6. Kết cấu của luận văn
2.2.6. Quy định về thẩm quyền xét xử trong Bộ luật tố tụng hình
Có ba loại thủ tục chính trong tố tụng hình sự Pháp và tương ứng là ba cấp Tòa án. Đối với các tội đại hình như giết người, hiếp dâm hay cướp có vũ khí mà hình phạt áp dụng từ 5 năm tới chung thân, vụ án sẽ được xét xử ở 1 trong 33 Tòa đại hình trên toàn nước Pháp, án xử có hiệu lực ngay và không có thủ tục phúc thẩm trừ khi xin được xem xét lại ở Tòa phá án là cơ quan xét xử cao nhất trong ngạch tư pháp. Tòa phá án có 6 Tòa chuyên trách gồm:
1 Tòa hình sự, 3 Tòa dân sự, 1 Tòa thương mại, 1 Tòa lao động tương ứng 190 Thẩm phán [1, tr. 5]. Đối với các tội có mức hình phạt có thể áp dụng từ 02 tháng đến 05 năm tù hoặc phạt tiền đến 25.000 france, vụ án sẽ được xét xử ở Tòa tiểu hình. Cấp Tòa thấp nhất là Tòa vi cảnh xét xử những án phạt tù từ 01 ngày đến dưới 02 tháng tù hoặc phạt tiền tối đa dưới 25.000 france. Tất cả những kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm đối với những bản án, quyết định đã tuyên ở Tòa vi cảnh hay Tòa tiểu hình đều được xử ở cấp Tòa phúc thẩm (cấp Tòa độc lập không trực thuộc TATC). Mô hình tố tụng Pháp cho thấy thẩm quyền xét xử ở cấp Tòa thấp nhất chỉ hạn chế với những vụ án không nghiêm trọng, đơn giản và có sự phân định rõ thẩm quyền giữa các Tòa để xét xử các loại tội: Vi cảnh, tiểu hình, đại hình; giữa Tòa xét xử sơ thẩm và Tòa phúc thẩm chuyên trách. Bên cạnh đó sự phân loại tội phạm tội đại hình, tiểu hình và vi cảnh có ý nghĩa cơ bản để xác định thủ tục tố tụng và thẩm quyền tố tụng tương ứng. Đây là điểm then chốt chúng ta cần tham khảo trong quá trình xây dựng pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta.
Theo nguyên tắc, Thẩm phán ngạch tư pháp do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Thẩm phán tối cao hoặc Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Thẩm phán điều tra tiến hành theo luật bất kì hoạt động điều tra nào
thấy có ích cho việc khám phá sự thật; tìm kiếm bằng chứng vô tội cũng như có tội.
Khi Thẩm phán điều tra không thể tự mình tiến hành toàn bộ hoạt động điều tra, thì có thể gửi thư yêu cầu tương trợ đến các sĩ quan cảnh sát tư pháp để nhờ họ thực hiện các hoạt động điều tra cần thiết
Trong quá trình điều tra, các bên có thể nộp cho Thẩm phán điều tra đơn bằng văn bản có nêu rõ lý do để được xét hỏi hoặc thẩm vấn, hỏi nhân chứng, đối chất hoặc thẩm tra hiện trường tội phạm, ra lệnh cho một trong số họ tiết lộ nhân tố có ích cho việc điều tra, hoặc tiến hành bất kì bước nào khác có vẻ cần thiết đối với họ trong việc khám phá sự thật.
Tóm lại, việc tổ chức và hoạt động của Tòa án thường thể hiện tính đa dạng khác nhau của các Nhà nước, nhưng giữa chúng có những điểm rất chung thể hiện tính quy luật chung của hoạt động xét xử. Hoạt động của Tòa án thường được phân theo các cấp xét xử: Cấp sơ thẩm, phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xét xử các vụ việc ít nghiêm trọng; các Tòa án phúc thẩm có quyền phúc thẩm các quyết định xét xử của các Tòa án cấp dưới. Hoạt động của hai loại Tòa án này tạo thành hai cấp xét xử chính trong hoạt động của Tòa án hiện nay. Tòa án tối cao là cấp xét xử cuối cùng, có quyền phúc thẩm các vụ việc đã được các Tòa án cấp dưới xét xử. Các quyết định của Tòa án tối cao có hiệu lực pháp lý cuối cùng, không được kháng nghị hoặc kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như của Tòa án cấp dưới.
