4.4 PHÂN TÍCH TÍN DỤNG NGẮN HẠN DNVVN TẠI BIDV-CN TRÀ
4.4.1. Tín dụng ngắn hạn đối với DNVVN phân theo ngành nghề kinh tế
61
Bảng 4.11 Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNVVN theo ngành kinh tế của BIDV-CN Trà Vinh giai đoạn 2011-2013 Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2012/Năm 2011 Năm 2013/Năm 2012
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Nông nghiệp 10.429 1,15 8.668 0,72 10.998 0,83 (1.761) (16,89) 2.330 26,88
Thủy sản 10.407 1,14 9.290 0,78 6.407 0,48 (1.117) (10,73) (2.883) (31,03)
Công nghiệp-xây dựng 354.920 39,03 609.693 51,05 664.645 50,40 254.773 71,78 54.952 9,01 Thương mại-dịch vụ 533.546 58,68 566.655 47,45 636.670 48,29 33.109 6,21 70.015 12,36 DSCV NH DNVVN 909.302 100 1.194.306 100 1.318.720 100 285.004 31,34 124.414 10,42
Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV-CN Trà Vinh, giai đoạn 2011-2013
Bảng 4.12 Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNVVN theo ngành kinh tế của BIDV-CN Trà Vinh, 6-2013, 6-2014 Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV-CN Trà Vinh, tháng 6-2013, tháng 6-2014
Chỉ tiêu Tháng 6-2013 Tháng 6-2014 Tháng 6-2014/Tháng 6-2013
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Nông nghiệp 6.058 1,04 6.224 0,90 166 2,74
Thủy sản 4.572 0,78 5.011 0,73 439 9,60
Công nghiệp-xây dựng 256.270 43,99 369.441 53,69 113.171 44,16
Thương mại-dịch vụ 315.610 54,19 307.387 44,68 (8.223) (2,61)
DSCV NH DNVVN 582.510 100 688.063 100 105.553 18,12
62
4.4.1.1 Doanh số cho vay ngắn hạn đối với DNVVN
Qua bảng 4.7 và bảng 4.8, ta thấy doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN của Chi nhánh tăng trong giai đoạn 2011-6/2014. Trong đó, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Công nghiệp-xây dựng và ngành Thương mại-dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN. Ngành Nông nghiệp và ngành Thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất trong cơ cấu doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN của Chi nhánh.
Nông nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp vay vốn nhằm phục vụ cho hoạt động thu mua nguyên liệu đầu vào, phục vụ chế biến, xuất khẩu và trả lương cho người lao động. Với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp xây dựng thì nguồn vốn dành cho lĩnh vực nông nghiệp của ngân hàng không nhiều.
Để hỗ trợ cho các DNVVN tiếp cận vốn tín dụng, NHNN đã thực hiện các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Theo Thông tƣ 16/2013 có hiệu lực từ ngày 27/06/2013, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ là 9%/năm đối với 5 lĩnh vực ƣu tiên, trong đó có DNVVN. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động tại khu vực nông thôn được hưởng các chính sách về khuyến công, khuyến nông và chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Nông nghiệp giai đoạn năm 2011- 2013 có sự biến động. Năm 2012, doanh số cho vay ngắn hạn này thấp nhất trong 3 năm. Nguyên nhân là trong thời gian này ngành Nông nghiệp của Tỉnh gặp khó khăn do sự biến đổi của khí hậu và dịch bệnh hoành hành. Vì vậy, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này giảm.
Mặc dù năm 2013 ngành nông nghiệp tỉnh Trà Vinh phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như sự xâm nhập sâu và đột ngột của nước mặn vào vùng nội đồng, khí hậu biến đổi thất thường, dịch bệnh lây lan ,…nhưng toàn ngành nông nghiệp của Tỉnh đã nỗ lực khắc phục và đạt được sự tăng trưởng khá, cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra (Đỗ Thông, 2014). Năm 2013, nhờ vào chính ƣu đãi về lãi suất cho vay ngắn hạn đối với nhóm ngành nông nghiệp nhằm trợ giúp những khó khăn cho các DNVVN hoạt động trong ngành này. Vì vậy, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN năm 2013 tăng 2.330 triệu đồng, tức tăng 26,88% so với năm 2012.
