3.2.1. Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là một trong những nội dung cơ bản thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và là phương hướng phát triển nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Vì vậy, Nghị quyết số 06/NQ - TW về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” tháng 11/ 1998 Bộ Chính trị đã đặt ra mục tiêu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hoá, nhất là hàng nông phẩm qua chế biến tăng kim ngạch xuất khẩu, giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ trong kinh tế nông thôn [52].
Trong mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế trong 5 năm (2001 - 2005) của Đảng bộ thành phố Hà Nội, đã đề ra: Chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Về nông nghiệp và phát triển nông thôn ngoại thành, Đảng bộ thành phố cũng đề ra mục tiêu:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành theo hướng tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi, thuỷ sản, tăng nhanh tỉ trọng các ngành thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, các loại thực phẩm sạch (rau sạch, thịt sạch,…)
Phát triển đa dạng theo hướng hiện đại hoá, thâm canh và chuyên doanh một số cây - con, đặc sản như: quy hoạch và phát triển vùng hoa cây cảnh, vùng trồng cây ăn quả, vùng chăn nuôi bò sữa, vùng nuôi trồng thuỷ sản,… với yêu cầu đạt thu nhập và hiệu quả kinh tế cao.
Từ Liêm là một huyện ngoại thành có tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh. Quá trình đô thị hoá nhanh tạo ra những thời cơ và thuận lợi mới trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội theo hướng CNH- HĐH, song còn nhiều khó khăn thử thách mới trong quá trình quản lý nhà nước và giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn do đất nông nghiệp bị chia cắt manh mún, hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong nông nghiệp bị phá vỡ, vấn đề giải quyết việc làm trong nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất gặp nhiều khó khăn…Đây là đặc điểm bao trùm, tác động đến toàn bộ chương trình phát triển kinh tế ngoại thành và hiện đại hoá nông thôn của huyện.
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Thành uỷ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Từ Liêm lần thứ XX tháng 11 năm 2000 đề ra mục tiêu phát triển kinh tế huyện đến năm 2010 là: Phát triển toàn diện với cơ cấu kinh tế Công nghiệp- Thương mại, dịch vụ- Nông nghiệp. Trong đó, về nông nghiệp, Nghị quyết nhấn mạnh về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá:“Chuyển hướng sản xuất nông
cây ăn quả, hoa, cây cao cấp, rau sạch. Nâng tỷ trọng chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Quy hoạch thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung để sản xuất ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu”.[10]
Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, Nghị quyết Đại hội cũng chỉ ra nhiệm vụ và giải pháp thực hiện:
Về nông nghiệp:
Đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi (từ 27,7% năm 2000 lên 28%
năm 2005) . Phát huy lợi thế và các sản phẩm đặc trưng của địa phương, phát triển nhanh các loại cây con có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Quy hoạch sản xuất thành những vùng sản xuất hàng hoá tập trung: Vùng cây ăn quả, vùng hoa, vùng rau sạch (Phú Diễn, Minh Khai, Tây Tựu, Xuân Phương), vùng lúa đặc sản và chăn nuôi (Tây Mỗ, Đại Mỗ, Xuân Phương, Thượng Cát, Liên Mạc...). Kết hợp sản xuất với bảo vệ môi trường để từng bước phát triển du lịch sinh thái.
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản từ sơ chế đến tinh chế nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và đáp ứng thị trường.
Đổi mới và phát triển các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình hợp tác trong hoạt động kinh tế. Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng hình thành các nông trại sản xuất hàng hoá.
Phát triển nông nghiệp gắn với phát triển ngành nghề ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2005: 100% số dân được sử dụng nước sạch, xoá bỏ đường đất ở nông thôn.
Về công nghiệp- TTCN:
Đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp trên cơ sở phát huy các nguồn lực hiện có. Đầu tư phát triển ngành theo 2 hướng: Duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống hiện có đồng thời xây dựng phát triển một số ngành công nghiệp mới, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển ngành công nghiệp chế biến trực tiếp có sử dụng nguyên liệu tại địa phương và thu hút nhiều lao động như: chế biến lương thực thực phẩm, may mặc.
Xác định cơ cấu đầu tư thích hợp nhằm khuyến khích phát triển các làng nghề, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào cụm công nghiệp tập trung vừa và nhỏ của huyện. Quy hoạch phát triển các làng nghề và các cụm Công nghiệp- TCN, thực hiện các đề án điện nông thôn để tạo điều kiện ngành nghề thủ công phát triển.
