TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
2.2. Thực trạng công tác quản lý tài chính tại trường đại học Sư phạm Kỹ
2.2.3. Quản lý phân phối kết quả hoạt động tài chính
Sau khi phân tích nguồn thu và các khoản chi, ta có bảng cân đối nguồn tài chính của nhà trường giai đoạn 2014 – 2018 như sau:
57
Bảng 2.5: Bảng cân đối tài chính
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm
2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018 Tổng nguồn thu 344,182 359,011 397,352 428,747 490,937 Tổng các khoản chi 246,596 270,471 269,539 372,507 394,224 Chênh lệch (thu - chi) 97,586 88,540 127,813 56,240 96,713
Thu/chi (lần) 1.40 1.33 1.47 1.15 1.25
Nguồn: BCTC năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 của trường ĐH SPKT TPHCM Dựa vào bảng trên ta thấy tình hình tài chính của nhà trường tương đối ổn định, tổng nguồn thu luôn cao hơn tổng các khoản chi, kết quả chênh lệch thu chi hàng năm đều có dư, cao nhất là năm 2016 và giảm mạnh trong năm đầu tự chủ (2017) và tăng trở lại vào năm 2018. Để quan sát rõ hơn diễn biến này ta cùng xem xét dựa trên biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.8: Chênh lệch thu chi giai đoạn 2014 – 2018. Nguồn: BCTC
Qua biểu đồ trên ta thấy chênh lệch thu chi của nhà trường giai đoạn 2014 – 2018 không đồng đều, trong đó chênh lệch cao nhất nằm ở giai đoạn 2016 – 2017, tổng thu năm 2017 chỉ tăng khoảng 31 tỷ nhưng tổng các khoản chi tăng gần 103 tỷ, do đó, chênh lệch thu chi trong năm 2017 giảm hơn 71 tỷ so với năm 2016. Theo lý
58
giải ở phần phân tích tổng các khoản chi ta thấy sự biến động này một mặt là do nhà trường phải tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên do nguồn kinh phí từ NSNN cấp giảm mạnh (43.5 tỷ) trong năm đầu thí điểm tự chủ, mặt khác, nhà trường đã chi rất nhiều khoản nhân dịp kỷ niệm 55 năm thành lập trường và đầu tư vào CSVC để tăng cường chất lượng giảng dạy, nghiên cứu. Tuy nhiên, sang năm 2018, chênh lệch thu chi tăng hơn 40 tỷ so với năm 2017 và đạt mốc gần 100 tỷ/năm, đối với những trường tự chủ một phần kinh phí chi thường xuyên, khi Nhà nước khống chế trần học phí và các khoản thu sự nghiệp khác không biến động nhiều thì mức chênh lệch thu chi như trên thể hiện sự cố gắng và hướng đi đúng trong công tác QLTC của Ban Lãnh đạo nhà trường.
Theo quy định của Nhà nước, số chênh lệch thu chi hàng năm sẽ được phân bổ
để trích lập quỹ cơ quan: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ ổn định thu nhập và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.
Về trích lập quỹ cơ quan của nhà trường giai đoạn 2014 – 2018:
Từ chênh lệch thu chi hàng năm, nhà trường trích lập các quỹ cơ quan dùng để chi cho các hoạt động phát sinh trong năm như sau:
Bảng 2.6: Trích lập quỹ cơ quan
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Quỹ khen thưởng 1,000 6,066 6,058 5,600 6,000 Quỹ phúc lợi 15,000 20,336 20,305 14,932 24,390 Quỹ ổn định thu nhập - 141 58 - - Quỹ phát triển HĐSN 26,916 57,918 91,000 32,940 62,467 Tổng trích lập quỹ 42,916 84,461 117,421 53,472 92,857
Nguồn: BCTC năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 của trường ĐH SPKT TPHCM Hàng năm nhà trường dành hầu hết khoản chênh lệch thu chi để trích lập các quỹ: khen thưởng, phúc lợi, ổn định thu nhập và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.
Việc trích lập quỹ do kế toán trưởng để xuất với Hiệu trưởng nhà trường theo dự kiến các khoản chi phát sinh trong năm sau. Mức trích lập từng quỹ so với tổng trích lập quỹ hàng năm được thể hiện qua các biểu đồ sau:
59
Biểu đồ 2.9: Cơ cấu trích lập quỹ cơ quan
60 Biểu đồ 2.9 cho thấy:
- Quỹ khen thưởng chiếm từ 5 đến 10% trong 4 năm gần đây chiếm vị trí thứ 3 trong các nguồn quỹ cơ quan được trích lập trong năm, trong đó cao nhất là năm 2017 (10.47%) do trong năm này nhà trường chi thưởng lễ 55 năm thành lập trường mặc dù tổng chênh lệch thu chi trong năm 2017 theo phân tích ở phần trên là thấp nhất trong giai đoạn nghiên cứu.
- Quỹ phúc lợi chiếm vị trí thứ 2 với tỷ lệ trích từ 17 đến 35%, quỹ này ổn định trong 2 năm sau TCTC với mức trích từ 26 đến 28%.
- Quỹ phát triển HĐSN luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn quỹ cơ quan được trích lập trong năm với tỷ lệ ổn định từ 62 đến 69%. Cho thấy nhà trường luôn quan tâm đến việc đầu tư phát triển để nâng cao chất lượng đào tạo.
- Quỹ ổn định thu nhập được trích khong đáng kể, trong suốt giai đoạn nghiên cứu là 5 năm thì chỉ có 2 năm là nhà trường trích quỹ ổn định thu nhập với tỷ lệ rất thấp so với các quỹ khác.
Tổng hợp chi quỹ cơ quan của nhà trường giai đoạn 2014 – 2018 được tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 2.7: Tổng chi từ quỹ cơ quan giai đoạn 2014-2018
Đơn vị tính: Triệu đồng Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Chi khen thưởng 1,889 2,110 1,908 2,060 1,800
Chi phúc lợi 13,718 14,040 17,083 18,704 23,000
Dự phòng ổn định thu nhập - 33 35 109 100
Chi đầu tư phát triển HĐSN 14,697 1,067 16,512 31,874 49,394 Tổng chi từ các quỹ 30,304 17,250 35,538 52,747 74,294
Nguồn: BCTC năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 của trường ĐH SPKT TPHCM Nhà trường sử dụng quỹ cơ quan chủ yếu là chi khen thưởng, lễ tết, phúc lợi cho CBVC và đầu tư CSVC của trường. Trong 2 năm 2015 và 2016 mặc dù trích lập quỹ cao nhưng tổng chi từ các quỹ lại không cao. Ngược lại, năm 2017 và 2018 mặc dù trích lập quỹ thấp (do chênh lệch thu chi 2 năm này thấp) nhưng nhà trường dành sự quan tâm và đầu tư lớn chi cho con người và CSVC, tổng chi đạt mức rất cao so với tổng trích lập quỹ.
61