CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG Ở TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 1988-1996
2.3 Thành tựu, hạn chế và những vấn đề nảy sinh
2.3.2 Hạn chế và những vấn đề nảy sinh
Nhìn tổng quát xu hướng phân tán chia đều, manh mún, hình thành kết cấu nhỏ bé của kinh doanh gia đình đang là một xu thế có khả năng duy trì một trạng thái cân bằng chặt chẽ giữa người với người, giữa người với đất.
Kết cấu ấy nếu như đã huy động một cách cao độ được kinh nghiệm sử dụng hợp lý lao động trong hộ gia đình, sự khéo léo và sức lực của lao động cơ bắp, vốn sản xuất của từng hộ gia đình- nghĩa là khai thác triệt để những tiềm năng của đơn vị kinh tế gia đình...thì cũng chính kết cấu ấy lại là trở ngại lớn cho việc tích luỹ lao động, đầu tư vốn liếng, áp dụng kỹ thuật và khả năng cải tổ cơ cấu để thực hiện kinh doanh thâm canh, trở ngại cho phân công lao động, phát triển ngành nghề trên quy mô xã hội; thiếu khả năng thu nhập, xử lý, phản ứng với thị trường. Nếu duy trì kết cấu nhỏ bé sẽ không tránh khỏi khuynh hướng tự nhiên bảo thủ, hạn chế ruộng đất luân chuyển, cản trở tập trung ruộng đất. Tất cả những điều đó đã làm cho diện tích ruộng đất toàn tỉnh trong thời gian qua không ngừng giảm. Tổng diện tích gieo trồng cả năm đạt thấp so với kế hoạch, đặc biệt là cây công nghiệp ngắn ngày giảm nhiêu như lạc giảm 17.7%, đay giảm 2,5 lần, thuốc lá giảm 6 lần, mía giảm 1,5 lần so với năm 1988. Sản xuất lương thực, thực phẩm tuy có tăng nhưng tốc độ tăng chậm, chưa đều và vững chắc nhất là khu vực ven biển, trung du, miền núi. Sản xuất nông nghiệp nhìn chung chưa thoát khỏi tình trạng tự túc, tự cấp chưa tạo được thị trường ổn định.
Về việc thực hiện chính sách ruộng đất, tuy có chỉ thị 07 của Thường vụ tỉnh uỷ về giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ, đã tạo được niềm tin phấn chấn để nông dân làm chủ thực sự và yên tâm đầu tư sản xuất nhưng do đặc điểm ruộng đất của tỉnh Thanh Hóa vừa ít, vừa phân bố
71
không đồng đều trong các vùng lãnh thổ. Lao động đông và đang gia tăng thiếu công ăn việc làm, mặt khác do quá trình lịch sử cách mạng, từ khi tập thể hóa ruộng đất, đã diễn ra nhiều lần điều chỉnh, việc giao khoán trong các HTX trước đây còn nhiều bất hợp lý, chưa thống nhất về phương pháp, có nơi giao theo loại hộ, có nơi giao theo lao động kết hợp với nhân khẩu định suất- Hiện trạng phân tán manh mún xé lẻ có gần, có xa, có tốt, có xấu bình quân trong từng hộ đang là phổ biến trên đồng ruộng, tuy là lực cản cho việc tổ chức lại sản xuất, áp dụng các quy trình công nghệ tiến bộ vào đồng ruộng, hạn chế việc tổ chức sản xuất theo kiểu hàng hoá. Ngoài ra nó còn hạn chế quá trình tích tụ, tập trung ruông đất theo hướng “ai giỏi nghề gì thì làm nghề đó”. Vấn đề ruộng đất thực sự đang chứa đựng những mâu thuẫn không chỉ về phương diện kinh tế mà còn cả phương diện chính trị xã hội trong nông thôn toàn tỉnh. Khảo sát điều tra giữa các hộ giàu và nghèo về mức độ diện tích cho kết quả bình quân 1 hộ có 5883 m2 đất canh tác 937 m2 cho một khẩu và 2100 m2 cho 1 lao động, trong khi ở các hộ nghèo chỉ bình quân 2204 m2 cho 1 hộ, 397 cho một khẩu, mức độ chênh lệch từ 2,5 đến 2,9 lần.