Về Thương mại, dịch vụ:
Tiếp tục qui hoạch lại hệ thống thương mại, dịch vụ trên cơ sở định hướng phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, khu văn hoá thể thao, vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung... Mở rộng thị trường sang các khu vực lân cận, ngoại tỉnh, đặc biệt chú trọng thị trường nội đô và từng bước vươn ra thị trường nước ngoài.
Đầu tư xây dựng và nâng cấp các trung tâm thương mại, mạng lưới chợ nông thôn tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá và thu hút lao động.[10]
Với những mục tiêu và giải pháp trên, Đảng bộ Từ Liêm đã tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng:
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đây là giai đoạn Từ Liêm gặp nhiều khó khăn do thay đổi lớn về địa giới hành chính. Tuy nhiên, nền kinh tế của huyện vẫn đạt được những bước phát triển khá. Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế luôn đạt cao, liên tục, hiệu quả và khá vững chắc. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tiến bộ và đã đạt được mục tiêu do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra: Công nghiệp – Thương mại- Nông nghiệp. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng từ 33,1% năm 1995 lên 57% năm 2005; tỷ trọng giá trị sản xuất ngành Thương mại- Dịch vụ- vận tải từ 26% năm 1995 xuống 25,8% năm 2005, tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp giảm từ 40,9% năm 1995 xuống còn 15% năm 2005.[79]
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn lãnh thổ:
Ngành kinh tế Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Tổng số 757.388 100 1.255.390 100 2.122.000 100 Công nghiệp- Xây dựng 460.130 60,7 807.348 64,3 1.714.576 80,8 Thươngmại,dịchvụ,vận
tải
119.231 15.8 209.550 16.7 280.104 13,2
Nông, lâm, thuỷ sản 178.027 23.5 238.492 19,0 127.320 6 (Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế- xã hội huyện Từ Liêm năm
1995, 2000, 2005
Phòng thống kê huyện Từ Liêm)
Cơ cấu kinh tế thuộc huyện quản lý:
Ngành kinh tế Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
GTSX (triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Tổng số 414.064 100 683.428 100 1.067.000 100
Công nghiệp- Xây dựng 137.152 33,1 270.136 39,5 608.190 57,0 Thươngmại,dịchvụ-vận
tải
107.825 26,0 183.600 26,9 275.268 25,8
Nông, lâm, thuỷ sản 169.087 40,9 229.692 33,6 160.050 15,0 (Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế- xã hội huyện Từ Liêm năm
1995, 2000, 2005
Phòng thống kê huyện Từ Liêm) Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp :
Huyện đã chỉ đạo chú trọng chuyển dịch theo hướng chuyển sang trồng các loại cây, con có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện, tăng giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1ha đất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Kết quả:
Mặc dù diện tích nông nghiệp đã thu hẹp gần 30% diện tích (tương đương 1000ha) trong 5 năm từ 2000 đến 2005) song giá trị sản xuất toàn ngành không giảm mà vẫn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 0,45%/năm.
Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân trên 1ha đất nông nghiệp đạt 78,3 triệu đồng, tăng 39,3 triệu đồng so với năm 1995, cao nhất toàn khối huyện của Thành phố. Có được kết quả này là do huyện đã tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý.
Cơ cấu ngành Nông- Lâm nghiệp- Thuỷ sản.
