Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả XH Hở các đài truyền hình nó

Một phần của tài liệu Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012 (Trang 96 - 167)

7. Kết cấu của luận văn

3.1. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả XH Hở các đài truyền hình nó

hình nói chung

3.1.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý cho hoạt động XHH

- Cần luật hóa về hoạt động XHH truyền hình

Tại Việt Nam, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng ngay khi ra đời đã xác định được chức năng, nhiệm vụ cũng như trọng trách lớn lao đó là một loại hình hoạt động chính trị - xã hội. Điều 1, Chương I, Luật Báo chí có ghi:

“Báo chí nước Cộng hòa XNCH Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân”.

Trong bối cảnh nhu cầu thông tin của công chúng ngày càng cao và đa dạng, một mình các đài truyền hình không đảm đương hết được các nhiệm vụ, việc chia sẻ công việc, trách nhiệm cho xã hội là rất cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay các đối tác tham gia hoạt động xã hội hóa chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân. Với các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, nhiệm vụ chủ yếu của họ là kinh doanh. Mà theo luật doanh nghiệp, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Đối với doanh nghiệp thì lợi ích kinh tế là mục đích cơ bản nhất.

Hiện nay ở Việt Nam, một số đài truyền hình đã thực hiện cơ chế tự thu chi, tự chủ về tài chính và được giao là đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có quản lý một số doanh nghiệp. Mục tiêu đầu tiên của những doanh nghiệp truyền thông này là nhiệm vụ tư tưởng, chính trị sau đó mới đến những nhiệm vụ khác. Chính vì mục đích khác nhau cơ bản đó, trong sự phát triển của mỗi đơn vị truyền hình hay

doanh nghiệp như vậy nên đã dẫn tới một số mâu thuẫn trong quá trình hợp tác của các đơn vị.

Tuy nhiên, không phải cứ có tiền, là có thể tham gia liên kết được với nhà đài. Chính lãnh đạo của một đài truyền hình cũng xác nhận, đơn vị, tư nhân nào có kinh nghiệm, có mối quan hệ tốt với nhà đài, sẽ được ưu tiên giờ phát sóng đẹp và việc được sử dụng một kênh riêng không là chuyện quá khó. Còn “mối quan hệ tốt” là tốt thế nào, tốt ra sao thì “ai muốn hiểu sao cũng được”.

Trong Thông tư 19/2009/TT-BTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 quy định về việc liên kết trong hoạt động phát thanh, truyền hình. Tuy nhiên thông văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình trong đó có đề cập đến quyền lợi của đối tác liên kết được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc nguồn thu phí. Nhưng chính các đối tác xã hội hóa hiện vẫn chưa có “danh phận” trong bất cứ một văn bản pháp luật nào liên quan đến xã hội hóa và họ dường như cũng đang mạo hiểm với việc đầu tư vào sản xuất chương trình với các nhà đài. Ông Nguyễn Hồng Dương – Phó Giám đốc nội dung Kênh VTC9 tại Hà Nội cho biết:

Nhà đài luôn nắm phần cán, còn chúng tôi là người giữ đầu lưỡi. Dù bất cứ chuyện gì xảy ra, phần thiệt thòi luôn về phía chúng tôi. Tư nhân phải trang bị máy móc, thiết bị, thuê người sản xuất hoặc phải bỏ tiền mua bản quyền khai thác chương trình. Nhà đài chỉ việc phát sóng, sau đó trả lại bằng quảng cáo”.

Chính vì vậy, đầu tư cho truyền hình là một bài toán khó khăn và là chuyện đầu tư lâu dài, không thể ăn xổi. Chỉ những ai có kinh nghiệm, có bản lĩnh mới trụ lại được. Một chủ kênh truyền hình cho biết, hai năm nay kênh truyền hình của chị không hề có lợi nhuận; nhưng bù lại đơn vị của chị có rất nhiều chương trình hợp tác với các đài lớn và trên các kênh chính thống, nên chị lấy nguồn thu từ đó bù cho kênh này. Các đơn vị sản xuất phim thì hạ bớt giá thành làm phim. Nếu đài

tính 200 triệu/tập phim, đơn vị đầu tư thực hiện hạ xuống chỉ còn khoảng 160 hoặc 180 triệu/tập.

