Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK

Một phần của tài liệu KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu TTTK (Trang 46 - 57)

II. Phải thu ngắn

2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK

Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK

2.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK

Bảng 2.4. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản của Công ty TNHH Thƣơng Mại XNK TTTK trong giai đoạn 2011 – 2013

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011

Doanh thu thuần Đồng 49.767.214.473 31.735.171.315 27.714.107.192

Lợi nhuận sau thuế Đồng 121.220.563 90.303.460 (158.422.616)

Tổng tài sản bình quân Đồng 11.351.150.224 8.824.805.988 7.819.632.194 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Lần 4,38 3,59 3,54 Hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) % 1,07 1,02 (2,03)

Suất hao phí của tài

sản so với DTT Lần 0,23 0,28 0,28

Suất hao phí của tài

sản so với LNST Lần 93,64 97,72 (49,36)

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2011 – 2013)

Nhận xét:

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng

tài sản thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Năm 2011, do Công ty làm ăn thua lỗ vì vậy tỷ suất sinh lời đạt mức (2,03%). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2012 tăng 3,05% so với năm 2011, tức là cứ 100 đồng tài sản năm 2012 tạo ra nhiều hơn năm 2011 là 3,05 đồng lợi nhuận. Nguyên nhân khiến chỉ tiêu này tăng là do năm 2012 khả năng quản lý tài sản, quản lý doanh thu cũng như quản lý chi phí của Công ty là tương đối tốt. Năm 2013, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản tăng nhẹ 0,05 do trong năm qua tổng tài sản của Công ty có xu hướng tăng, theo đó lợi nhuận sau thuế của Công ty cũng tăng. Tức là trong năm 2013, Công ty bỏ ra 100 đồng tài sản sẽ thu về 1,07 đồng lợi nhuận. Đây là một chuyển biến tốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

Nhìn chung, Công ty đang sử dụng khá tốt khối tài sản của mình sau khủng hoảng kinh tế năm 2011, đem lại doanh thu và lợi nhuận sau thuế cho Công ty. Tuy nhiên, với nền kinh tế đầy biến động hiện nay, Công ty vẫn cần phải nghiên cứu các phương pháp để sử dụng tài sản của mình một cách tốt hơn nhằm sử dụng hết công

suất của tài sản, tăng doanh thu và tiếp tục cắt giảm những chi phí không cần thiết để đưa ra được những sản phẩm tốt nhất, thu về lợi nhuận cao nhất có thể.

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản: Giống như chỉ tiêu vòng quay toàn bộ tài sản trong kỳ, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản giúp các nhà quản trị đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản Công ty. Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần.

Năm 2011, chỉ tiêu này là 3,54 lần sau đó tăng nhẹ 0,05 lần lên thành 3,59 lần vào năm 2012. Con số này cho biết, trong năm 2012, Công ty bỏ ra một đồng tài sản đã thu về 3,59 đồng doanh thu thuần. Do năm 2012, tổng tài sản bình quân chỉ tăng nhẹ so với năm 2011 – 12,85%, vì vậy hiệu suất sử dụng tài sản năm 2012 chỉ tăng ở mức nhẹ. 4,38 lần là con số chỉ hiệu suất sử dụng tài sản năm 2013, con số này cao nhất so với năm 2012 và 2011. Hiệu suất sử dụng tài sản năm 2013 tăng 0,79 lần so với năm 2012. Nguyên nhân là do sự tăng mạnh mẽ của doanh thu thuần và tổng tài sản bình quân tại năm 2013. Điều này cho thấy rằng khả năng quản lý tài sản của Công ty ngày càng tốt và Công ty đang thực hiện tốt các chính sách nhằm cải thiện doanh thu từ đó tăng lợi nhuận cho Công ty.

Có thể nói, chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản của Công ty đang ở mức tương đối cao so với các Công ty cùng ngành. Công ty cần tiếp tục phát huy hơn nữa thế mạnh của mình.

Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần: Chỉ tiêu này cho biết trong

kỳ phân tích, Công ty thu được 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo so với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản góp phần thể hiện khả năng tạo doanh thu của Công ty.