Đối với các hộ kinh doanh cho doanh thu lớn quy đất đai bình quân gần 6 lần so với hộ giàu, đã chứng minh một trong các yếu tố nêu trên. Cũng từ đó đã xuất hiện xu hướng phân cực về thu nhập ở nông thôn, một bộ phận nhân dân có vốn, kinh nghiệm làm ăn, có lao động trở thành những hộ giàu có thu nhập cao, trong đó có một số hộ trở thành chủ trang trại gia đình, kinh doanh tổng hợp, có thuê mướn nhân công thường xuyên hoặc thời vụ. Một bộ phận khác gồm các hộ neo đơn thiếu thốn ít kinh nghiệm làm ăn, hoặc hộ chính sách, trước đây chủ yếu dựa vào bao cấp tập thể, nay hết bao cấp lại không có đủ các điều kiện cần thiết phát triển sản xuất, nên thu nhập thấp, đời sống khó khăn trong đó có một số hộ nhượng ruộng đất, để làm thuê cho các hộ giàu, với những công việc khác nhau. Đành rằng đó là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nhưng nếu để cho hiện tượng phân cực giàu nghèo phát triển tự do, thì sẽ tác động xấu đến sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội nông
72 thôn.
Việc thực hiện chính sách ruộng đất đã chưa thể hiện được sự bình đẳng giữa người nông dân tập thể và người nông dân cá thể về quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng ruộng đất được giao. Theo quy định của luật đất đai thì chỉ “các hộ nông dân cá thể mới được nhà nước giao đất ổn định, lâu dài để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp trên cơ sở đất đai đang sử dụng.” (Điều 28); còn “các hộ nhân dân tập thể thì chưa được nhà nước trực tiếp giao đất để sử dụng ổn định lâu dài mà nhà nước giao cho HTX, TĐSX với tư cách các tổ chức này là người sử dụng” (Điều 1). Nghị quyết 10 cũng quy định hộ nông dân cá thể được giao quyền thừa kế sử dụng ruộng đất cho con cái và khi chuyển sang làm nghề khác, họ còn được chính quyền cho phép chuyển nhượng quyền tiếp tục sử dụng cho chủ khác. Còn đối với hộ nông dân tập thể, Nghị quyết chưa đề cập đến 2 vấn đề này. Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất ở nông thôn trong “khoán 10” cũng đã phát sinh những mâu thuẫn mới:
mâu thuẫn giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, mâu thuẫn giữa yêu cầu tích tụ, tập trung ruộng đất theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá với phương thức khoán ruộng bình quân theo khẩu, phân chia manh mún kiểu tự cung, tự cấp; mâu thuẫn giữa thực tế chuyển nhượng ruộng đất đang diễn ra ở nông thôn với những quy định hiện hành của luật đất đai. Ở đây cơ chế khoán mới mới xác định rõ: hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, là chủ thể cần thiết đến đâu, quan hệ của nó với hộ xã viên như thế nào? Một khi ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác do hộ làm chủ thì vai trò điều hành của HTX, tập đoàn sản xuất trong sản xuất nông nghiệp chỉ giới hạn ở những khâu dịch vụ mà hộ nông dân có nhu cầu. Quan hệ giữa HTX, tập đoàn sản xuất với hộ nông dân phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Và nếu như vậy, số lượng và chất lượng cán bộ HTX, tập đoàn sản xuất phải được đổi mới một cách cơ bản, vì không phải loại cán bộ nào cũng đủ sức đảm nhiệm kinh doanh các dịch vụ phục vụ hộ nông dân. Cho nên vấn đề tổ chức lại các hình thức hợp tác, đào tạo lại cán bộ của các hình thức đó đã và đang là một yêu
73
cầu cấp bách. Bức tranh thực trạng của HTX hiện tại trên bình diện là bức tranh kiểu hợp tác làm ruộng- Xoay quanh HTX là những sào ruộng của hộ nông dân. HTX không còn tổ chức sản xuất và không còn tổ chức kinh doanh, nó được thể hiện trong 3 loại hình:
- Một số rất ít còn một lượng vốn quỹ, ngoài hợp tác làm ruộng trong các hộ, HTX dùng vốn quỹ tổ chức kinh doanh phát huy thế mạnh của địa phương tạo thêm sản phẩm mới, thu được một phần lợi nhuận, tiếp tục thúc đẩy hỗ trợ kinh tế hộ phát triển, có điều kiện điều hành quản lý được một số khâu chủ yếu, hướng dẫn được sản xuất, nhưng ở đây vẫn còn chứa đựng một cơ chế kiểu tổ chức xã hội hoá, kiẻu HTX nhà nước, toàn bộ các hoạt động phúc lợi trong nông thôn HTX vẫn đảm nhịêm. ở đây vẫn đang đựơc sự đồng tình của nông dân vì đời sống vật chất tinh thần ổn định và có bước phát triển.
