Ước mơ, lý tưởng sống của các chiến sỹ

Một phần của tài liệu Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu (Trang 55 - 68)

Chương 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ

2.2 TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

2.2.3. Ước mơ, lý tưởng sống của các chiến sỹ

a. Những mối tình đẹp qua các trang viết

Tình yêu luôn là một đề tài bất tận với văn học, là nguồn cảm hứng bao la cho những bài thơ, những tiểu thuyết dài hay những truyện ngắn. Bên cạnh giá trị phản ánh chân thực đời sống và con người Việt Nam qua các vùng miền nơi các chiến sỹ đã đi qua, bên cạnh sự tố cáo chiến tranh một cách sâu sắc nhất… những cuốn nhật ký còn mang đến cho chúng ta bài học về tình yêu, không chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ mà rộng hơn, đó còn là tình yêu thương của những người ruột thịt, niềm yêu mến của bạn bè dành cho nhau và cả tình yêu đối với những địa danh, những con người cùng chung lý tưởng trên khắp đất nước. Từng trang viết đều thấm đẫm yêu thương và nhung nhớ.

Tình yêu thương là động lực tinh thần giúp những chiến sỹ vượt qua được sự khắc nghiệt của chiến trường.

Trải dài trong từng trang viết Mãi mãi tuổi hai mươi là nỗi nhớ nhung tha thiết của anh lính binh nhì Nguyễn Văn Thạc dành cho Như Anh – người bạn gái mà anh yêu thương. Anh nhớ đến Như Anh bất cứ lúc nào, khi ngồi trên tàu hành quân đến khi rảnh rỗi trong đêm, khi không ngủ được hay khi thấy một ánh trăng đẹp, khi tâm hồn ngân lên những nốt nhạc tinh tế trước cảnh thiên nhiên đẹp. Nghe một bài hát cũng khiến anh chiến sỹ trẻ nhớ đến bạn gái và lần hẹn hò đi chơi của hai người với đầy ắp kỷ niệm, với nỗi nhớ đến quay quắt: “Ao ước lắm, một lần gặp bạn, một lần nữa thôi…”, “Chao ôi, là nhớ…Mình tưởng tượng thấy bóng dáng yêu dấu đang nép sau thân bạch đàn ứ nhựa” [29, tr 44], “Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay im lặng thế, xôn xao trong lòng ta”, “Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta rạo rực, giọng nói đánh

thức trong ta những niềm xao xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc” [29, tr 45]. Anh luôn khao khát đến ngày hòa bình để được gặp lại người bạn gái yêu dấu của mình “Luôn luôn ta mơ ước, ta khao khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kỳ dị, ta thức giấc trong hạnh phúc. Một người đang chờ ta, đang đợi ta. Đó là P, đó là P yêu dấu”, “ta khao khát một sớm mùa hạ, cùng nắm tay P trong phòng đọc sách” [29, tr 45]…

Anh vẽ ra viễn cảnh được gặp gỡ người yêu, khi đó anh sẽ kể cho cô nghe mọi chuyện, từ những con đường hành quân đầy gian lao, về những con người, những đồi phi lao, những mảnh trăng cong nỗi nhớ, về nỗi sợ hãi khi nghĩ đến việc phải xa cô vĩnh viễn… Có những khi, anh “trò chuyện cùng tấm ảnh, thổi vào tấm ảnh một linh hồn”, để có thể tâm sự với Như Anh tất cả những nỗi niềm trong lòng mình.

Khác với mối tình nồng thắm của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm lại luôn luôn khắc khoải trong từng trang viết khi nhớ về M, về mối tình dài chín năm nhưng cuối cùng lại không có cái kết có hậu. Chị luôn nhớ về tình yêu của mình, nhưng đó không phải là nỗi nhớ nồng nàn của một người đang yêu say đắm phải cách xa người yêu như Nguyễn Văn Thạc, mà nỗi nhớ luôn mang chút day dứt, dằn vặt và hoài niệm, tiếc nhớ. “M ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu của Th nữa. Giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này” [32, tr 57]. Bên cạnh đó, với chị, nỗi nhớ gia đình không lúc nào nguôi:

“Ba năm qua, trên từng chặng đường con bước, trong muôn vàn âm thanh hỗn hợp của chiến trường, bao giờ cũng có một âm thanh dịu dàng tha thiết mà sao có một âm lượng cao hơn tất cả mọi đạn bom sấm sét vang lên trong lòng con. Đó là tiếng nói của miền Bắc yêu thương, của mẹ, của ba, của em, của tất cả. Từ hàng lim xào xạc trên đường Đại La, từ tiếng sóng sông Hồng dào dạt vỗ đến cả âm thanh hỗn tạp của cuộc sống thủ đô vẫn vang vọng trong con

không một phút nào nguôi cả” [32, tr 243] Chị mong muốn được quay trở về căn nhà yêu dấu để được sống trong tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ và các em…