Vì là chỉ tiêu nghịch đảo của hiệu suất sử dụng tổng tài sản nên suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần đang giảm dần theo các năm. Năm 2011 và năm 2012, con số này là đều là 0,28 lần. Nguyên nhân là do trong giai đoạn 2011 – 2012, tổng tài sản và cả doanh thu thuần có mức tăng tương đối đồng đều. Theo bảng 2.1 và 2.1, doanh thu thuần tăng 14,51 và tổng tài sản tăng 14,02 . Năm 2013, chỉ tiêu này giảm mạnh nhất còn 0,23 tương đương với mức giảm 0,05. Tức là, năm 2013 Công ty muốn thu được 1 đồng doanh thu thuần chỉ cần bỏ ra 0,2281 đồng đầu tư. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng có lợi cho Công ty, chứng tỏ Công ty đang tận dụng tốt các nguồn lực sẵn có, quản lý tài sản tốt, tiết kiệm tối đa chi phí từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty.

Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu này cho biết, Công

ty thu được 1 đồng lợi nhuận sau thuế TNDN thì cần bao nhiêu đồng tài sản. Qua đó, có thể thấy rõ nét hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận của Công ty.

Năm 2011, lợi nhuận sau thuế của Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu âm dẫn tới suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế cũng âm (âm 49,36 lần). Sang năm 2012, tình hình sản xuất kinh doanh bắt đầu khởi sắc, Công ty bắt đầu có lãi khiến cho chỉ tiêu này tăng lên là 97,72 tương ứng với mức tăng 297,9 . Trong năm 2013, Công ty thu được một đồng lợi nhuận sau thuế thì cần 93,64 đồng tài sản. Những con số này hiện nay còn khá lớn, chứng tỏ khả năng sử dụng tài sản để thu về lợi nhuận của Công ty chưa tốt. Công ty nên xem xét để có những biện pháp sử dụng tài sản hiệu quả hơn.

2.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu TTTK

Phân tích hiệu quả sử dụng TSNH chủ yếu giúp các nhà quản lý đánh giá tốc độ luân chuyển của TSNH, từ đó sẽ có những đánh giá chính xác và tổng quát hơn về hiệu quả sử dụng tài sản trong Công ty. Một số chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH gồm:

Bảng 2.5. Nhóm chỉ tiêu hoạt động Chỉ tiêu ĐVT Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Chênh lệch giữa 2013 và 2012 Chênh lệch giữa 2012 và 2011 Tuyệt

đối (%) Tuyệt đối (%)

Tỷ suất sinh lời

của TSNH % 1,08 1,05 (2,1) 0,03 2,86 3,15 (150)

Hiệu suất sử

dụng TSNH Lần 4,45 3,69 3,67 0,77 20,84 0,02 0,04

Thời gian luân

chuyển TSNH Ngày 81.95 99.02 99,46 (17.07) (17,24) 0.44 (0,44) Sức sản xuất của TSNH Vòng 4.45 3.69 3.67 0.77 20,84 0.02 0,42 Suất hao phí TSNH so với DTT Lần 0.23 0.27 0.27 (0.05) (17,24) (0.001) (0,43) Suất hao phí TSNH so với LNST Lần 92.18 95.35 (47.67) (3.17) (3,32) 143.02 (300,03)

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2011 – 2013)

Nhận xét:

Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn: Theo bảng 2.4, tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn năm 2012 tăng lên so với năm 2011 là 150 từ (2,1 ) đến 1,05 , tương đương với 100 đồng đầu tư vào TSNH không mang lại lợi nhuận cho Công ty vào năm 2011 và 1,05 đồng trong năm 2012. Hệ số sinh lợi TSNH của Công ty tăng do lợi

tăng TSNH kéo theo giá trị của chỉ số này tăng. Đây là bước cải thiện đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Con số này tiếp tục tăng và đạt mức 1,08 vào năm 2013, tức 100 đồng tài sản ngắn hạn bỏ ra sẽ thu về 1,08 đồng lợi nhuận. Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế khiến cho các Công ty xuất nhập khẩu cũng làm ăn tốt hơn trên thị trường quốc tế, thu về khoản lợi nhuận không nhỏ.

