Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIAO DỊCH TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
2.1.2. Theo Tập quán thương mại quốc tế
Tập quán thương mại quốc tế là những quy tắc xử sự có hệ thống, những thói quen thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục trong một thời gian dài. Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý và có hiệu lực bắt buộc đối với chủ thể ký kết khi nó đƣợc quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng. Điều 135 quy tắc của ICC về trọng tài quy định: “ các trọng tài không chỉ áp dụng luật áp dụng mà còn phải dùng tới các
67
điều khoản trong hợp đồng và những “tập quán thương mại” thích hợp để giải quyết vụ việc”
- UCP 600:
UCP ra đời nhằm phục vụ cho phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Đó là một tuyển tập thông lệ và tập quán quốc tế của một trong các tổ chức phi Chính phủ nổi tiếng nhất thế giới: Phòng thương mại quốc tế(ICC). UCP 600 đƣợc đánh giá là bản quy tắc có tính ƣu việt nhất, dễ sử dụng nhất từ trước đến nay. Ở các quốc gia chưa có luật riêng biệt về thanh toán quốc tế đều thống nhất sử dụng UCP 600 nhƣ một văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ. Nội dung của UCP600 nằm trong 39 điều quy định cụ thể về: phạm vi áp dụng UCP, cách định nghĩa giải nghĩa các khái niệm; bộ chứng từ xuất trình đầy đủ gồm các loại chứng từ:
bảo hiểm, , vận tải hảng không, đường sắt, đường thủy, hóa đơn thương mại...và hợp lệ nhƣ thế nào, chuẩn mực về kiểm tra chứng từ, chứng từ sai biệt, tín dụng thƣ chuyển nhƣợng...
So với bản UCP 500 thì UCP 600 đƣợc cấu trúc lại phù hợp với cấu trúc thông thường của các văn bản pháp lý quốc tế. Về cách diễn đạt nội dung, câu chữ rất cụ thể, logic. Về nội dung: UCP 600 loại bỏ những nội dung không thuộc đối tƣợng áp dụng của UCP 600 ví dụ những nội dung liên quan đến yêu cầu mở thƣ tín dụng, các chỉ thị không rõ ràng( điều 12); hủy bỏ một thƣ tín dụng ( điều 8); tín dụng có thể hủy bỏ và không thể hủy bỏ; lệnh phát hành, sửa đổi một thư tín dụng ( điều 5); chứng từ vận tải do người giao nhận phát hành( điều 30); các chứng từ khác( điều 38). UCP 600 cập nhật một số điều khoản mới: Điều 2, Điều 3; Điều 9; Điều 12; Điều 15; Điều 17. UCP 600 giảm thiểu những mâu thuẫn giữa các điều khoản với nhau; đƣa ra khoảng thời gian cụ thể cho việc chấp nhận hoặc từ chối bộ chứng từ không hợp lệ là 5 ngày làm việc ngân hàng( banking day) thay vì 7 ngày làm việc trước đây
68
quy định trong UCP 500; UCP 600 đã loại trừ việc sử dụng những từ, cụm từ mơ hồ, khó hiểu, thường dẫn đến hiểu lầm và xảy ra tranh chấp trong UCP 500 nhƣ: khoảng thời gian hợp lý.
- ISBP681 2007 ICC( Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thƣ tín dụng phát hành số 681, sửa đổi năm 2007 ICC, tuân thủ UCP 600
Văn bản này phản ánh tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng thể hiện sự nhất quán với UCP cũng nhƣ các quan điểm và các quyết định của ủy ban ngân hàng của UCP. Tập quán giải thích một cách chi tiết và rõ ràng hơn các quy tắc của UCP và cách áp dụng trong giao dịch hàng ngày của phương thức thanh toán bằng thư tín dụng. Thông qua việc sử dụng ISBP những người kiểm tra chứng từ đặc biệt là ngân hàng phát hành thư tín dụng trên toàn thế giới có tiếng nói chung. Các điều khoản của ISBP đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu các quy định kiểm tra chứng từ xuất trình theo L/C của nhiều ngân hàng trên thế giới và các tranh chấp đã đƣợc giải quyết cũng như các trường hợp vướng mắc được phòng Thương mại quốc tế giải đáp.