- Một bộ phận lớn còn một lượng vốn ít ỏi, hợp tác xã chỉ còn điều hành một số khâu như tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, đưa các loại giống mới vào các hộ, bảo vệ đồng ruộng, song việc điều hành cũng không đồng nhất, có HTX làm được khâu này mất khâu khác khảo sát năm 1989 có kết quả sau:
270 HTX dịch vụ đưa được một số loại giống mới cho hộ chiếm 15%, 485 HTX dịch vụ bảo vệ thực vật chiếm 25%, 465 HTX dịch vụ bán phân bón chiếm 25%, 903 HTX dịch vụ khâu tưới tiêu nước chiếm 50%.
- Bộ phận còn lại một mặt do không có vốn, lại gặp điều kiện khó khăn về tự nhiên, đội ngũ cán bộ không xoay sở nổi đã phó thác tất cả mọi khâu cho hộ đảm nhiệm nội dung hoạt động của HTX chỉ còn làm một số công việc mang tính hành chính như hội họp phổ biến, đôn đốc thu thuế và các khoản đóng góp khác.
Nội dung hoạt động chất lượng hiệu quả kém nhưng việc trích lập quỹ vẫn theo cơ chế cũ, khuôn mẫu áp đặt, nhiều khoản thu bất hợp lý, đóng góp cho xã hội, nông dân ở những nơi này không thiết tha, ít gắn bó với HTX.
Kinh tế HTX không trụ nổi, chỉ còn là kinh tế hộ kinh tế tư nhân hoạt động, nhưng về hình thức tổ chức vẫn tồn tại dưới dạng HTX kiểu cũ. “Do đó dẫn
74
đến thu hẹp quy mô sản xuất, sản phẩm cây công nghiệp, cây màu lương thực có xu hướng giảm dần, giá trị sản phẩm cây công nghiệp từ 9,2 % năm 1989 xuống 7,5% năm 1993, diện tích cây màu lương thực từ 82.600 ha năm 1988 xuống 75.515 ha năm 1991. Việc quản lý thiếu chặt chẽ không đồng bộ, nhiều lúc nhiều nơi đã thả nổi. Các hiện tượng bán vật tư như thuốc trừ sâu giả, phân bón kém chất lượng ở các vụ sản xuất đã gây cho nông dân những thất thiệt đáng kể, hiệu quả sản xuất kém” [76, tr.3].
Chính sách ruộng đất thời kỳ này mới chỉ tập trung giao khoán ngành trồng trọt, chủ yếu lại là cây lúa. Trong cây lúa việc giao đất còn manh mún và mang tính bình quân. Cây công nghiệp giảm chƣa đáp ứng yêu cầu nhƣ: Lạc, thuốc lá, đay cói...Nguyên do là vấn đề thiếu lương thực nên nông dân tập trung vào sản xuất lương thực và do cơ chế thị trường, giá cả ổn định nên nông dân chưa sản xuất cây công nghiệp, ngành nghề cũng chƣa đƣợc mở rộng nhất là các nghề truyền thống và hàng xuất khẩu có chiều hướng giảm suốt. Thu nhập của đại bộ phận nông dân thấp và tăng chậm, sản xuất kém phát triển.
Tính chất không ổn định về mức khoán và ruộng đất đã không kích thích người nông dân gia tăng đầu tư thâm canh tăng năng suất. Mặt khác, phương thức khoán trong những năm qua đã trói buộc người nông dân vào ruộng đất với quan điểm bình quân. Điều này đã làm cho không giải phóng được sức lao động trong nông thôn khỏi sản xuất nông nghiệp cũng như không phát huy được khả năng kinh doanh có hiệu quả trong nông nghiệp của các hộ gia đình. Điều đó cũng tạo nên tâm trạng không yên tâm cho nông dân về một chính sách dễ thay đổi, do đó nông dân không hứng thú kinh doanh, không đầu tư chiều sâu, không thâm canh chăm sóc bồi bổ đất. Vì vậy cần phải uốn nắn những hiện tượng lệch lạc, thực hiện đúng quy định ổn định ruộng đất lâu dài cho nông dân. Có chính sách ruộng đất rõ ràng về sử dụng, quản lý ruộng đất để người nông dân yên tâm.
Chính vì vậy cần nắm lại toàn bộ quỹ đất nông nghiệp, khẩn trương
75
giao đất một lần cho hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, tạo cơ sở cho ổn định kinh tế- xã hộ nông thôn, để nông dân yên tâm tự phát triển sản xuất. Chủ thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất là chính quyền cấp huyện. Đối với ruộng đất canh tác hàng năm phải căn cứ vào thực trạng sử dụng ruộng đất hiện nay ở từng vùng, từng cơ sở để giao quyền sử dụng lâu dài cho từng hộ. Đối với đất đồi rừng, ven biển, ven sông, tuỳ theo khả năng quỹ đất ở từng địa phương, giao không hạn chế về quy mô. Khuyến khích các hộ nông dân có vốn, kỹ thuật và khả năng khai thác đất trống, đồi trọc, đất ven biển, ven sông tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hộ phát triển cac hình thức trang trại. Đất của các nông - lâm trường sử dụng không có hiệu quả cần giao lại cho các hộ nông dân, doanh nghiệp chuyển sang làm dịch vụ đầt vào và đầu ra theo yêu cầu của các hộ.