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Hiệu suất sử dụng TSNH của Công ty năm 2011 tương đối tốt, đạt mức 3,67 lần, tương đương với việc cứ một đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào sử dụng thu về 3,67 đồng doanh thu. Sang năm 2012, chỉ tiêu này cho thấy cùng một đồng tài sản ngắn hạn được đưa vào đã thu lại được 3,69 đồng doanh thu, tăng 0,02 đồng so với năm 2011. Có thể nói, đây là một mức tăng rất nhẹ nhưng qua đó có thể thấy rằng, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty đang đi lên. Sang năm 2013, con số này tiếp tục tăng lên thành 4,45 lần, tương đương với mức thu về là 4,45 đồng doanh thu. Việc gia tăng này là do cơ cấu tài sản ngắn hạn trong năm 2013 tăng mạnh so với mức tăng bình quân, tương đương tăng 29,78 so với năm 2012. Thế nhưng, mức tăng này chỉ bằng một nửa so với mức tăng của doanh thu thuần ( tăng 56,82 so với năm 2012). Đây là dấu hiệu tốt cho thấy Công ty đang sử dụng và quản lý rất tốt nguồn tài sản ngắn hạn của mình.

Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết, Công ty cần bao nhiêu ngày để tài sản ngắn hạn luân chuyển hết một vòng của nó. Năm 2011, chỉ tiêu này là 99,46 ngày. Năm 2012 là 99,02 giảm 0,44 ngày so với năm 2011. Nguyên nhân của việc giảm thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn là do mức hàng tồn kho năm 2012 giảm đáng kể so với năm 2011. Năm 2013, con số này tiếp tục giảm còn 81,95 ngày tức là chỉ cần gần 3 tháng thì tài sản ngắn hạn đã luân chuyển được hết một vòng của nó. Điều này có thể khẳng định rằng, lượng tài sản ngắn hạn không bị tồn đọng quá lớn trong các khâu sản xuất kinh doanh dở dang, các khoản mục phải thu và lưu thông.

Suất hao phí của TSNH so với Doanh thu thuần: Trong năm 2011, suất hao phí của TSNH so với Doanh thu thuần là 0,27 lần. Chỉ tiêu này cho biết, Công ty muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bỏ ra 0,27 đồng giá trị TSNH. Năm 2012 chỉ tiêu này có giảm nhẹ tương ứng với mức giảm 0,43%. Nhờ các biện pháp quản lý TSNH chặt chẽ hơn so với năm trước đó, suất hao phí của TSNH so với Doanh thu thuần tiếp tục giảm 17,24% so với năm trước đó còn 0,23 lần. Như đã phân tích ở trên, cơ cấu tài sản ngắn hạn tăng qua các năm nhưng không tặng mạnh như doanh thu thuần. Điều này khiến suất hao phí của TSNH so với Doanh thu thuần liên tục giảm. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH của Công ty càng tốt.

Suất hao phí của TSNH so với Lợi nhuận sau thuế: Do năm 2011 Công ty không phát sinh lợi nhuận nên suất hao phí của TSNH so với lợi nhuận sau thuế là (47.67) lần. Tuy nhiên, chỉ số này ở hai năm tiếp theo khá cao, lần lượt là 95.35 lần và 92.18 lần ở năm 2013. Theo bảng 2.5 có thể thấy, để Công ty có được 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì năm 2013 cần ít hơn năm 2012 3.116 đồng giá trị TSNH. Chỉ tiêu này ở năm 2012 và 2013 khá cao chứng tỏ, Công ty quản lý TSNH chưa tốt, phát sinh quá nhiều chi phí khiến lợi nhuận giảm. Mặc dù Công ty sử dụng có hiệu quả TSNH vào việc tạo ra doanh thu, nhưng TSNH của Công ty lại vận động chậm làm phát sinh nhiều chi phí quản lý TSNH làm ảnh hưởng đến mức lợi nhuận sau thuế. Công ty nên xem xét các biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí trong việc sử dụng và quản lý tài sản, từ đó tăng lợi nhuận cuối cùng.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty

Biểu đồ 2.5. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty TNHH Thƣơng Mại XNK TTTK giai đoạn 2011 – 2013

Đơn vị tính: Lần

(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2011 - 2013)

Qua biểu đồ 2.6 có thể thấy, khả năng thanh toán hiện hành của Công ty có xu hướng giảm dần theo thời gian trong khi khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời có xu hướng không ổn định. Cụ thể về sự tăng giảm của nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán được phản ánh qua bảng sau:

1,47 1,42 1,42 1,32 1,17 1,28 1,12 0,06 0,49 0,35 0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4 1,6

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Khả năng thanh toán hiện hành

Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán tức thời

Bảng 2.6. Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán Chỉ tiêu ĐVT Chênh lệch giữa 2013 - 2012 Chênh lệch giữa 2012 – 2011 Tuyệt đối Tƣơng đối Tuyệt đối Tƣơng đối

Khả năng thanh toán

hiện hành Lần (0,10) (7,16) (0,05) (3,33)

Khả năng thanh toán

nhanh Lần (0,16) (12,26) 0,12 9,86

Khả năng thanh toán

tức thời Lần (0,43) (28,34) 0,43 785,5

(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán Công ty)

Nhận xét:

Khả năng thanh toán hiện hành: Hệ số cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn mà Công ty đang giữ thì có bao nhiêu đồng TSNH có thể sử dụng để thanh toán các khoản nợ phải trả. Cụ thể, chỉ tiêu này ở TTTK giảm dần từ năm 2011 đến 2013. Năm 2011 khả năng thanh toán hiện hành là 1,47 lần. Năm 2012 là 1,42 lần giảm 0,05 lần so với năm 2011. Tức là mỗi đồng nợ ngắn hạn mà Công ty đang giữ sẽ có 1,42 đồng TSNH có thể sử dụng để thanh toán các khoản nợ phải trả, ít hơn 0,05 đồng so với năm trước đó. Năm 2013, khả năng thanh toán hiện hành của Công ty tiếp tục bị thu hẹp, giảm 0,10 đồng so với năm trước đó tương đương với mức giảm 7,16%.

Nguyên nhân khiến giá trị của hệ số giảm là do tốc độ tăng của nợ ngắn hạn trong năm đó cao hơn so với tốc độ tăng của TSNH. Tuy vậy, trong 3 năm 2010, 2011 và 2012, hệ số này đều có giá trị lớn hơn 1, đạt mức an toàn chứng tỏ giá trị TSNH của Công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, điều đó cho thấy TSNH của Công ty được giữ ở mức đủ để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Khả năng thanh toán nhanh: Giá trị của hệ số thanh toán nhanh phản ánh việc Công ty có thể sử dụng bao nhiêu đồng TSNH để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không phải bán hàng tồn kho. Năm 2012 chỉ tiêu này đạt 1,28 lần cao hơn 0,12 lần so với năm 2011. Tức là Công ty có thể sử dụng nhiều hơn 0,12 đồng TSNH so với năm 2011 để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không phải bán hàng tồn kho. Tuy nhiên, sang năm 2013, con số này có sự sụt giảm nhẹ. Cụ thể, giảm 0,16 lần tương đương với 12,26% so với năm 2012. Điều đó cho thấy, trong năm 2013 Công ty chỉ có thể sử dụng 1,32 đồng TSNH để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ đặc biệt quan tâm, vì thông qua chỉ tiêu này các chủ nợ có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích Công ty có đủ khả năng thanh toán

ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Nhìn chung, tỷ số này qua các năm đều lớn hơn 1 và được duy trì ở mức cao cho thấy giá trị TSNH có tính thanh khoản nhanh của Công ty lớn hơn giá trị của các khoản nợ ngắn hạn, chứng tỏ các TSNH có thể sử dụng ngay của Công ty sẽ đủ để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không phải chịu bất cứ áp lực nào từ phía chủ nợ.

Khả năng thanh toán tức thời: Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh rằng với lượng tiền và tương đương tiền hiện có Công ty có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bất kỳ lúc nào, đặc biệt là nợ ngắn hạn. Do lượng tiền mặt chỉ chiếm vị trí số 2 trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, cụ thể là 26,38 vào năm 2013; 34,22 vào năm 2012; 3,74 vào năm 2011, Công ty cần tiền mặt để duy trì các hoạt động sản xuất khác của Công ty. Đồng thời do đặc tính sản phẩm của Công ty là các

Một phần của tài liệu KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH thương mại xuất nhập khẩu TTTK (Trang 46 - 57)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(77 trang)