Nội dung của ISBP thường được chia thành nhiều phần:
+ Phần mở đầu: từ mục 1 đến mục 5
+ Những nguyên tắc chung: từ mục 6 đến mục 42
+ Hối phiếu và cách tính ngày đáo hạn: từ mục 43 đến mục 56 + Hóa đơn: mục 57 đến mục 67
+ Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau: mục 68 đến mục 89
+ Vận tải đơn( đường biển, theo hợp đồng thuê tàu, hàng không):
mục 91 đến mục 156
69
+ Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường sông: mục 157 đến mục 169
+ Chứng từ bảo hiểm: mục 170 đến mục 180
+ Giấy chứng nhận xuất xứ: mục 181 đến mục 185.
Một điều hiển nhiên có thể nhận thấy ảnh hưởng của UCP 600 và ISBP 681 đến hoạt động thương mại quốc tế rất lớn, đó là: ngăn ngừa nguy cơ giảm sút vai trò của tín dụng chứng từ trong thương mại quốc tế, nhờ các quy định rõ ràng, tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ linh hoạt hơn, làm giảm thiểu lượng chứng từ có sai biệt. UCP600 tăng cường sử dụng các quy tắc, tập quán quốc tế khác của ICC nhƣ: URR525; ISBP thông qua đó những vấn đề mà UCP chƣa bao quát đƣợc sẽ đƣợc giải quyết cụ thể trong các tập quán trên;
đƣa ra những quy định cụ thể liên quan đến L/C chuyển nhƣợng, phù hợp với hoạt động thương mại ba bên đang ngày càng phát triển tại các nước. UCP600 và ISBP681 đƣa ra tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ chặt chẽ nhằm chống lại hành động giả mạo bộ chứng từ thanh toán
- eUCP 1.1 – Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử - Bản diễn giải số 1.1 năm 2007 có hiệu lực từ ngày 1/7/2007:
Gồm 12 điều từ e1 đến e12. Bản phụ trương các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ đối với xuất trình chứng từ điện tử(
eUCP) bổ sung vào các Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ nhằm điều chỉnh việc xuất trình các chứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất trình các chứng từ bằng văn bản.
- URR 525 1995 ICC ( Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thƣ tín dụng): Bản quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo Thƣ tín dụng, số phát hành 525 của ICC sẽ áp dụng cho tất cả các giao dịch hoàn trả giữa các ngân hàng, khi mà các điều khoản là bộ phận cấu thành của Ủy quyền hoàn trả. Quy tắc này ràng buộc các bên
70
tham gia, trừ khi có thỏa thuận khác rõ ràng trong ủy quyền hoàn trả. Trong việc hoàn trả tiền giữa các ngân hàng tuân thủ Quy tắc này, ngân hàng hoàn trả hành động theo các chỉ thị hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành.
Trong giao dịch tín dụng chứng từ các công ƣớc quốc tế và tập quán quốc tế có vai trò quan trọng, là cơ sở pháp lý cho việc ký kết tham gia hoạt động thanh toán quốc tế. Trên thế giới có những quốc gia đã có Luật để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ và có những quốc gia chƣa có Luật riêng biệt. Nếu các quốc gia đã có Luật riêng biệt thì các quy định của Luật quốc gia về cơ bản sẽ là “luật hóa” các quy định trong tập quán quốc tế mà từ xa xƣa trong lịch sử giao dịch thanh toán quốc tế đã chấp nhận. Đối với những quốc gia chƣa có Luật riêng biệt thì việc áp dụng công ƣớc quốc tế, tập quán quốc tế với nội dung không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, điều này cũng không có nghĩa việc áp dụng là đương nhiên. Đơn cử việc áp dụng UCP- UCP không có giá trị ràng buộc đối với Tòa án vì đó không phải là luật quốc gia và cũng không phải là điều ƣớc quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết. Từ góc độ pháp lý thì UCP đƣợc áp dụng để điều chỉnh thƣ tín dụng khi có sự lựa chọn của các bên về việc áp dụng. Và thực tế là UCP được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thương mại.
2.2. Khảo cứu pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ:
Ở các quốc gia theo hệ thống Thông luật nhƣ Anh –Mỹ do pháp luật hợp đồng của các quốc gia này hầu nhƣ không có sự phân biệt giữa lĩnh vực thương mại hay lĩnh vực dân sự, mọi tranh chấp dù là mục đích gì giữa các chủ thể với nhau đều được giải quyết theo một phương thức và thủ tục giống nhau[32, tr.332].