Tóm lại các vấn đề xã hội nông thôn phát triển chậm, một số mặt xuống cấp. Đó là một thực tế, phát triển ngược chiều với tình hình sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Do vậy, đã đến lúc tập trung nghiên cứu và đổi mới một cách cơ bản chính sách khoán trong nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới.
76 Tiểu kết
Từ Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị với việc chính thức thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, thực hiện giao ruộng khoán cho hộ sử dụng lâu dài (15-20 năm đối với đất trồng cây ngắn ngày, 1 đến 2 chu kỳ với cây dài ngày), ổn định năng suất, sản lượng khoán, bảo đảm cho người trồng lúa có lãi (thu nhập) không dưới 40%. Đến việc ban hành Luật đất đai mới năm 1993 cho phep hộ gia đình được phép sử dụng đất ổn định lâu dài, được quyền cho thuê, thế chấp, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định. Được tự chủ sử dụng ruộng đất trong thời hạn lâu dài, năng lực hoạt động, năng lực sản xuất kinh doanh của hộ nông dân được phát huy tốt hơn. Tuy nhiên, một chính sách đúng khi được thực hiện, ngoài những mặt được là chủ yếu cũng nảy sinh không ít những vấn đề mới cần phải tiếp tục giải quyết. Nhờ có những chính sách về ruộng đất và các chính sách đổi mới khác của Đảng, các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn sẽ phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quá trình công nghiệp hoá ở đây sẽ diễn ra. Còn những hộ nông dân giỏi làm kinh tế trên đồng ruộng sẽ có thêm ruộng đất để sản xuất kinh doanh theo hướng phát triển sản xuất nông phẩm hàng hoá. Như vậy, chính sách ruộng đất đổi mới của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá không những đã có tác dụng giải quyết vấn đề lương thực, đời sống nông dân hiện nay, mà còn mở ra khả năng phát triển rộng lớn, đúng quy luật cho nền nông nghiệp toàn tỉnh.
Được tự chủ sử dụng ruộng đất ổn định lâu dài và thấy rõ việc đó đã đem lại lợi ích thiết thực, các hộ nông dân hết sức phấn khởi hăng hái đầu tư thâm canh, phát triển sản xuất. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp trên cả nước từ giữa năm 1988 đến năm 1996 đã phát triển tương đối toàn diện. Tốc độ tăng trưởng ổn định, lương thực không những đã đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có dự trữ và một khối lượng gạo xuất khẩu lớn; một bộ
77
phận nông dân đã bước đầu sản xuất kinh doanh theo hướng sản xuất nông phẩm hàng hoá. Vấn đề lương thực được giải quyết tốt nên đời sống nông dân được cải thiện một bước đáng kể, bộ mặt nông thôn đổi mới rõ rệt.
Cũng nhờ vậy, cùng với kết quả tích cực của những chính sách đổi mới khác như chính sách về lao động, tiền công…. đời sống cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước cũng được cải thiện hơn nhiều so với trước đổi mới. Đó là kết quả bước đầu rất quan trọng và rõ nhất của chính sách ruộng đất của Đảng trong công cuộc đổi mới.
Tóm lại, từ năm 1988 đến năm 1996 việc chỉ đạo thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa có những mặt tích cực: Nông dân đã được tự chủ sản xuất trên mảnh đất của mình, điều này đã khơi dậy tiềm năng lao động tự nguyện của người nông dân, đồng thời tạo sự gắn kết giữa người nông dân với ruộng đất. Để đảm bảo sự công bằng Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện chia bình quân ruộng đất cho nông dân, mỗi hộ đều nhận được các mảnh ruộng có xa, có gần, có tốt, có xấu…Tuy nhiên điều này cũng làm nảy sinh vấn đề là đất bị chia manh mún, nhỏ lẻ…khó cho việc đầu tư cơ giới, chăm sóc thu hoạch và mất rất nhiều công lao động. Chính vì vậy trong những năm tiếp theo Trung ương Đảng nói chung và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nói riêng cần phải khắc phục hạn chế này. Và đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc vận động “Dồn điền đổi thửa”