Bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái biển

Một phần của tài liệu DT12189-1628476750326-83415064-881 (Trang 44 - 47)

2. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC 1570 VÀ KẾ HOẠCH 798

2.6.1. Bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái biển

Biển Đông và các vùng biển Việt Nam được ghi nhận là một trong những nơi có mức độ đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái (HST), các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu. Trong bối cảnh BĐKH ngày càng trở lên khắc nghiệt, việc bảo vệ, phát huy các giá trị hệ sinh thái càng trở lên quan trọng. Các Bộ, ngành và địa phương có biển đã tích cự trồng rừng ngập mặn, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái ven biển, quy hoạch các khu bảo tồn biển.

Để đánh giá mức độ khả năng phục hồi các HST điển hình (gồm rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành nghiên cứu mặt rộng các vũng bịnh, vùng cửa sông, vùng đầm phá và 04 vùng trọng điểm. Kết quả cho thấy hầu hết các HST rừng ngập mặn có khả năng tự phục hồi cao trong tự nhiên (Ví dụ như ở Vịnh Hạ Long, vùng cửa sông Đồng Nai). HST thảm cỏ biển rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường. Nơi sinh sống của cỏ biển trải dài và những đặc trưng khác nhau do vậy việc tự phục hồi của chúng ảnh hưởng rất nhiều bởi những yếu tố tác nhân bên ngoài HST (ví dụ như HST thảm cỏ biển ở Vịnh Hạ Long hầu như không có cơ hội để phục hồi tự nhiên do có quá nhiều tác động do hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản ở khu vực này). Cỏ biển trong đầm phá Tam Giang – Cầu Hai tồn tại được qua các năm không chỉ hoàn toàn do khả năng tự phục hồi tự nhiên mà còn do được bảo vệ môi trường sống. Đặc biệt những vùng xa đất liền ít bị tác động của các hoạt động của con người thì khả năng tự phục hồi rất cao như các thảm cỏ biển ở Côn Đảo hoàn toàn có thể tự phục hồi để giữ ổn định tính đa dạng sinh học cũng như các chức năng của thảm cỏ biển trong môi trường chung. Tương tự như HST thảm cỏ biển, HST rạn san hô cũng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các yếu tố môi trường và các hoạt động khai thác của con người. Như HST rạn san hô rất khó có sự phục hồi tự nhiên ở khu vực Vịnh Hạ Long và Cát Bà do chất đáy và môi trường ngày càng trở lên khắc nghiệt hơn đối với ấu trùng san hô. San hô sẽ chỉ còn phân bố ở độ sâu nhỏ hơn để có thể tiếp nhận được ánh sáng trong khi san hô ở dưới sâu 5-6m sẽ dần bị trầm tích bùn vùi lấp và bị chết do không còn đủ ánh sáng cho tảo quang hợp. Tuy nhiên ở Côn Đảo thì ngược lại, vùng Côn Đảo

có ít những tác động của con người do vậy HST rạn san hô ở đây vẫn có khả năng phục hồi tự nhiên sau các tai biến do bão.

Đánh giá chỉ tiêu giám sát 3.5 về diện tích và chất lượng các rạn san hô

Các kết quảđiều tra, nghiên cứu san hô và rạn san hô năm 2010, 2011 và năm 2015, đã xác định được tổng cộng 444 loài san hô tại 19 đảo ở biển Việt Nam, trong đó có 378 loài san hô cứng (Đỗ Văn Khương và nnk., 2015). Nguyễn Văn Long và Võ Sĩ Tuấn (2014) trên cơ sở tập hợp các dẫn liệu trước đó và bổ sung gần đây đã ghi nhận 403 loài san hô cứng tạo rạn thuộc 75 giống có ở vùng biển ven bờ Việt Nam. Các địa điểm nghiên cứu có diện tích rạn phân bố cao nhất lần lượt là Lý Sơn, Phú Quý và Bạch Long Vĩ. Các địa điểm có diện tích rạn phân bố thấp nhất là đảo Hòn Mát, Ba Mùn và Đảo Trần thuộc khu vực biển Bắc Bộ. Tại các địa điểm nghiên cứu khác diện tích ran san hô cũng có sự khác nhau khá lớn.

Đánh giá chung trên 4 vùng biển Việt Nam, độ phủ san hô sống tại khu vực Tây Nam Bộ có độ phủ cao nhất, tiếp đến là khu vực Đông Nam Bộ, hai khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ có độ phủ thấp nhất. Xét chỉ tiêu độ phủ san hô sống trung bình tại từng đảo nghiên cứu cho thấy, độ phủ san hô sống có xu hướng tốt hơn tăng dần từ Bắc vào Nam. Độ phủ san hô sống thấp nhất ở Lý Sơn (7,40%) và cao nhất tại Phú Quốc 24,67%, trung bình độ phủ san hô trên toàn vùng là 17,65%. Một số các chỉ tiêu hợp phần đáy như hải miên (SP), san hô mềm (SC) cũng thể hiện xu hướng tăng dần theo vùng ven biển từ Bắc vào Nam. Chỉ tiêu bùn (SI) ghi nhận cao nhất tại các đảo nghiên cứu thuộc khu vực vùng biển Bắc Bộ. Về chất lượng rạn, chỉ có 2 địa điểm nghiên cứu là Côn Đảo và Phú Quốc có chất lượng rạn gần đạt tới bậc 2, rạn phát triển ở mức trung bình. Các đảo còn lại hiện trạng rạn san hô xếp loại bậc 1, rạn phát triển nghèo nàn.