Do đó, số tập phim càng dài, thì số tiền dư ra càng lớn và đó là cách để họ tính được phim của mình lời hay lỗ. Phim hay và thu hút nhiều quảng cáo tới đâu, thì họ cũng chỉ được nhận đúng với quy định của đài. Ông Nguyễn Hồng Dương – Phó Giám đốc nội dung Kênh VTC9 tại Hà Nội cũng chia sẻ:

Tiền bỏ ra sản xuất phim (chương trình) hoặc mua bản quyền phát sóng là tiền “tươi”, nhưng đài trả lại là những spot quảng cáo (vô hình). Chúng tôi phải vất vả đi mời chào bán quảng cáo, nếu bán được cũng không nhận được tiền ngay mà phải đi tới lui vài lần, vài tháng, có khi cả năm sau khi chương trình đã phát sóng rồi, mới nhận được tiền”.

Câu chuyện cần luật hóa vấn đề xã hội hóa trong Luật Báo chí cũng được đặt ngay từ năm 2007 nhưng đến giờ vẫn chưa trở thành hiện thực. Nhưng có nhiều chuyên gia cho rằng việc chưa được bổ sung vào Luật Báo chí cũng không có nghĩa là chúng ta đang không có một công cụ để quản lý bởi chúng ta cũng có hàng loạt các luật khác mà có thể áp dụng ở một liều lượng nhất định. Điều quan trọng mà chúng ta vẫn đang thiếu đó là sự khẳng định vai trò, quyền lợi của các đối tác xã hội hóa. TS. Trần Đăng Tuấn – TGĐ Công ty CP Nghe nhìn Toàn cầu AVG nhận định:

“Chúng ta nên củng cố về luật để tạo cơ sở quản lý chắc chắn hơn, đồng thời phải có hành lang pháp lý rộng hơn để thực hiện việc huy động nguồn lực bên ngoài được thực hiện một cách hiệu quả. Vướng mắc ở đây cần được tháo gỡ là từ những người tham gia vào quá trình xã hội hóa, nhất là các đơn vị ngoài khu vực nhà nước. Họ cảm thấy không có gì đảm bảo, không có sự bình đẳng và bị phụ thuộc quá nhiều vào các đài truyền hình. Họ có thể mất công, mất của và bị gạt ra vì những lý do

không rõ ràng. Đây chính là lý do hạn chế sự tham gia của những lực lượng có khả năng sáng tạo, có nguồn lực chất xám dồi dào nằm ở ngoài các đài truyền hình”. [Phụ lục PVS 1.2]

- Cần công nhận đối tác XHH là một lực lượng nhằm nâng cao trách nhiệm trong việc hợp tác sản xuất chương trình truyền hình

Nếu được công nhận với việc được hưởng những “quyền lợi” đi kèm với “trách nhiệm” này thì các đối tác yên tâm cung cấp những sản phẩm có chất lượng để mang lại những lợi ích xã hội to lớn và lợi ích của công ty cũng như của đài đó dựa trên nền tảng khán giả hài lòng, có lợi ích tốt cho xã hội. Nếu xây dựng cơ chế được luật hóa, yên tâm về điều đó thì có lẽ nguồn lực của xã hội đưa vào lĩnh vực truyền hình còn lớn hơn nhiều gấp bội mà không chỉ là nguồn lực về tài chính mà quan trọng là sức sáng tạo của xã hội. Kể các đài rất lớn như VTV thì sức sáng tạo trong nội bộ đài chỉ là một phần và người nào thắng hay không trong lĩnh vực truyền hình là có thu hút được sự sáng tạo của bên ngoài hay không. Bây giờ việc thu hút ở bên ngoài cần có một cơ chế để làm sao vừa phục vụ lợi ích xã hội, đồng thời đảm bảo về mặt pháp lý cho những người tham gia để họ không phải có những rủi ro mà lỗi không phải tại họ mà rủi ro về cơ chế chưa rõ ràng thì cái đó cần phải có sự xem xét hoặc là khuôn khổ luật pháp hoặc dưới luật để quá trình liên kết này thuận tiện hơn.