Ngành kinh tế Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
GTSX (tỷ đồng)
Tỷ trọng
GTSX (tỷ đồng)
Tỷ trọng
GTSX (tỷ đồng)
Tỷ trọng
I/ Tổng GT SX ngành nông nghiệp – thuỷ sản (Giá CĐ 94)
138,054 100 168,746 100 182,000 100
- Trồng trọt 99,767 72,3 118,558 70,3 128,600 69,7
-Chăn nuôi 36,457 26,4 46,94 27,7 50,000 24
2/ Lâm nghiệp 0,286 0,2 0,500 0,4 0,500 0,3
3/ Thuỷ sản 1,544 1,1 2,748 4,8 2,900 5,1
II/ GT SX NN/1 ha đất NN ( theo giá HH)
39 Tr.đ
57 Tr.đ
78,3 Tr.đ (Nguồn: Báo cáo tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
huyện Từ Liêm từ năm 1995 đến 2005 Phòng thống kê huyện Từ Liêm)
Các chỉ số liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Từ Liêm Các chỉ số Đơn vị 1995 2000 2005 Nhịp độ tăng BQ/năm
1 2 3 4 5 1996-2000 2000-2005
- GT sản xuất nông lâm thuỷ sản Triệu.đ
+ Theo giá cố định năm 1994 Triệu.đ 138054 168746 182000 4,10 1,50
+ Theo giá hiện hành Triệu.đ 169087 229692 247000 6,30 1,50
- Tổng DT gieo trồng cây hàng năm ha 7550 7480 5630 -1,00 -5,50 Trong đó:
+ Diện tích lúa ha 6159 5400 3600 -2,60 -7,80
+ Diện tích rau các loại ha 1103 980 1015 -2,40 2,60
+ Diện tích hoa, cây cảnh ha 270 994 1500 69,00 8,50
+ Diện tích cây ăn quả ha 250 450 515 12,50 5,90
- Năng suất lúa 2 vụ/năm tạ/ha 80 86 90 2,10 1,00
- Năng suất rau tạ/ha 186 190 195 2,40 0,50
- Tổng sản lượng lương thực qui thóc tấn 25505 22930 15600 -2,10 -7,30 - Tổng đàn lợn trên 2 tháng tuổi con 31013 39288 42000 4,80 1,40
- Tổng đàn trâu bò con 3018 1294 1250 -15,60 -0,70
- Diện tích nuôi thả cá ha 188 240 280 5,00 3,10
Nguồn: Báo cáo tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Từ Liêm từ năm 1995 đến 2005
Phòng thống kê huyện Từ Liêm) Ngành trồng trọt:
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng cao nhất (69,7%). Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng giảm dần diện tích lúa, tăng diện tích hoa, cây ăn quả, rau là những cây có giá trị kinh tế cao. Các tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất. Nhiều quy trình công nghệ, giống cây, con mới được huyện ứng dụng có hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung đã hình thành rõ nét như:
- Vùng trồng hoa Tây Tựu với diện tích trên 300ha .
- Vùng trồng cây ăn quả (3 xã: Minh Khai, Phú Diễn, Xuân Phương) với diện tích 280ha.
- Vùng trồng rau an toàn (2 xã: Liên Mạc, Minh Khai) với diện tích trên 60ha.
Trong đó, sản xuất hoa và cây ăn quả đặc sản như cam canh, bưởi diễn là những cây trồng chủ lực và là hướng phát triển lâu dài của huyện.
Sản xuất lúa: diện tích gieo trồng lúa: 3600 ha, giảm 2559 ha so với năm 1995. Diện tích lúa giảm mạnh chủ yếu do Nhà nước lấy đất để xây dựng các dự án, công trình quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Các giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao được ứng dụng rộng rãi như: DH 85, Bắc thơm 7, T2, T5..., góp phần đưa năng suất lúa của huyện đạt 86,5 tạ/ha, tăng 5 tạ/ha so với năm 2000.[76]
Sản xuất rau: diện tích gieo trồng năm 2005 là 1015 ha, tăng 35 ha so với năm 2000. Các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất rau an toàn (ngô
186tạ/ha năm 1995 lên 195 tạ/ha năm 2005. Giá trị sản xuất tăng từ 15,6%
năm 2000 lên 16,9% năm 2005, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao đời sống của nhân dân.
Sản xuất hoa: là cây có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị ngành trồng trọt, được huyện chú trọng phát triển trong những năm qua. Diện tích gieo trồng đến năm 2005 đạt 1500ha, tăng 506 ha so với năm 2000, đưa giá trị sản xuất tăng từ 42,64% (năm 2000) lên 47,2%
(năm 2005). Trong những năm qua, diện tích gieo trồng hoa của huyện phát triển mạnh, các loại hoa mới thường xuyên được đưa và sản xuất đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và bước đầu đã vươn ra thị trường nước ngoài. Diện tích hoa có cơ cấu 9,5% diện tích canh tác nhưng giá trị sản xuất chiếm trên 40% giá trị tổng ngành trồng trọt. Sản xuất hoa là phương hướng phát triển lâu dài của huyện.
Mô hình trồng hoa trong nhà lưới, công nghệ cao, quy trình sản xuất hiện đại với các giống hoa: cúc, đồng tiền, hồng,… mới nhập nội từ Pháp, Hà Lan, Trung Quốc,... có nhiều chủng loại, màu sắc phong phú đa dạng đang được huyện chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng và nhân rộng nhằm tạo ra được những giống, sản phẩm hoa có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao đáp ứng được thị trường trong nước, từng bước hướng tới xuất khẩu. Được sự quan tâm của Thành phố, huyện đã lập dự án xây dựng vùng hoa tập trung Tây Tựu với công nghệ sản xuất cao có quy mô lớn từ 400 - 500 ha. Năm 2005 dự án được phê duyệt với tổng kinh phí đầu tư trên 70 tỷ đồng. Với dự án này, sẽ vừa tăng hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra một khu vực cảnh quan, sinh thái cho huyện và Thủ đô.