Viện Tài nguyên và Môi trường Biển từ năm 2010 - 2015 đã khảo sát tại phần lớn các rạn san hô quan trọng với phạm vi từ Bắc vào Nam. Tổng hợp kết quả nghiên cứu của dự án trong ba năm 2010, 2011 và 2015, trong đó 5 đảo nghiên cứu năm 2015 là Hòn Mát, Hòn La, Cồn Cỏ, Hòn Cau và Thổ Chu được so sánh với chính kết quả nghiên cứu của dự án trong năm 2010 - 2011 tại các đảo này. 14 đảo còn lại được so sánh với các công trình nghiên cứu gần đây để phân tích và đánh giá.

Tại thời điểm của các nghiên cứu trước năm 2010, độ phủ san hô sống phần lớn các địa điểm rạn phát triển ở mức trung bình (bậc 3: 31 - 50%), trong đó Hải vân - Sơn Chà, rạn phát triển tốt (bậc 4: 51 - 75%), tính trung bình toàn vùng là 27,29% ở mức rạn phát triển trung bình (bậc 3: 31 - 50%). Kết quả điều tra hiện trạng từ năm 2010 - 2015 cho thấy toàn bộ 19 khu vực rạn san hô phân bố từ Bắc đến Nam, kể cả tại các KBTB đều ở hiện trạng rạn phát triển xấu và rất xấu (bậc 1, bậc 2), độ phủ trung bình cho toàn vùng là 17,65%, thể hiện mức suy giảm mạnh là 9,64%. Tại mỗi địa điểm mức suy giảm từ -1% đến -3%/năm, trung bình trên toàn vùng khoảng 1,74%/năm, một số địa điểm có mức suy giảm > 4%/năm thường là các khu vực đã từng có sự suy thoái rạn đột biến nghiêm trọng, san hô chết hàng loạt như Cát Bà, Hải Vân - Sơn Chà, Lý Sơn, Nam Yết và đặc biệt là rạn san hô Cô Tô chưa phục hồi lại sau khoảng 10 năm suy thoái.

Tại các khu bảo tồn biển, vẫn có hiện tượng suy thoái nhẹ, mức suy thoái trung bình khoảng 0,72%/năm. Tại hai KBTB Hòn Cau và Cồn Cỏ đã ghi nhận mức độ duy trì và có xu hướng tăng nhẹ trong giai đoạn sau.

Tóm lại, so với các nghiên cứu trước khoảng 5 - 10 năm, hiện trạng rạn san hô đã bị suy thoái từ mức rạn phát triển trung bình (bậc 3) xuống mức rạn phát triển nghèo nàn (bậc 1, bậc 2). Điều này thể hiện xu hướng suy thoái rạn san hô đang diễn ra trên toàn vùng từ khu vực phía Bắc đến Nam biển Việt Nam. Đối với các KBTB luôn cho thấy sự suy thoái nhẹ hơn các khu vực khác khoảng 2 đến 3 lần. Một số KBTB rạn san hô ở mức duy trì hoặc có xu hướng tăng nhẹ trong 4 năm gần đây.

Như vậy, chỉ tiêu năm 2015 diện tích và chất lượng các rạn san hô không giảm so với năm 2010 đã không đạt được. Đối với năm 2020 hiện chưa có số liệu thống kê đểđánh giá.

Đánh giá chỉ tiêu giám sát 3.6 về diện tích và chất lượng các thảm cỏ biển

Ở vùng biển Việt Nam, người ta đã xác định được 16 loài cỏ biển thuộc 4 họ, 9 chi. Đó là cỏ Xoan, cỏ Vích, cỏ Lá dừa, cỏ Kiệu, cỏ Hẹ, cỏ Năn biển, cỏ Đốt tre, cỏ Lươn, và cỏ Kim… Diện tích các thảm cỏ biển ở Việt Nam là khoảng18.130 ha và rất dễ thay đổi do tác động của các yếu tố tự nhiên hoặc nhân tác.

Các khu vực cỏ biển được phân bố dọc bờ biển từ biên giới phía Bắc của Việt Nam với Trung Quốc, đến tận biên giới Tây Nam với Campuchia, nhưng chủ yếu là các khu vực miền nam. Tình trạng hiện tại của các vùng cỏ biển Việt Nam chưa có đánh giá chính xác, nhưng nói chung, các vùng ven biển Việt Nam đang bịảnh hưởng nặng nề bởi những trầm tích và ô nhiễm trong nguồn nước và do nông nghiệp.

So với các kết quả công bố trước đây về diện tích các thảm cỏ biển ven bờ, ven các đảo, kết quả nghiên cứu cho thấy sự suy giảm đáng kể về diện tích phân bố. Các đảo ven bờ Bắc Trung Bộđang bị suy thoái nặng với tốc độ trung bình 6 - 7%/năm (cấp độ II - III) như Lý Sơn, vịnh Nha Trang. Các thảm cỏ ven bờ Nam Trung Bộ suy giảm chậm hơn với tốc độ trung bình năm khoảng 3 - 5%/năm (cấp I - II) như Hòn Cau, Phú Quý. Tốc độ suy giảm các thảm cỏ phía Nam Bộ thấp hơn phía Trung Bộ với trung bình khoảng 3%/năm như Phú Quốc, Côn Đảo.

Đánh giá chỉ tiêu 3.4 về chỉ tiêu “Diện tích rừng ngập mặn ven biển, quanh các đảo”

Theo số liệu tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc và số liệu báo cáo từ các địa phương, diện tích rừng ngập mặn năm 2010 là 117.000 ha. Diện tích rừng ngập mặn năm 2016 và 2019 là 142.881 ha (tăng 22,12 % so với năm 2010) và 152.359 ha (tăng 30,22 % so với năm 2010). Như vậy chỉ tiêu này đã đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.

Một phần của tài liệu DT12189-1628476750326-83415064-881 (Trang 44 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(108 trang)