Ngƣợc lại đối với các quốc gia theo hệ thống Dân luật La Mã nhƣ:
Pháp, Đức, Italia...thì pháp luật của các quốc gia có sự phân biệt hoạt động kinh doanh và hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của pháp luật thương
71
mại bên cạnh pháp luật dân sự. Chính sự phân biệt này đã dẫn đến hệ quả là hành vi thương mại thì sẽ ưu tiên áp dụng Luật thương mại, những vấn đề mà Luật thương mại không quy định thì mới áp dụng pháp luật dân sự và những tranh chấp phát sinh từ hành vi thương mại có thể được giải quyết bằng các phương thức riêng như trọng tài thương mại và Tòa án[32, tr.332].
* Pháp luật Trung Quốc:
Trong những thập niên gần đây, Trung Quốc là quốc gia có quan hệ thương mại quốc tế rộng khắp trên toàn thế giới và phương thức thanh toán L/C được các thương gia Trung Quốc sử dụng rất phổ biến. Hệ thống pháp luật của Trung Quốc về lĩnh vực thanh toán quốc tế tương đối phát triển, thể hiện ở nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ này, đơn cử nhƣ: Luật các công cụ chuyển nhƣợng và Luật sửa đổi, bổ sung Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2004 bao gồm 7 chương. Luật này ra đời tại Trung Quốc “nhằm tiêu chuẩn hóa các hành vi trong các giao dịch thương phiếu, bảo vệ quyền lợi chính đáng và lợi ích của các bên liên quan trong giao dịch thương phiếu”.
Việc tham gia sâu rộng vào quan hệ thương mại quốc tế dẫn đến những rủi ro cho các thương nhân Trung Quốc là điều không tránh khỏi. Để tạo hành lang pháp lý để giải quyết tranh chấp khi phát sinh, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành quy định hướng dẫn cách thức xét xử các vụ kiện tụng, tranh chấp về tín dụng chứng từ theo một chuẩn mực. Quy định có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 không chỉ hướng dẫn Tòa án cách thức giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến L/C mà còn có tính chất hướng dẫn nghiệp vụ L/C áp dụng ở Trung Quốc
Điều 5 của Quy định có nêu lên nguyên tắc độc lập của L/C- quy định này đã phù hợp với các quy định của Điều 4 UCP600, thể hiện sự phù hợp của Quy định so với tập quán quốc tế.
72
Điều 6 quy định về việc kiểm tra chứng từ và xác định sự bất hợp lệ:
“ Khi Tòa án nhân dân xét xử một tranh chấp L/C liên quan đến việc kiểm tra các chứng từ, tòa án đó phải xét xử tranh chấp theo tập quán và thông lệ quốc tế hoặc các quy tắc khác mà các bên đã thỏa thuận. Nếu không có sự chấp thuận nhƣ thế, thì UCP của ICC và các tiêu chuẩn liên quan đƣợc ICC phê chuẩn sẽ đƣợc áp dụng để xác định các chứng từ, trên bề mặt của chúng có thể hiện phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C và có phù hợp với nhau hay không”. Quy định này xuất phát từ việc xác định tính hợp lệ của việc xuất trình chứng từ và phù hợp với chuẩn mực của ICC là sự hợp lệ của chứng từ phải đƣợc xem xét một cách linh hoạt. Điều 14 UCP 600 có nêu chuẩn mực về kiểm tra chứng từ: “ Ngân hàng đƣợc chỉ định hành động theo sự chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, ngân hàng phát hành phải kiểm tra việc xuất trình, chỉ trên cơ sở của chứng từ, để quyết định chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng tạo nên sự phù hợp hay không”. Về điểm này, một lần nữa Quy định của Tòa án nhân dân Trung Quốc và UCP 600 không thể hiện rõ thế nào là “không thể hiện hoàn toàn phù hợp”. Chứng từ xuất trình có hai khả năng: hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thƣ tín dụng và quy định của UCP hoặc không phù hợp nghĩa là bất hợp lệ. Việc xác định tính bất hợp lệ của bộ chứng từ sẽ có nhiều quan điểm không giống nhau. Tuy nhiên Tòa án nhân dân Trung Quốc đã tôn trọng tính độc lập trong kiểm tra xác định sự phù hợp xuất trình và ngân hàng toàn quyền trong việc từ chối bất hợp lệ chứng từ. Điều 7 của Quy định cho rằng ngân hàng phát hành có nghĩa vụ cũng nhƣ quyền độc lập trong việc kiểm tra chứng từ, xác định sự phù hợp của chứng từ và quyết định có chấp nhận sai sót hay không. Điều 7 cũng quy định rằng ngân hàng phát hành có thể liên hệ với người yêu cầu mở L/C nhằm mục đích xin ý kiến về việc chấp nhận các sai sót, nhưng ý kiến của người yêu cầu mở
73
L/C không ràng buộc ngân hàng phát hành liên quan đến quyết định cuối cùng của mình trong vấn đề này.