Dương Thị Xuân Quý thì không lúc nào nguôi được nỗi nhớ đứa con gái mới mười mấy tháng tuổi. Nhìn thấy vầng trăng chị cũng tưởng tượng đó là đôi mắt Ly đang dõi theo mẹ, trong từng trang nhật ký chị luôn kể với con những công việc hàng ngày của mình, rồi hứa với con sẽ cố gắng đạt được mục tiêu, viết được những tác phẩm hay để con tự hào. Lúc nào chị cũng

“thèm hôn lên má con và nói chuyện với con quá. Mình thì thầm hát bài Ru con và mình bật khóc. Ly ơi, chắc hôm nay Ly đã quên mẹ rồi” [26, tr 28].

Trên đường hành quân chị không kìm nổi nước mắt khi nhớ đến đứa con gái bé bỏng: “Con ơi, sáng nay mẹ đã vừa đi vừa khóc vì thương con. Mẹ khóc giữa hàng quân, người đi trước không nhìn thấy mẹ khóc, người đi sau không nhìn thấy mẹ khóc” [26, tr 34], “Nhớ Ly tê tái. Ly ơi, hôm nay mẹ xa Ly chẵn 5 tháng rồi đấy” [26, tr 112], “Ôi! Thương Ly vô hạn. Cứ nghĩ vậy là mình lại khóc. Khổ thân con quá. Đời nó có cái mốc thật lạ. Đẻ ra vừa biết cười là bom đạn. Vừa biết gọi mẹ là xa mẹ, vừa biết nói ba là tiếng nói “đi Nam”” [26, tr 51]. Có ai hiểu được nỗi lòng đau đớn như cắt từng khúc ruột khi phải xa đứa con bé bỏng của mình, có lúc xót xa quá chị lại thấy ân hận vì đã vào chiến trường: “Khổ thân con tôi. Một nỗi hối hận vò xé lòng tôi. Biết thế này tôi không đi nữa, hoặc chờ Ly lớn một chút, gửi vào trại đã. Tôi vội vàng quá”

[26, tr 86]

Với Hoàng Thượng Lân, anh không nói với ai câu “Đợi anh về” như phần lớn các chàng trai ra trận thời đó đều bày tỏ với người yêu. Cho dù có tình cảm với người bạn gái tên Thủy, nhưng Hoàng Thượng Lân không dám bày tỏ, cũng không dám chấp nhận tình cảm của Thủy. Tưởng chừng điều đó rất vô lý, nhưng hàng ngày hàng giờ đối diện với bom đạn, chết chóc, anh lo

sợ chiến trường ác liệt sẽ níu chân anh, sẽ là nơi anh nằm xuống. Nếu anh không trở về, người bạn gái của anh sẽ đau khổ biết nhường nào, anh thà hy sinh tình cảm của riêng mình để người con gái thanh thản mà quên anh cùng tình cảm của cô ấy. “Thời gian giúp chúng ta xa nhau và quên nhau. Đó là sự hy sinh của anh. Anh sẽ thắng những gì yếu đuối nhất trong tâm hồn. Xa em, từ chối tình yêu của em có nghĩa là anh yêu em, thương em. Chính anh là kẻ phân vân nhiều nhất: làm sao để em có thể hiểu được tâm trạng của anh?

Không bao giờ anh về với em đâu, anh sẽ tránh gặp em, tránh để em khỏi nhìn thấy anh và... em biết không, càng như thế, anh càng yêu em tha thiết trong một tâm trạng rối bời: sự kết thúc!” [15, tr 263 - 264]. Anh cũng luôn thường trực nỗi nhớ nhà, nhớ ba mẹ đến phát khóc: “Giờ mẹ có biết không? Con thèm được thấy mặt mẹ, hình ảnh của một buổi sáng mẹ tiễn con đi. Con muốn được mẹ vỗ về chăm sóc, an ủi con trong những ngày này” [15, tr 89].

b. Lý tưởng cách mạng, tâm hồn giàu cảm xúc của các chiến sỹ

* Lý tưởng cách mạng của các chiến sỹ

Nhật ký chiến tranh đã phản ánh chân thực lý tưởng của một thế hệ thanh niên thời bấy giờ, luôn hăm hở, quyết tâm với khẩu hiệu: “Thanh niên phải tắm mình trong ánh hào quang rực rỡ của tương lai”. Họ chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân, từ bỏ mọi thuận lợi, sung sướng để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc: Nguyễn Văn Thạc từ chối đi học để vào chiến trường, Đặng Thùy Trâm không ở lại Hà Nội với một tương lai sáng sủa mà kiên quyết bám trụ mảnh đất bom cày đạn xới để phục vụ tiền tuyến, Dương Thị Xuân Quý đã xung phong vào chiến trường khi con chưa được hai tuổi, Hoàng Thượng Lân sau khi trở về từ chiến trường với những chiến công chói lọi lại từ chối một công việc ổn định để xung phong đi B lần thứ 2… Họ là những người luôn hết mình cho Tổ quốc, sẵn sàng chiến đấu vì lý tưởng.