Theo Thống đốc NHNN cho biết, trong năm 2014, hệ thống NHTM sẽ đẩy mạnh các gói tín dụng dành riêng cho lĩnh vực nông nghiệp, nhất là tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, hướng vào các mô hình sản xuất mới và BIDV-CN Trà Vinh cũng không ngoại lệ. Từ ngày 18/3/2014, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các đối tƣợng ƣu tiên nhƣ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đƣợc điều chỉnh giảm lãi suất với trần lãi suất là 8%/năm. Tháng 6/2014,
63
doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Nông nghiệp tăng 166 triệu đồng, tức tăng 2,74% so với tháng 6/2013. Là một ngân hàng lớn, có nguồn vốn tài chính dồi dào và chính sách cho vay hợp lý. Ngân hàng đã tạo đƣợc uy tín và nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn. Đạt đƣợc thành tựu trên, Chi nhánh không chỉ tuân thủ đúng quy định của NHNN về điều chỉnh hạ lãi suất cho vay mà còn ở thái độ phục vụ tận tình đối với khách hàng.
Thủy sản
Ngành Thủy sản chiếm tỷ trọng thấp trong doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN.
Tỷ trọng doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Thủy sản dao động từ 0,48% đến 1,14% doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN. Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản trong thời gian qua đã gặp rất nhiều khó khăn do biến động giá cả của nguyên liệu đầu vào và sự cạnh tranh, chèn ép trên thị trường quốc tế làm ảnh hưởng đến sản phẩm đầu ra của thị trường xuất khẩu. Do đó, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN trong thời gian này cũng bị tác động và giảm đều từ năm 2011 đến năm 2013. Cụ thể là năm 2012, doanh số cho vay đối với nhóm ngành này giảm 914 triệu đồng so với năm 2011, năm 2013, giảm 2.738 triệu đồng so với năm 2012. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh, năm 2013 sản xuất nuôi trồng thủy sản của tỉnh gặp nhiều khó khăn, thách thức. Nguyên nhân do thời tiết không ổn định, mầm bệnh năm 2012 còn ảnh hưởng, môi trường bị ô nhiễm tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Giai đoạn 2011-2013, xét thấy những rủi ro trong ngành này là khá cao nên chi nhánh đã hạn chế cho vay các doanh nghiệp, đồng thời thận trọng hơn khi xét duyệt hồ sơ cho vay để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.
Sau quá trình phục hồi và tạo đà tăng trưởng trong năm 2013, ngành Thủy sản Trà Vinh có đủ cơ sở để định hướng chiến lược phát triển trong những năm tiếp theo, tiếp tục là ngành kinh tế chủ lực và là điểm tựa của ngành nông nghiệp của tỉnh. Gía trị sản xuất của riêng lĩnh vực thủy sản ƣớc 2.946 tỷ đồng, đạt 92,5% so với kế hoạch và tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2012. Những số liệu này cho thấy năm 2013 ngành thủy sản của tỉnh đã phục hồi đáng kể và bắt đầu tăng trưởng sau những thiệt hại trong năm 2012 và những năm trước đó (Đỗ Thông, 2014).
Những tháng đầu năm 2014, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Thủy sản đã có dấu hiệu khởi sắc. Do đó, số lƣợng vay vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp tại Ngân hàng tăng lên. Tháng 6/2014, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN tăng 166 triệu đồng, tức tăng 2,74% so với tháng 6/2013.
