhỏ dưới 5 tỷ đồng và không nhất thiết phải gắn với việc không cổ phần hóa được thì mới bán, miễn là DNNN đó không nằm trong diện mà Nhà nước phải nắm giữ 100% vốn.

Nhằm khuyến khích, hỗ trợ và tạo động lực thực hiện giải pháp giao doanh nghiệp cho người lao động, không nên ràng buộc điều kiện phải thanh toán lại cho nhà nước 30% giá trị doanh nghiệp được giao tại thời điểm tiến hành giao doanh nghiệp.

Hình thức cho tư nhân thuê:

Đây là hình thức đã được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc các ngành vận tải, thương mại và nông lâm nghiệp. Đó là các hình thức khoán xe, máy của các DNNN thuộc cục vận tải đường sông, vận tải biển; cơ chế giao đất, khoán rừng trong các nông lâm trường … Trong thời gian tới chúng ta sẽ phải tiếp tục sử dụng các biện pháp này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của các DNNN. Để thực hiện có hiệu quả hình thức này, chính phủ cần phải xúc tiến ngay các biện pháp:

- Tổ chức ngay các đợt khảo sát các hình thức khoán đang diễn ra một cách tự phát trong các lĩnh vực trên.

- Hợp pháp hóa các hình thức khoán.

- Ban hành các quy định cụ thể để thực hiện các hình thức này.

Cổ phần hóa:

Thực tiễn tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp diễn ra chậm chạp trong những năm vừa qua ở Việt Nam bắt buộc chúng ta phải nhận thức rằng công cuộc cấu trúc lại khu vực DNNN để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN ở nước ta cần phải tiến hành trong một thời gian dài. Như chúng ta đã biết, có rất nhiều trở ngại cản trở tiến trình cổ phần hóa ở nước ta như:

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa chưa được quán triệt đầy đủ dẫn đến nhận thức sai lệch về chủ trương cổ phần hóa.

Ở nhiều doanh nghiệp, cán bộ lãnh đạo sợ mất cương vị gắn liền với những quyền lợi về mặt vật chất và tinh thần, người lao động chưa hiểu rõ

Một phần của tài liệu Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước sau khi việt nam ra nhập WTO luận văn ths kinh tế 60 31 01 pd (Trang 76 - 94)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(114 trang)