Trong Tài hoa ra trận, khi ngồi nghỉ trên đỉnh dốc trong một chuyến hành quân, Hoàng Thượng Lân gặp một đơn vị nữ thanh niên xung phong, hỏi ai cũng đều bảo chưa có chồng “vội chi anh, để xong xuôi đã”. Họ đã hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình cho ngày thống nhất, đợi đất nước hết bóng giặc, hết đau thương chết chóc. Đó cũng là lý tưởng chung của biết bao thanh niên thời chiến. Họ cho chúng ta một niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng không xa, cũng như Hoàng Thượng Lân đã cảm nhận: “Chúng tôi có thể đọc thấy, nhìn thấy một niềm tin sắt đá vào ngày thắng lợi cuối cùng, một sức sống tiềm tàng chứa đựng ở những khuôn mặt xanh lướt vì mệt mỏi, thiếu ngủ và nụ cười hồn nhiên của những cô gái thanh niên xung phong chúng tôi gặp hôm nay.

Đôi mắt của họ hiền hậu, nhìn sâu đọng và hứa hẹn. Tự nhiên chúng tôi thấy lòng mình lâng lâng một tình cảm thiết tha thương mến, cảm phục những cô gái thanh niên xung phong, họ sống lạc quan bên những mái lán Trường Sơn, thường xuyên chịu đựng bom đạn, gian khổ để góp phần của mình vào chiến thắng chung trên những tuyến đường ngày đêm cả đất nước đang hành quân ra trận...” [15, tr 298] Nguyễn Văn Thạc đã hy sinh những lợi ích cá nhân, anh nói với những đứa em mà cũng là nói với chính lòng mình: “Em ơi, tất cả những niềm vui bé nhỏ đó, phải biết hy sinh. Nếu em muốn đi xa hơn nữa.

Đất nước gọi em, và chìa tay đón em vào lòng, với ước mong em là đứa con khỏe mạnh và có ích. Em hãy biết bỏ qua những điều không nhỏ mà nắm lấy cái gì lớn nhất mà cánh tay em có thể dâng trọn cho Tổ quốc” [29, tr 145].

Thậm chí, khi đã thật sự làm anh lính thông tin nhưng chưa chính thức được ra mặt trận, anh còn thấy xấu hổ khi mình chưa cầm súng giết chết tên giặc nào: “Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu” [29, tr 53].

Cũng giống như những đồng đội, đồng chí của mình và thế hệ thanh niên lúc đó, Chu Cẩm Phong luôn đặt nền độc lập của nước nhà lên trên hạnh phúc của cá nhân mình, tất cả cho chiến trường, không tiếc cả tính mạng của mình. Trong trang nhật ký ngày 8.1.1970, kỷ niệm tròn 7 năm tuổi Đảng, anh đã tâm sự với chính lòng mình: “Sắp đến mình sẽ đi công tác, mình nhận đi Quảng Đà, một nơi ác liệt nhất. Mình có thể sẽ hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm. Nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình, và nhất là mẹ, sẽ đau khổ đến dường nào. Mình biết điều đó. Mình là đứa con trai được cả nhà yêu thương… Nhưng dầu thế nào mình cũng không xê dịch cái phương châm sống của mình: dũng cảm, say sưa và quên mình như những chiến sĩ cộng sản đi trước. Dẫu ngã xuống một giờ, nửa giờ trước khi ta giành thắng lợi hoàn toàn, cũng Hạnh Phúc lắm thay!” [24, tr 572]. Đã biết ra đi là chấp nhận sự thiếu thốn, gian khổ và sự hy sinh, song các chiến sỹ đều không ân hận với quyết định của mình.

Đặng Thùy Trâm cũng đã tâm sự trong những trang nhật ký về lý tưởng và mục đích chiến đấu của mình: “Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không được sống tiếp cuộc sống hòa bình hạnh phúc mà mọi người trong đó có con đã đổ máu xương để giành lại. Nhưng có gì đâu, hàng triệu người như con đã ngã xuống mà chưa hề được hưởng trọn lấy một ngày hạnh phúc. Cho nên có ân hận gì đâu.” [32, tr 167]. Hay có khi là lời tự vấn đầy tâm trạng: “Tuổi xuân của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng… tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những

ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có… Ước mơ bây giờ là đánh thắng giặc Mỹ, là Độc lập, Tự do của đất nước” [32, tr 206]

Trong thư gửi cho người vợ thương yêu ngày 22/2/1967, liệt sĩ Hoàng Kim Giao đã viết: “Anh quan niệm hạnh phúc của chúng ta vững chắc, khi chúng ta đóng góp được nhiều nhất sức lực của chúng ta cho cách mạng.