Công nghiệp-xây dựng
Năm 2012, trong bối cảnh ngành xây dựng nói chung và thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng trầm lắng, với lƣợng hàng hóa tồn kho lớn, để hỗ trợ các doanh nghiệp vƣợt qua khó khăn, thúc đẩy các chủ thể trong chuỗi giá trị xây lắp tiếp cận nguồn vốn của BIDV hoàn thiện sản phẩm cuối cùng với chi phí hợp lý và giúp BIDV kiểm soát tốt hơn dòng tiền, mục đích sử dụng vốn vay, giải ngân trực tiếp tới người thụ hưởng, BIDV đã đưa ra sáng kiến và triển khai thực hiện Gói sản phẩm liên kết 4 nhà: Ngân hàng- Chủ đầu tƣ – Nhà thầu – Nhà cung cấp vật liệu xây dựng đối với các
64
công trình xây dựng. Sau thực tiễn 2 năm triển khai, BIDV đã thực hiện đƣợc một số chương trình với những kết quả cụ thể: Tính đến 31/5/2014, BIDV đã ký hợp đồng tài trợ cho 11 dự án theo cơ chế sản phẩm tín dụng bốn nhà trong lĩnh vực bất động sản, giao thông, với số tiền cam kết là 16.200 tỷ đồng, trong đó số tiền đã giải ngân hơn 7.000 tỷ đồng. Đề án liên kết 4 Nhà trong lĩnh vực xây dựng do NHNN xây dựng ra đời trong bối cảnh thị trường xây dựng, bất động sản đã có tín hiệu phục hồi nhưng vẫn còn những thách thức. Đề án là một trong các giải pháp điều hành vĩ mô thiết thực của NHNN được đúc kết từ thực tiễn của thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu theo Nghị quyết 2 của Chính phủ.
Hiện tại, khối ngành này vẫn đang đƣợc Ban lãnh đạo Tỉnh chú trọng đầu tƣ.
Hiện tại trên địa bàn tỉnh có KCN Long Đức và lãnh đạo tỉnh đang kêu gọi, thu hút các nhà đầu tƣ vào Khu kinh tế Định An, KCN Cầu Quan, Cổ Chiên và KCN Long Đức mở rộng. Do đó, nhu cầu đầu tƣ, mở rộng sản xuất của các DNVVN theo đó cũng ngày càng tăng. Bên cạnh nhóm ngành công nghiệp, ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh cũng ngày càng phát triển. Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Theo đó, nhu cầu về nhà ở, cơ sở vật chất của người dân cũng ngày càng nâng cao vì vậy thúc đẩy lƣợng lớn các DNVVN chuyên kinh doanh về vật liệu xây dựng và xây lắp công trình, nhà ở ra đời. Nắm bắt kịp thời nhu cầu đó Chi nhánh đã mạnh dạn mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Qua bảng 4.7 và 4.8, ta thấy công nghiệp-xây dựng là một trong 2 nhóm ngành chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với DNVVN của Chi nhánh. Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với nhóm ngành này có tăng nhẹ qua các năm và doanh số cho vay ngắn hạn đối với nhóm ngành này tăng qua các năm. Năm 2012, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành này tăng 254.773 triệu đồng, tức tăng 71,78% so với năm 2011, năm 2013, tăng 54.952 triệu đồng, tương đương tăng 9,01% so với năm 2012. Doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Công nghiệp-xây dựng tăng cao, năm 2013 doanh số này tăng gần 2 lần so với năm 2011 cho thấy đƣợc sự tăng lên về số lƣợng và chất lƣợng hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành này.
Những tháng đầu năm 2014, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN đối với nhóm ngành này tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN của Chi nhánh. Tháng 6/2014, tăng 113.171 triệu đồng, tức tăng 44,16% so với tháng 6/2013. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Trà Vinh (6/2014), chỉ số phát triển toàn ngành công nghiệp tháng 6/2014 tăng 17,78% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2014, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: công nghiệp khai khoáng giảm 9,08%;
công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,35%; Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 1,83%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,33%. Đối với ngành xây dựng, giá trị sản xuất ngành này theo giá cơ bản 6 tháng đầu năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước đạt 1.361 tỷ đồng, tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước.
Qua đó, ta thấy triển vọng cho vay đối với nhóm ngành này là khá tốt.
65
Thương mại-dịch vụ
Ngành Thương mại-dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Thương mại-dịch vụ vay vốn tại BIDV-CN Trà Vinh chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải cụ thể là vay đóng sà lan. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn đóng sà lan tại Chi nhánh chiếm tỷ trọng lớn. Vì đây là một trong những đối tƣợng đƣợc ƣu tiên về lãi suất vay tại Chi nhánh.
Doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN ngành Thương mại-dịch vụ giai đoạn 2011-2013 luôn tăng qua các năm. Nguyên nhân chỉ số này tăng là do số lƣợng các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực này tăng lên và số lƣợng DNVVN có nhu cầu vay vốn tại Chi nhánh tăng qua các năm. Năm 2011, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN đạt 533.546 triệu đồng, năm 2012 đạt 566.655 triệu đồng và năm 2013 đạt 636.670 triệu đồng.
Kinh doanh thương nghiệp đạt 5.718 tỷ đồng, chiếm 70,08% tổng mức, tăng 30,61% so với cùng kỳ; khách sạn, nhà hàng dịch vụ 1.322 tỷ đồng, chiếm 16,21%, giảm 0,56%; dịch vụ đạt 1.115 tỷ đồng, chiếm 13,67%, tăng 6,83%. Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2014 đã có bước tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ với nhiều loại mặt hàng, cùng với chính sách bình ổn giá, đƣa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các chương trình khuyến mãi giảm giá các trung tâm thương mại như siêu thị Coopmart Trà Vinh, siêu thị Vinatex mart Trà Vinh, siêu thị điện máy chợ lớn... đã thúc đẩy tăng trưởng của ngành. Đây cũng là con đường để các doanh nghiệp thu hút người tiêu dùng đến với hàng Việt trước sự xâm nhập của hàng nước ngoài không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo an toàn cho người dân. (Cục Thống Kê tỉnh Trà Vinh, tháng 6/2014). Tháng 6/2014, doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN nhóm ngành này giảm 8.223 triệu đồng, tức giảm 2,61% so với tháng 6/2013. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự sụt giảm tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp vay vốn đóng sà lan. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn đóng sà lan tại Chi nhánh cao. Nguyên nhân là do kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này qua các năm không khả qua và để lại cho Chi nhánh nhiều khoản nợ xấu. Vì vậy, trước khi quyết định cho vay các donh nghiệp thuộc lĩnh vực này, Chi nhánh đánh giá và thẩm định rủi ro rất khắt khe để giảm thiểu những rủi ro mang về cho Chi nhánh.
4.4.1.2 Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNVVN
Qua bảng 4.9 và 4.10, doanh số thu nợ ngắn hạn DNVVN tăng qua các năm. Sự tăng lên của chỉ số này qua các năm cho thấy công tác thu hồi nợ của ngân hàng khá tốt. Xét về cơ cấu, giống nhƣ doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN, doanh số thu nợ ngắn hạn DNVVN nhóm ngành Thương mại-dịch vụ và nhóm ngành Công nhiệp-xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất; trong khi đó, ngành Nông nghiệp và ngành Thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất trong doanh số thu nợ ngắn hạn DNVVN. Để hiểu rõ hơn về công tác thu nợ ngắn hạn DNVVN của Chi nhánh, ta đi sâu phân tích chỉ số này với
66
Bảng 4.13 Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNVVN theo ngành kinh tế của BIDV-CN Trà Vinh giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2012/Năm 2011 2013/2012
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%)
Nông nghiệp 3.693 0,48 5.072 0,45 6.092 0,44 1.379 37,34 1.020 20,11
Thủy sản 8.785 1,13 7.521 0,67 11.332 0,81 (1.264) (14,39) 3.811 50,67
Công nghiệp-xây dựng 260.509 33,60 512.813 45,35 706.337 50,66 252.304 96,85 193.524 37,74 Thương mại-dịch vụ 502.329 64,79 605.424 53,53 670.598 48,09 103.095 20,52 65.174 10,77 DSTN NH DNVVN 775.316 100 1.130.830 100 1.394.359 100 355.514 45,85 263.529 23,30
Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV-CN Trà Vinh, giai đoạn 2011-2013
Bảng 4.14 Doanh số thu nợ ngắn hạn đối với DNVVN theo ngành kinh tế của BIDV-CN Trà Vinh, 6-2013, 6-2014 Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp BIDV-CN Trà Vinh, tháng 6-2013, tháng 6-2014
Chỉ tiêu Tháng 6-2013 Tháng 6-2014 Tháng 6-2013/Tháng 6-2014
Số tiền Tỷ trọng (%)
Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%)
Nông nghiệp 5.341 0,82 5.365 0,71 24 0,45
Thủy sản 5.109 0,78 8.434 1,11 3.325 65,08
Công nghiệp-xây dựng 283.656 43,54 424.341 56,10 140.685 49,59
Thương mại dịch vụ 357.319 54,86 318.219 42,08 (39.100) (10,94)
DSTN NH DNVVN 651.425 100 756.359 100 104.934 16,11
67
các ngành cụ thể mà ngân hàng cho vay nhƣ: Nông nghiệp, Thủy sản, Công nghiệp- xây dựng và Thương mại-dịch vụ.