Để xã hội hóa tốt lên thì nhà nước xét cho cùng không thể làm thay được vì việc của nhà nước vốn không phải là như thế. Để giải phóng sức lao động, sức sáng tạo của con người thì cần có cơ chế mà ở đó quy trình ra quyết định phải nhanh, cơ chế đãi ngộ phải thỏa đáng và có tính ổn định tương đối chứ không phải ổn định tuyệt đối. Các Mác đã từng nói “ổn định bản chất là kẻ thù của sáng tạo”. Đơn cử ổn định của việc làm là kẻ thù của sáng tạo vì khi ổn định về việc làm thì không thúc đẩy sáng tạo để đổi mới, để làm mới mình. Ví dụ, ở Pháp, những người làm công tác biểu diễn, công tác sáng tạo theo Luật thì không được làm biên chế nhà nước, tức là không có những hợp đồng không xác định thời hạn hoặc hợp đồng dài

hạn ở một chủ sử dụng lao động nào mà buộc một năm phải làm mấy trăm giờ, không được làm quá ở nơi này, nơi kia và cộng lại thì người ta vẫn đủ số giờ đi làm và đến tuổi thì người ta vẫn được về hưu. Nhưng tính chất công việc của họ khiến họ phải tổ chức với nhau thành những hiệp hội, nghiệp đoàn của những người biểu diễn, tức là ngành công nghiệp biểu diễn bán thời gian. Mặc dù họ là người biểu diễn nhưng tất cả các hình thức tham gia của họ vào quan hệ lao động theo phương thức “bán thời gian” chứ không bao giờ kéo dài quá, có như vậy mới phát huy được sức sáng tạo của họ cho công chúng.

Xã hội hóa truyền hình nói riêng và xã hội hóa các lĩnh vực nói chung phải được đặt trên một số nền tảng để có tác dụng giải phóng tư duy sáng tạo và giải phóng sức lao động của con người trong ngành đó. Do vậy, đó không đơn giản là quy định nhà nước mà phải xuất phải từ ý thức, quan điểm chỉ đạo mang tính chất cốt lõi, cơ bản. “Xã hội đã công nhận đối tác xã hội hóa như là một lực lượng?!” – Ông Nguyễn Thanh Lâm – Giám đốc Đài Truyền hĩnh Kỹ thuật số VTC băn khoăn và lý giải thêm:

“Hiện nay chúng ta đang gọi là “xu hướng xã hội hóa” nhưng chưa công nhận họ tồn tại như một lực lượng. Nếu là xu hướng thì có thể có nhiều chiều hướng phát triển nhưng khi không được thừa nhận trong quá trình xu hướng đó thì nó diễn biến ra sao, tồn tại như thế nào sẽ do thị trường quyết định chứ không phải nhà nước quyết định. Xã hội hóa truyền hình cũng được đặt trong mạch logic này dù nhà nước hay xã hội có công nhận hay không, nhưng khi nó đã tồn tại thì dù muốn hay không nhà nước cũng cần có những quyết sách phát triển”[Phụ lục PVS 1.6].

Xã hội hóa đang là một xu hướng và nhìn chung phải đi theo một xu hướng chứ không có “cách” gì, “cửa” gì có thể đảo ngược được xu hướng đó và nhà nước mình cũng không có ý định đảo ngược cái đó. Bản chất của nhà nước ta là kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Vậy yếu tố đầu tiên cần có là công nhận nền kinh tế thị trường, còn việc điều tiết của nhà nước thì thuộc về vấn đề định nghĩa là nhà nước điều tiết cái gì, không nên điều tiết cái gì và lúc nào thì điều tiết,

điều tiết để làm gì thì việc đó nhà nước phải tiếp tục để hoàn thiện hành lang pháp lý. Ông Nguyễn Thanh Lâm – Giám đốc Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC cho biết thêm:

“Tôi không tin là nhà nước có “cây đũa thần” để có thể giải quyết mà phải bắt đầu từ việc phân tích nhìn xã hội hóa của hiện thực khách quan để thừa nhận là trong chuỗi giá trị đấy, có vai trò của những ai, của những tập hợp người nào, của nhóm người nào và đã hình thành nhóm người đó trong xã hội chưa hay mới chỉ rải rác. Đã đến lúc phải cho họ một danh phận, một sự công nhận” [Phụ lục PVS 1.6].

