Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động nhập khẩu máy của công ty cổ phần xuất nhập khẩu máy Sao Việt qua số liệu thứ cấp

Một phần của tài liệu Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu máy của công ty Cổ Phần Xuất Nhập Máy Sao Việt (Trang 25 - 29)

2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động nhập khẩu máy của công ty cổ phần nhập khẩu máy Sao Việt qua số liệu sơ cấp và thứ cấp

2.2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động nhập khẩu máy của công ty cổ phần xuất nhập khẩu máy Sao Việt qua số liệu thứ cấp

Nhìn một cách tổng quát, trong thời gian qua hoạt động nhập khẩu máy của công ty diễn ra tương đối đều, đạt hiệu quả nhưng không cao. Điều này được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá sau:

a) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp.

kết quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty trong thời gian qua được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của công ty giai đoạn 2009- 2011

Stt Chỉ tiêu 2009 2010 2011

Giá trị

( triệu đồng)

Giá trị (triệu đồng)

Tỷ lệ tăng (%)

Giá trị (triệu đồng)

Tỷ lệ tăng (%)

1 DTNK 235.930 260.601 10,46% 192.412 -26,17%

2 CFNK 226.119 250.072 10,59% 181.180 - 27.6%

3 LNNK 9.811 10.529 7,3% 11.232 6,68%

4 Tỷ suất LN theo

DTNK(%)

4,16 4,04 5,84

5 Tỷ suât LN theo CFNK

4,34 4,21 6,2

Nguồn: Phòng tài vụ công ty

Chỉ tiêu về lợi nhuận

Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy, trong giai đoạn 2009-2011 công ty đã duy trì mức lợi nhuận dương qua các năm, giá trị tuyệt đối lợi nhuận công ty đạt được luôn tăng. Cụ thể, năm 2009 hoạt động nhập khẩu mang lại cho công ty 9.811 triệu đồng, sang năm 2010 là 10.529 triệu đồng và năm 2011 là 11.232 triệu đồng.

Biểu đồ 2.1: Lợi nhuận nhập khẩu của công ty qua 3 năm

Nguồn: phòng tài vụ công ty

Nhìn trên biểu đồ ta thấy tỉ lệ tăng lợi nhuận của công ty tăn không đều, năm 2010 tăng mạnh đạt 7.3%, tuy nhiên đến năm 2011 cũng tăng nhưng đà tăng không còn mạnh như trước nữa đạt 6,68%.

Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu nhập khẩu của công ty có sự biến đổi qua từng năm. Sự biến đổi này được thể hiện qua hình dưới đây.

Biểu đồ 2.2: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu

Nguồn: phòng tài vụ công ty

Từ biểu đồ ta thấy trong những năm từ 2009- 2011 tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu của công ty đã tăng lên, trong năm 2010 tuy có giảm đôi chút nhưng năm 2011 lại tăng lên mạnh mẽ. Trong năm 2009 cứ một đồng doanh thu nhập khẩu thì công ty thu được 0,0416 đồng lợi nhuận thì năm 2011 đã tăng lên là 0,0584 đồng lợi nhuận. Điều đó nó phản ánh được hiệu quả kinh doanh của công ty mặc dù doanh thu của công ty trong năm 2011 giảm xuống nhưng tỷ suất lợi nhuận lại tăng lên.

Về chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí nhập khẩu.

Cũng như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu thì tỷ suất lợi nhuận theo chi phí cũng tăng lên. Năm 2009 cứ 1000 đồng chi cho nhập khẩu thì công ty thu lại được 43,4 đồng lợi nhuận con số này năm 2011 đã tăng lên là 6,2 đồng lợi nhuận. Sự tăng lên như đó là do công ty đã có các chính sách phát triển cũng như các chính sách sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả nhất để thu được lợi nhuận là cao nhất.

b) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả bộ phận.