Nông nghiệp
Do sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp phải chịu nhiều rủi ro nhƣ điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ nên các doanh nghiệp trong lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn trong thu hút vốn đầu tƣ so với các lĩnh vực khác. Các khoản tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu cấp cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến. Bản thân ngân hàng cũng thừa nhận rằng, khu vực nông nghiệp, nông thôn có nhu cầu vốn rất lớn nhƣng nhiều năm nay luôn trong tình trạng thiếu vốn đầu tƣ do có nhiều yếu thế, rủi ro cao nhƣ thiên tai, dịch bệnh, doanh thu không ổn định bởi tình trạng “mất mùa đƣợc giá, đƣợc mùa mất giá” nên khiến ngân hàng ngại rót vốn. (Ngọc Quang, 2014)
Mặc dù các doanh nghiệp nông nghiệp phải chịu nhiều rủi ro vì phụ thuộc vào khí hậu và thị trường nhưng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh này vẫn đạt được những thành tựu nhất định. Nguyên nhân là nhờ vào chính sách trợ giúp của Chính phủ đối với nhóm ngành ƣu tiên này và lãi suất cho vay của Ngân hàng đƣợc điều chỉnh khá thấp theo quy định của NHNN. Công tác thu hồi nợ ngắn hạn đối với DNVVN của nhóm ngành nông nghiệp tăng trong giai đoạn từ năm 2011-2013. Năm 2011 là 3.693 triệu đồng, năm 2012 là 5.072 triệu đồng và năm 2013 là 6.092 triệu đồng.
Những tháng đầu năm 2014, nền kinh tế có sự chuyển biến tích cực. Mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với nhóm ngành thuộc lĩnh vực ƣu tiên này tiếp tục đƣợc điều chỉnh giảm. Vì vậy, đi kèm với sự gia tăng doanh số cho vay ngắn hạn DNVVN trong 6 tháng đầu năm 2014, doanh số thu nợ ngắn hạn DNVVN cũng tăng theo. Tháng 6/2014, chỉ số này tăng nhẹ so với năm tháng 6/2013 với tỷ trọng là 0,45%.
Thủy sản
Nhìn chung, doanh số thu nợ ngắn hạn DNVVN ngành Thủy sản có sự biến động qua các năm trong giai đoạn 2011-2013. Năm 2012, chỉ số này thấp nhất trong 3 năm đạt 7.521 triệu đồng. Trong năm 2012, nhiều doanh nghiệp thủy sản phải đối mặt với nhiều khó khăn từ vốn, nguyên liệu sản xuất, nhân công, phí vận chuyển. Cước phí vận chuyển tăng vọt. Nguyên nhân là do giá dầu đứng ở mức cao và nằm trong lộ trình tăng giá trở lại của cước vận tải biển sau khi bị sụt giảm mạnh trong hơn một năm trước. Việc cước phí tăng sẽ làm giá thành sản phẩm tăng để san bớt khó khăn cho doanh nghiệp và nhƣ vậy sẽ làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp.
(Phương Thảo, 2012). Điều đó dẫn đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng bị thua lỗ. Sang năm 2013, tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thủy sản khả quan hơn. Sản lƣợng thủy sản năm