Nếu nhƣ UCP 500 và UCP 600 chƣa đề cập đến vấn đề giải quyết quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp lừa đảo thì tại Quy định đã làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C trong trường hợp có sự lừa đảo và quyền đƣa ra biện pháp khắc phục của các tòa án trong trường hợp lừa đảo.
Quy định về thủ tục pháp lý và việc áp dụng là quy định mang tính đặc thù và khác biệt trong xét xử của Tòa án Trung Quốc. Điều 14 quy định:
“Tòa án nhân dân, nếu cho rằng cần thiết, có thể ra lệnh xét xử vụ án lừa đảo L/C đồng thời với tranh chấp giao dịch cơ sở. Khi một bên kiện trên cơ sở lừa đảo thuộc giao dịch cơ sở, bên đó có thể tham gia với ngân hàng phát hành, ngân hàng chiết khấu hoặc các bên liên quan khác của L/C là bên thứ ba. Các bên thứ ba đó có thể nộp đơn tham gia tranh tụng và tòa án nhân dân có thể cũng thông báo cho bên thứ ba tham gia tranh tụng”. Quy định này trao cho các bên có liên quan quyền tham gia vào vụ án và có đầy đủ các quyền và lợi ích.
Có thể nói, Trung Quốc là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới có quy định riêng về xét xử tranh chấp liên quan đến giao dịch tín dụng chứng từ, điều này thể hiện sự phát triển của nền lập pháp Trung Quốc đáp ứng đƣợc yêu cầu của quan hệ thương mại quốc tế rất phát triển giữa các thương nhân Trung Quốc với đối tác nước ngoài.
* Pháp luật Nhật Bản:
Hệ thống pháp luật chuyên ngành của Nhật Bản bao gồm:
- Các luật về trật tự thị trường: Luật chống độc quyền, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh v.v...
- Các luật về tài chính và chứng khoán: Luật ngân hàng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật về chứng khoán và giao dịch chứng khoán v.v...
74
- Các luật thuế: Luật thuế công ty, Luật thuế thu nhập, Luật thuế thừa kế, Luật thuế tiêu thụ, Luật thuế địa phương, Luật thuế hải quan v.v...
- Các luật về bảo vệ người tiêu dùng: Luật hạn chế lãi suất, Luật điều chỉnh việc quyên vốn và gửi giữ vốn, Luật về bán hàng rong, Luật về bán hàng cho vay, Luật cấm bán hàng theo cách người bán hàng trả một khoản tiền ký cược để được quyền bán hàng của một công ty rồi bán một phần quyền đó cho những người bán hàng khác( Pyramid Selling Prohibition Law)...
- Các luật về sở hữu trí tuệ: Luật về sáng chế, Luật về kiểu dáng công nghiệp, Luật về nhãn hiệu hàng, Luật về bản quyền...
- Các luật về thương mại và ngoại hối: Luật về ngoại hối và buôn bán ngoại thương...[79, tr.956].
Nhật Bản không có Luật riêng biệt về xét xử tranh chấp giao dịch tín dụng chứng từ. Tuy nhiên pháp luật Nhật Bản có quy định rõ ràng về thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại bằng Tòa án và ngoài Tòa án, đặc biệt Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản( Japan Commercial Arbitration Association) đã ban hành Quy tắc hòa giải thương mại quốc tế ( International Commercial mediation rules) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009. Hiện nay, hòa giải được coi là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đƣợc rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản lựa chọn. Về giải quyết tranh chấp tại Nhật Bản, hệ thống pháp luật Dân sự và luật Thương mại đều quy định các phương thức: “sự thỏa hiệp” thương lượng; hòa giải, trọng tài. Hòa giải được quy định trong Luật hòa giải các vấn đề dân sự. Tại Nhật Bản, công ty vận tải biển(JSE) và Hiệp hội trọng tài Nhật Bản( JCAA) cung cấp dịch vụ trọng tài và dịch vụ cần thiết để điều hành, hòa giải các tranh chấp trong nước và quốc tế về hòa giải. Hòa giải đƣợc chia thành: hòa giải vụ việc và hòa giải thiết chế.
Cách thức tiến hành trong các vụ hòa giải được bắt đầu, theo thường lệ, trên cơ sở đơn của các bên liên quan nhƣng đôi khi các tòa án mặc nhiên chuyển