Hạnh phúc lớn lao sẽ đảm bảo hạnh phúc riêng tư của chúng ta” [11, tr 39].

Anh cũng giống như biết bao chiến sỹ thời đó, luôn hết mình vì Tổ quốc, luôn hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình cho nền độc lập của dân tộc. Một thanh niên trẻ ưu tú tốt nghiệp hai trường đại học, một nhà khoa học trẻ có nhiều đóng gió tích cực về giải pháp khoa học công nghệ với công trình “Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972” sau đã được giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Anh đã ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ, phá bom thông đường cho xe ra tiền tuyến, cho sản xuất thuận lợi. Sự hy sinh của anh cũng như biết bao liệt sỹ thời đó đã góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của đất nước ta.

Tuy nhiên, bên cạnh những hăm hở, quyết tâm phục vụ Tổ quốc ta cũng thấy thấp thoáng những dòng tâm sự rất thật về những khoảnh khắc dao động của các chiến sỹ mà có lẽ chúng ta không thể tìm thấy trong những tác phẩm văn học ra đời trong hoàn cảnh ấy. Ước mơ về một tương lai tươi sáng với ánh hào quang luôn hiện hữu trong tâm trí, mong đạt được những chiến công chói lọi… nhưng khi vấp phải thực tế khắc nghiệt đã không ít người chán nản, muốn trốn tránh, rời bỏ hàng ngũ và xa rời cả lý tưởng đã dẫn họ đến với cách mạng. Đôi lúc, nhìn mái tóc bạc của mình, Nguyễn Văn Thạc chán nản nghĩ đến người thân, đến người yêu… và không muốn gặp gỡ ai, không muốn chia sẻ với ai nữa, kể cả trang nhật ký thân yêu của mình. Có lúc, anh thấy nỗi buồn và sự trống trải xâm chiếm hoàn toàn tâm trí mình, có lúc lại thấy bị dằn vặt, buồn rầu, thậm chí cảm giác điên dại, bi quan khi nghĩ

chắc chắn mình sẽ chết và không còn được gặp lại ai nữa… Nhiều khi, anh buồn nản vì mình chưa được đứng trong hàng ngũ của Đảng vì hoàn cảnh xuất thân không thuận lợi như những người khác. Anh tự vấn lòng mình:

“Mình đi bộ đội, chẳng qua là buộc phải đi! Không đi ư, thì tức là anh đã chống lại chính sách chống lại Đảng. Đấy, những ngày đầu đi bộ đội của mình là như thế” [29, tr 181]. Có khi, trước thực tế khắc nghiệt, trước nỗi nhớ nhà, nhớ người yêu da diết, Thạc thấy chán nản: “Phải, tôi hiểu rằng với một người con trai đang khỏe mạnh, đang sung sức, đang ở giữa mùa xuân của đời mình thì buồn nản, thì chán đời là một điều xấu xa và không thể nào tưởng tượng được – Người ta đã chửi rủa biết bao lần những thanh niên như thế - Nhưng tôi biết làm sao khi chính bản thân tôi đang buồn nản đến tận cùng này” [29, tr 232]. Trong thời gian chờ đợi điều động công tác, khi mà chỉ con 3 người thì anh cảm giác “sợ quá, có cảm giác bị bỏ rơi” và khi thấy nhóm đồng chí được điều động làm “lính của Bộ” thì có một chút ghen tỵ “tụi nó sang quá, mang danh lính của Bộ, oai ghê”. Nhiều khi, anh lính binh nhì thấy buồn nản vì gần một tuổi quân nhưng chưa được đứng trong hàng ngũ của Đảng, cảm thấy chưa được Đảng tin cậy hoàn toàn. Anh băn khoăn vì hoàn cảnh xuất thân của mình không phải là thành phần gia đình “cơ bản”, có phải chăng vì thế mà ít được ưu ái hơn so với những người khác, vì “không ở đâu sự đấu tranh giai cấp lại diễn ra quyết liệt như trong quân đội cả”. Anh thổ lộ hết sức thành thật rằng: “Đôi lúc, mình có cảm giác tội lỗi rằng mình đi bộ đội là tạm thời thôi. Hình như xa nhà chỉ vài ngày và không lâu nữa lại trở về Hà Nội” [29, tr 114]. Hay khi bạn bè nhắc đến chuyện đi học nước ngoài, anh thấy chạnh lòng: “Dũng hỏi mình về chuyện đi nước ngoài. Khơi dậy làm gì chuyện ấy. Nó khiến mình buồn bã suốt một thời gian dài. Thật hèn hạ và xấu xa” [29, tr 52]

Một phần của tài liệu Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu (Trang 55 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(90 trang)