Về vấn đề này, ông Đỗ Quý Doãn – Nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho biết:

“Trong dự thảo Luật Báo chí sửa đổi do Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng để trình năm 2011 đã đưa vấn đề liên kết trong hoạt động báo chí nói chung, kể cả truyền hình (nhưng sau đó tạm dừng). Bây giờ đã là lúc cần thiết phải tổng kết và đưa ra thành các quy định cụ thể” [Phụ lục PVS 1.1]. Về lâu dài, chính sách đối với hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình cần được tổng kết, đánh giá thực tiễn để thể chế hóa chính sách với hình thức văn bản cao có hiệu lực cao hơn Thông tư 19 mà Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành. Điều này nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xã hội hóa trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình hoạt động đúng định hướng, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin giải trí của người dân.

3.1.2. Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát huy sức sáng tạo

Vấn đề tư nhân liên kết tham gia sản xuất các chương trình truyền hình là chủ trương đúng đắn và phù hợp với xu thế thời hội nhập, nhưng nếu không quản lý chặt chẽ, rõ ràng thì những phương tiện, lợi ích của tập thể, của cộng đồng có cơ nguy trở thành “mồi ngon” của một vài cá nhân. Điều này cần được điều chỉnh bằng sự “trong sạch” của môi trường kinh doanh thị trường truyền hình.

Miếng bánh truyền hình không phải chỉ dành cho những người có tiền hoặc cứ có tiền là có thể bước chân vào truyền hình mà điều quan trọng không thể thiếu là trách nhiệm xã hội của các đối tác và họ được phát huy thế mạnh của mình trong một môi trường lành mạnh. Có nhiều sản phẩm truyền hình không có đủ phẩm cấp nhưng vẫn được phát sóng, đây là một tồn tại chứa đựng nhiều sự tiêu cực, như chia sẻ của TS. Trần Đăng Tuấn – TGĐ Công ty CP Nghe nhìn Toàn cầu AVG:

“Lợi ích của đài truyền hình có thể là được cung cấp một sản phẩm chất lượng cao cho truyền hình, phù hợp với yêu cầu của xã hội và cũng có thể ngược lại là những sản phẩm không đảm bảo cả về nội dung và hình thức. Hiện giờ vẫn đang tồn tại thực trạng như vậy bởi nó có lợi về mặt kinh doanh cho đơn vị tham gia vào quá trình này. Và điều đó không bao giờ có thể xảy ra nếu như không có sự vào cuộc hoặc tiếp tay của ai đó ở trong các đài truyền hình. Đây phải là quá trình “nhượng bộ” của cá nhân nào đó trong đài truyền hình chịu trách nhiệm theo dõi, quản lý các sản phẩm được cung cấp theo con đường xã hội hóa” [Phụ lục 1.2].

Như vậy, xã hội hóa truyền hình bao gồm cả vấn đề kinh phí nên có thể không phải bên ngoài mà ngay trong đài truyền hình nhưng theo một cách “đặt hàng ngầm”. Chính vì vậy mà nó “dung túng” cho những sản phẩm phẩm cấp chất lượng kém do chính người của nhà đài sản xuất chứ không phải bên ngoài. Vấn đề tiêu cực này cũng giống như tình trạng chung trong một vài lĩnh vực của xã hội hiện đang xảy ra ở các tập đoàn nhà nước, các tổng công ty, doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước.

Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông, sau 2 năm ban hành Thông tư 19/2009/TT-BTTTT, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp chứng nhận đăng ký liên kết cho 52 chương trình và 03 chứng nhận đăng ký liên kết cho 03 kênh chương trình (HTV2, VTC10, VTC9) chủ yếu của Đài TH Việt Nam, Đài Truyền hình TP. HCM và Đài Truyền hình KTS VTC. Trong số đó có nhiều chương trình liên kết có chất lượng tốt, tạo được ấn tượng và có sức sống lâu bền trong lòng người xem như: Rung chuông vàng (VTV), Cõn mãi với thời gian (HTV)…

Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận, trên thực tế, việc thực hiện đăng ký liên kết vẫn chưa triệt để; vẫn còn tâm lý không muốn công khai hoạt động liên kết của mình,

Một phần của tài liệu Các mô hình xã hội hóa của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC giai đoạn 2009 - 2012 (Trang 96 - 167)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)