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty

Stt Chỉ tiêu 2009 2010 2011

Giá trị

( triệu đồng)

Giá trị (triệu đồng)

Tỷ lệ tăng (%)

Giá trị (triệu đồng)

Tỷ lệ tăng (%)

1 DTNK

( triệu đồng)

235.930 260.601 10,64% 192.412 -26,17%

2 LNNK

( triệu đồng)

9.811 10.529 7,3,% 11.232 6,68,%

3 VLĐNK (triệu đồng)

39.064 43.743 44.479

4 Vốn ĐT cho Nk

( triệu đồng)

40.874 44.486 45.905

5 HQ sử dụng VLĐ(%)

25,12 24,07 25,26

6 Số vòng quay VLĐ

6,04 5,96 4,33

7 Hệ số đảm nhiệm

0,1656 0,1679 0,2312

8 Thời hạn thu hồi vốn NK

4,17 4,23 4,09

Nguồn: phòng tài vụ công ty.

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty ta xét các chỉ tiêu: hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu, số vòng quay vốn lưu động, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động .

Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu

Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty có sự thay đổi giữa các năm. Năm 2009 hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty là 25,12% có nghĩa là cứ 1000 đồng vốn công ty bỏ ra kinh doanh nhập khẩu thì thu được 251,2 đồng, nhưng đến năm 2010 lại giảm xuống còn 24,07 %. Trong năm 2011 thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty lại tăng lên là 25,26 % nghĩa là cứ 1000 đồng vốn lưu động công ty bỏ ra kinh doanh thì thu được là 253 đồng lợi nhuận. Sự tăng lên của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty nó phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng vốn lưu động của công ty, nó cho phép công ty duy trì và củng cố các hoạt động hiện tại để vốn lưu động được sử dụng ngày càng hiệu quả hơn nữa.

Số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu.

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng hiệu quả quay vòng vốn lưu động nhập khẩu của công ty ngày càng giảm. Nếu năm 2009, trong một kỳ kinh doanh vốn lưu động nhập khẩu của công ty quay được 6,04 vòng trong một kỳ kinh doanh thì sang năm 2010 giảm xuống còn 5,96 vòng và năm 2011 là 4,33 vòng trong một kỳ kinh doanh.

Sự giảm sút về số vòng quay vốn lưu động nhập khẩu của công ty là do công ty đã giảm doanh thu trong năm 2011, nó phản ánh được công ty hoạt động chưa hiệu quả.

Công ty cần có các chính sách, chiến lược định hướng để nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy hơn nữa.

Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động

Qua bảng trên ta thấy được hệ số đảm nhiệm của công ty ngày càng tăng lên.

Năm 2009, hệ số này ở mức 0,1656 có nghĩa là để có được một đồng doanh thu cần 0,1656 đồng vốn lưu động, năm 2010 con số này tăng lên ở mức 0,1679 và năm 2011 lại tăng lên 0,2312. Điều này cho thấy càng ngày một đồng vốn lưu động sử dụng càng mang lại ít doanh thu hơn cho công ty, nó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty không đồng đều. Công ty cần có các biện pháp để hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn.

Thời hạn thu hồi vốn nhập khẩu

Từ bảng trên ta thấy được thời hạn thu hồi vốn của công ty có thay đổi theo các năm. Năm 2009 thời hạn thu hồi vốn của công ty là 4,17 kỳ kinh doanh đến năm 2010 con số này lại tăng lên 4,23 kỳ kinh doanh, tuy nhiên đến năm 2011 đã giảm xuống là 4,09 kỳ kinh doanh, có nghĩa là để thu hồi vốn kinh doanh công ty mất 4,09 kỳ kinh doanh. Như vậy thời hạn thu hồi vốn kinh doanh ngày càng được rút ngắn chứng tỏ hoạt động của công ty có hiệu quả.

Một phần của tài liệu Nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu máy của công ty Cổ Phần Xuất Nhập Máy Sao Việt (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(46 trang)
w