Sản xuất cây ăn quả: Là những cây trồng được Huyện chú trọng phát triển, diện tích gieo trồng đạt 515ha năm 2005, tăng 65ha so với năm 2000, đưa giá trị sản xuất tăng từ 11,1% len 13,5%. Cây ăn quả đặc sản của địa phương đang được chú trọng phát triển như: cam Canh, bưởi Diễn. Đã hình thành các vùng sản xuất tập trung tại các xã: Minh Khai, Phú Diễn, Xuân Phương. Đây là
những loại cây ăn quả có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm tới, diện tích cây ăn quả vẫn được phát triển trên địa bàn huyện.
Ngành chăn nuôi:
Năm 2005, giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng 24%, có xu hướng giảm dần, phù hợp với sự phát triển đô thị của huyện. Các sản phẩm chính là lợn hướng nạc, gia cầm. Gắn phát triển chăn nuôi với công nghiệp chế biến.
Năm 2003, Huyện đã xây dựng xong khu lò mổ tập trung tại xã Trung Văn để nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường.
Ngành thuỷ sản: Huyện đã chỉ đạo tận dụng các ao hồ, ruộng trũng không canh tác và tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nuôi trồng thuỷ sản như cá rôphi, cá tra, cá chim trắng,... để làm tăng giá trị sản xuất trên 1ha diện tích canh tác. Do vậy diện tích gieo trồng giảm, nhưng giá trị sản xuất tăng 24,7% so với năm 2000, đưa cơ cấu tăng từ 4,8% (năm 2000) lên 5,1% (năm 2005)[79].
Tóm lại, trong 10 năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do quá trình đô thị hoá, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND- UBND và các ban ngành Thành phố, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, Chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở và toàn thể nhân dân, nền kinh tế của huyện có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có sự chuyển biến tích cực, đúng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện là thứ XIX và XX đề ra, theo hướng:
Công nghiệp, xây dựng - Thương mại, dịch vụ - Nông nghiệp.
Ngành nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh tác giảm mạnh, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân vẫn đạt 2,5%/năm. Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi thay đổi rõ nét: Tăng diện tích các loại cây trồng có giá trị và hiệu quả kinh tế cao như hoa, cây ăn quả đặc sản ( bưởi, cam ), giảm diện tích lúa. Do vậy, Bộ mặt nông thôn của huyện thay đổi rõ nét, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện trong thời gian qua còn một số tồn tại như sau:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp còn chậm chưa tương xứng tiềm năng phát triển của huyện. Quy mô sản xuất công nghiệp, TTCN nông thôn còn nhỏ, chậm đổi mới trang thiết bị công nghệ, chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh chưa mạnh.
+ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội còn yếu và thiếu, điều đó hạn chế sự phát triển kinh tế và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện, hơn nữa làm kém sự hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài.
Trong thời gian tới, nhiệm vụ trọng tâm của huyện là tập trung đầu tư phát triển kinh tế, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, góp phần hoàn thành thắng lợi Nghị quyết đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra.
3.2.2. Chỉ đạo thực hiện chính sách khuyến nông, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật.
Mặc dù diện tích đất canh tác của Từ Liêm ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hoá nhanh, nhưng giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất nông nghiệp ngày càng tăng, dẫn đầu khối huyện của Thành phố. Có được kết quả này, một mặt Đảng bộ đã lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách hợp lý theo hướng CNH- HĐH, mặt khác Đảng bộ Huyện đã thực hiện các chính sách khuyến nông, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật.
Đối với ngành trồng trọt:
Trong những năm qua huyện đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu, ứng dụng đã được triển khai rộng rãi nhằm phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện và tăng diện tích trồng các loại cây có phẩm chất và giá trị kinh tế cao. Qua nghiên cứu, ứng dụng, nhiều giống lúa tiến bộ kỹ thuật thử nghiệm thành công được nông dân tiếp thu và đưa vào sản xuất đại trà như: CR203, C70, C71, VDIO, VD20, 9830, 9810, Núi, 98-10, 98-