Bên cạnh đó, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phương tây cũng có những điểm khác nhau:
Phân loại theo vụ việc: Tòa án được chia làm hai loại - Tòa án có thẩm quyền chung và Tòa án chuyên biệt.
+ Tòa án có thẩm quyền chung bao gồm:
Tòa sơ thẩm là Tòa án cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án của mỗi quốc gia có thẩm quyền xét xử tất cả các vụ tranh tụng về hình sự (tiểu hình và đại hình).
Tòa án phúc thẩm có quyền xét lại bản án của Tòa sơ thẩm, nếu có kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị, thì quyết định của các Tòa sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
+ Tòa án chuyên biệt gồm có: Tòa lao động, TAQS, Tòa hành chính...
Phân loại theo các hệ thống pháp luật:
Xét dưới góc độ tố tụng và hệ thống pháp luật thì việc tổ chức và hoạt động tư pháp của hai hệ thống pháp luật cơ bản của thế giới là Châu âu lục địa và Anh - Mỹ có sự khác nhau lớn:
Nếu như ở Châu Âu lục địa, tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán không những có quyền tăng hình phạt, mà còn xem xét cả nội dung vụ việc và cả luật áp dụng, thì của hệ thống Anh - Mỹ chỉ được xem xét luật áp dụng và chỉ được giảm hình phạt đã được tuyên của Tòa sơ thẩm.
Nếu như ở Nhà nước của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, Thẩm phán không có quyền sáng tạo ra pháp luật, thì ngược lại ở hệ thống Anh - Mỹ, Thẩm phán lại có quyền này.
Qua nghiên cứu mô hình tố tụng hình sự của hầu hết các nước trên thế giới thì thấy rằng không có nước nào có hệ thống Tòa án theo cơ cấu 3 cấp: Sơ thẩm - phúc thẩm - giám đốc thẩm và một số ít nước cho phép Tòa án cấp thấp nhất được xử những tội phạm nghiêm trọng có mức hình phạt đến 15 năm tù. Trong khi có một số nước lại cho phép Tòa án cấp thấp nhất được xử hầu hết các vụ án chỉ trừ những tội phạm nghiêm trọng quy định mức hình phạt đến tù chung thân hoặc tử hình, xét xử người nước ngoài phạm tội.
Phần lớn các nước quy định thẩm quyền xét xử thuộc Tòa án nơi tội phạm xảy ra, cũng có những nước quy định Tòa án nơi bị cáo sinh quán, trú quán hay nơi tội phạm bị phát hiện cũng có thẩm quyền xét xử.
Đặc biệt, có nước thẩm quyền xét xử phụ thuộc yêu cầu người bị hại có yêu cầu bồi thẩm đoàn tham gia xét xử hay không, nếu người bị hại không yêu cầu thì Tòa án cấp tiểu bang có thẩm quyền xét xử. Nếu người bị hại có yêu cầu thì thẩm quyền xét xử thuộc Tòa án sơ thẩm liên bang.
Như vậy, việc phân định thẩm quyền của Tòa án ở các nước khác nhau phải dựa vào hệ thống Tòa án nước đó và phù hợp với Hiến pháp. Đồng thời, còn phải dựa vào căn cứ phân loại tội phạm của BLHS mỗi nước. Mỗi một cách thức tổ chức Tòa án và quy định về thẩm quyền xét xử trên thế giới đều có những ưu và khuyết điểm khác nhau. Nhưng đều quy về một số dấu hiệu (căn cứ) nhất định như: Tính chất phức tạp nghiêm trọng của tội phạm hay vụ án, không gian thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng, các đặc điểm nhân thân người phạm tội. cũng trên những cơ sở đó, BLTTHS Việt Nam chia thẩm quyền xét xử theo vụ việc, thẩm quyền xét xử theo đối tượng và thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ [6, tr. 382]. Vì vậy, việc xem xét các quy định về thẩm quyền của Luật tố tụng hình sự các nước khác có ý nghĩa rất quan trọng, chúng ta cần phải tham khảo, học hỏi, để từng bước xây dựng pháp luật tố tụng hình sự ngày càng hoàn chỉnh, làm cơ sở tham khảo cho quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta.
Chương 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
3.1. THỰC TIỄN THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH