số người đưa ra quan điểm là: Giáo dục giá trị sống là cái nền cho giáo dục kỹ năng sống, đồng thời có kỹ năng mới hiểu được giá trị sống, để cảm nhận được sâu sắc các giá trị, người học cần phải được phát triển những kỹ năng nhất định, chính vì thế song song với giáo dục giá trị sống, cần trang bị cho người học cách tiếp nhận và chuyển tải các giá trị ấy, đó chính là giáo dục kỹ năng sống.
2.2.3. Đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên nhà trường về giá trị sống sống
2.2.3.1. Thực trạng nhận thức của GV về giá trị sống
Để tìm hiểu về nhận thức của giáo viên nhà về vấn đề này, tác giả đã đưa ra các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và 12 giá trị phổ quát của nhân loại để GV tự đánh giá mức độ hiểu biết của mình về giá trị sống kết quả:
Bảng 2.3. Mức độ hiểu biết của GV về những giá trị sống
TT Giá trị sống
Đánh giá mức độ hiểu biết của GV(N = 92) Hiểu sâu sắc Hiểu chưa sâu sắc Chưa hiểu hết SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ 1 Các giá trị truyền thống 63 68.5 17 18.5 12 13 2 Giá trị hòa bình 8 8.7 63 68.5 21 22.8 3 Giá trị tôn trọng 18 19.6 59 64.1 15 16.3 4 Giá trị yêu thương 15 16.3 54 58.7 23 25 5 Giá trị khoan dung 16 17.4 61 66.3 15 16.3 6 Giá trị trung thực 22 23.9 65 70.7 5 5.4 7 Giá trị khiêm tốn 24 26.1 58 63 10 10.9 8 Giá trị hợp tác 11 12 34 36.9 47 51.1
50 9 Giá trị hạnh phúc 5 5.4 69 75 18 19.6 10 Giá trị trách nhiệm 14 15.2 65 70.7 13 14.1 11 Giá trị giản dị 19 20.7 51 55.4 22 23.9 12 Giá trị tự do 17 18.5 64 69.5 11 12 13 Giá trị đoàn kết 13 14.1 71 77.2 8 8.7 Nhận xét
Qua kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ giáo viên được hỏi tự đánh giá có hiểu biết sâu sắc về giá trị sống đạt tỉ lệ không cao, giá trị khiên tốn và trung thực là hiểu biết sâu sắc đạt tỉ lệ cao nhất cũng chỉ đạt (26.1% và 23.9%), đặc biệt ở giá trị hợp tác có 51.1% GV tự đánh giá là chưa hiểu hết, các giá trị yêu thương, hòa bình, giản dị đều có tỉ lệ GV tự đánh giá chưa hiểu hết là trên 20%. Như vậy, có thể khẳng định công tác tập huấn nâng cao trình độ nhận thức về giá trị sống của BGH nhà trường với đội ngũ giáo viên chưa tốt, đa số GV chưa hiểu sâu sắc về giá trị sống vì vậy GV sẽ không tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống đến học sinh, hoặc có tổ chức thì nội dung cũng không nhiều, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của hoạt động này trong nhà trường chưa cao.
2.2.3.2. Thực trạng đánh giá mức độ tự tin của giáo viên về kỹ năng của chính họ
Khi đánh giá mức độ tự tin của giáo viên về kỹ năng của chính họ, tôi đã đưa ra một số kỹ năng để giáo viên lựa chọn sự đánh giá theo ba mức độ; thành thạo, bình thường, chưa tốt. Kết quả thu được ở bảng 2.4
Bảng 2.4. Kết quả đánh giá mức độ tự tin của giáo viên về kỹ năng của chính họ
STT Kỹ năng sống
Mức độ tự tin của Giáo viên (N =92)
Thành Thạo Bình
thường Chưa tốt
SL % SL % SL %
1 Kỹ năng tự nhận thức 17 18.5 54 58.7 21 22.8 2 Kỹ năng giao tiếp ứng xử 15 16.3 49 53.3 28 30.4 3 Kỹ năng xác định giá trị 17 18.5 40 43.5 35 38
51
4 Kỹ năng làm việc nhóm 16 17.4 42 45.6 34 37 5 Kỹ năng ứng phó với căng thẳng 19 20.6 42 45.6 31 33.8 6 Kỹ năng kiểm soát tình cảm 16 17.4 57 62 19 20.6 7 Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động 21 22.8 54 58.7 17 18.5 8 Kỹ năng hợp tác 16 17.4 48 52.2 28 30.4 9 Kỹ năng lắng nghe 19 20.6 62 67.4 11 12 11 Kỹ năng cạnh tranh lành mạnh 22 22.9 53 57.6 17 18.5 12 Kỹ năng giải quyết vấn đề 24 26.1 49 53.3 19 20.6 13 Kỹ năng ra quyết định 17 18.5 27 29.3 48 52.2 14 Kỹ năng bảo vệ bản thân và
cộng đồng 8 8.7 12 13 72 78.3
15 Kỹ năng từ chối 22 23.9 26 28.3 44 47.8 16 Kỹ năng thuyết trình 83 90.2 9 9.8 0 0 17 Kỹ năng kiên định 20 21.7 55 59.8 17 18.5
Nhận xét
Kết quả khảo sát cho thấy đa số giáo viên tự đánh giá mức độ thành thạo của bản thân về kỹ năng sống đạt tỷ lệ không cao (chỉ có kỹ năng thuyết trình có tỉ lệ thành thạo là 90.2% do đặc thù của GV về kỹ năng này), có nhiều kỹ năng còn được giáo viên đánh giá chưa tốt ở mức độ cao như; kỹ năng bảo vệ bản thân và cộng đồng (78.3%), Kỹ năng ra quyết định (52.2%), kỹ năng từ chối (47.8%), điều đó chứng tỏ hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, đã được các nhà trường triển khai thực hiện, nhưng chưa chú trọng công tác tập huấn nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên, bản thân các giáo viên dù có tâm huyết trách nhiệm đến đâu, nhưng thực sự họ không được tập huấn để nâng cao trình độ và năng lực tổ chức, cũng như không có một nội dung chương trình chi tiết nào từ phía BGH nhà trường, vì vậy GV thường né tránh hoặc không triển khai khi được phân công nhiệm vụ, Hoặc nếu có thì cũng là làm chống đối, qua loa, từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống trong nhà trường chưa cao.
52
2.2.4 Thực trạng của việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống ở trường THPT Thanh Oai A
2.2.4.1 Thực trạng việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các bộ môn văn hóa của giáo viên bộ môn
Hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống đã được thực hiện tích hợp vào các bộ môn văn hóa, tuy nhiên, các giáo viên trong nhà trường chưa có ý thức rõ rệt về việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống. Đánh giá việc tích hợp giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống của GV vào các môn học, tôi đã tiến hành khảo sát 92 giáo viên bộ môn của nhà trường. kết quả thể hiện
Bảng 2.5. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các bộ môn văn hóa của giáo viên bộ
môn (n=92) S TT Nội dung Mức độ thực hiện (N =92) Tốt Khá Trung bình Chưa thực hiên SL % SL % SL % SL % 1 Có kế hoạch tích hợp Giáo dục GTS, KNS vào nội dung chương trình của bộ môn
0 0 21 22.8 32 34.8 39 42.4
2
Có lựa chọn nội dung giá trị sống, kỹ năng sống phù hợp với nội dung của từng chương, từng bài dạy 0 0 19 20.6 26 28.3 47 51.1 3 Tổ chức quá trình dạy học có sự tích hợp giáo dục GTS, KNS 0 0 26 28.3 27 29.3 39 42.4 4
Chuẩn bị phương tiện, tài liệu
53 dục GTS, KNS
5
Đánh giá kết quả nhận thức về GTS, KNS của học sinh sau giờ học
0 0 13 14.1 22 23.9 57 62
6
Có rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung GTS, KNS, phương pháp lên lớp hiệu quả
0 0 18 19.6 23 25 51 55.4
Nhận xét
Như vậy, giáo viên đã tích hợp nội dung GTS, KNS vào chương trình học của từng bộ môn, xong đa số giáo viên chưa xây dựng kế hoạch tích hợp giáo dục giá trị sống , kỹ năng sống vào môn học, vẫn còn 42.4% GV được hỏi tự đánh giá việc xây dựng kế hoạch ở chưa thực hiện.
Có 57.6% GV được hỏi tự đánh giá tổ chức quá trình dạy học có sự tích hợp giáo dục GTS, KNS ở mức độ trung bình và khá, tuy nhiên việc lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp với từng bài dạy chưa được giáo viên chú trọng, việc chuẩn bị phương tiện tài liệu cho hoạt động còn chưa tốt, chỉ có 40.2% GV làm việc này, đặc biệt đánh giá kết quả nhận thức của học sinh sau các tiết dạy còn thấp(38%), việc đúc rút kinh nghiệm để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sau thực hiện chưa cao.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, là do GV chưa xác định được cách thức tổ chức, cũng như những kỹ năng cần thiết để tích hợp nội dung giáo dục GTS, KNS vào bài học, Phương tiện tài liệu nhà trường cho hoạt động này lại nghèo nàn, GV phải tự sưu tầm là chủ yếu, bởi vậy họ chưa tích cực. Mặt khác chưa có văn bản quy định bắt buộc GV bộ môn phải thực hiện tích hợp giáo dục GTS, KNS vào các môn học. Cán bộ quản lý nhà trường mới chỉ phát động mà chưa yêu cầu GV bộ môn phải thực hiện dạy học tích hợp giáo dục GTS, KNS vào môn học. Công tác dự giờ thăm lớp của CBQL, của tổ, nhóm chuyên môn, cũng chỉ tập trung các tiêu chí đánh giá giờ dạy
54
theo góc độ chuyên môn là chủ yếu, chưa xây dựng các tiêu chí đánh giá giáo dục GTS, KNS vào giờ dạy, vì vậy GV có tâm lý "làm cũng được, không làm cũng được" và thường không làm là chủ yếu.
2.2.4.2. Thực trạng việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống của GVCN
Để đánh giá việc thực hiện giáo dục GTS, KNS của đội ngũ GVCN lớp tôi đã tiến hành khảo sát 36 GV chủ nhiệm, kết quả thu được ở bảng 2.6
Bảng 2.6. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục GTS, KNS của GVCN S TT Nội dung Mức độ thực hiện (N = 36) Tốt Khá Trung bình Chưa thực hiên SL % SL % SL % SL % 1
Xây dựng kế hoạch giáo dục GTS, KNS phù hợp với đặc điểm của từng lớp
0 0 5 13.9 13 36.1 18 50
2
Triển khai kế hoạch hoạt động Giáo dục GTS, KNS đến từng học sinh trong lớp
1 2.8 8 22.2 7 19.4 20 55.6
3
Chuẩn bị phương tiện, tài liệu cho hoạt động theo chủ đề, giáo dục GTS, KNS
1 2.8 7 19.4 11 30.6 17 47.2
4
Phân công học sinh chuẩn bị các hoạt động theo chủ đề, giáo dục GTS, KNS
0 0 9 25 5 13.9 22 61.1
5
Tổ chức các giờ sinh hoạt lớp với nội dung Giáo dục GTS, KNS phong phú
3 8.3 11 30.6 7 19.4 15 41.7
6 Bồi dưỡng năng lực tổ chức và
55 giáo dục GTS, KNS của học sinh
7
Đánh giá kết quả tham gia hoạt động Giáo dục GTS của học sinh
2 5.6 6 16.6 9 25 19 52.8
8 Rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt
động 3 8.3 8 22.2 11 30.6 14 38.9
9 Phối hợp với GV bộ môn giáo
dục GTS, KNS cho học sinh 2 5.6 6 16.6 5 13.9 23 63.9
10
Phối hợp với BCH Đoàn trường giáo dục GTS, KNS cho học sinh
3 8.3 12 33.4 15 41.7 6 16.6
11 Phối hợp với hội PHHS giáo dục GTS, KNS cho học sinh 4
11.
1 21 58.3 9 25 2 5.6 Nhận xét
Kết quả điều tra việc thực hiện giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống của GVCN cho thấy: Việc xây dựng kế hoạch hoạt động và triển khai kế hoạch hoạt động đến học sinh trong lớp còn yếu, đã phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục GTS, KNS cho học sinh trong lớp, nhưng công tác này cũng chưa làm tốt và ít được tiến hành thường xuyên, đội ngũ cán bộ lớp cũng ít được bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động.
- Việc tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục GTS, KNS cho học sinh trong các giờ sinh hoạt lớp GVCN chưa được tốt, GVCN chủ yếu sử dụng giờ sinh hoạt lớp để thu tiền, để kiểm điểm, phê bình học sinh mắc khuyết điểm, các lý do mà GVCN đưa ra là do không có nhiều thời gian.
- Qua điều tra học sinh là cán bộ lớp tôi nhận thấy: Đa số GVCN không triển khai kế hoạch trước tập thể lớp mà chủ yếu gặp riêng cán bộ lớp để trao đổi công việc. Khi tổ chức các hoạt động xong, GVCN ít rút kinh nghiệm và đánh giá theo các tiêu chí đánh giá, GVCN ít khi cho các tổ nhóm học sinh tự
56
đánh giá, nếu có thì cũng không công bố kết quả đánh giá, vì vậy hiệu quả thực hiện kế hoạch của GVCN chưa cao.
- Việc phối hợp giáo dục của GVCN với GV bộ môn và với CMHS cũng thực hiện chưa tốt, chủ yếu tập chung nắm bắt tình hình thực hiện nội quy học đường trong các giờ học, chưa quan tâm đến việc lựa chọn tích hợp GTS, KNS vào giáo dục cho học sinh lớp mình. Đối với PHHS, GVCN cũng chủ yếu phản ánh tình hình học tập các môn văn hóa và việc rèn luyện ý thức đạo đức chứ chưa khai thác ở CMHS sự giúp đỡ để tổ chức hoạt động, lý do mà GVCN đưa ra là ngại không muốn làm phiền PHHS, một phần là CMHS không nhiệt tình, bận rộn, phần nữa là một bộ phận PHHS còn kém hiểu biết
Như vậy nhận thức của một số GVCN còn chưa đúng, đa số GVCN chưa thực sự có trách nhiệm và tâm huyết trong tổ chức hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh, chưa biết cách làm. Một nguyên nhân có thể kể đến là công tác kiểm tra đánh giá của Hiệu trưởng về hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh còn lỏng lẻo, chưa sát sao, chưa có những quy định, tiêu chí bắt buộc, chặt chẽ, chưa có kế hoạch thống nhất nội dung tiết sinh hoạt trong từng tháng cho từng khối lớp. Vì vậy việc thực hiện giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh của GVCN chưa đạt hiệu quả cao.
2.2.4.3 Thực trạng việc thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống của BCH Đoàn trường
Để đánh giá thực trạng việc thực hiện giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho ĐVTN của BCH Đoàn trường, tôi đã tiến hành khảo sát các đồng chí trong BCH Đoàn trường, kết quả thu được ở bảng 2.7
57
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống của BCH Đoàn trường (n=15)
S TT Nội dung Mức độ thực hiện (N =15) Tốt Khá Trung bình Chưa tốt SL % SL % SL % SL % 1
Xây dựng kế hoạch giáo dục GTS, KNS từng tuần, từng tháng, từng năm
0 0 5 33.3 7 46.7 3 20
2
Triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục GTS, KNS đến giáo viên và học sinh trong trường
5 33.3 5 33.3 5 33.3 0 0
3
Tổ chức giáo dục GTS, KNS cho học sinh thông qua các buổi chào cờ đầu tuần
1 6.7 3 20 6 40 5 33.3
4
Tổ chức giáo dục GTS, KNS thông qua các giờ sinh hoạt chi đoàn
0 0 3 20 5 33.3 7 46.7
5
Tổ chức hực hiện các hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh theo chủ điểm, chủ đề
3 20 8 53.3 3 20 1 6.7
6
Rút kinh nghiệm sau mỗi giờ hoạt động giáo dục GTS, KNS
4 26.7 6 40 2 13.3 3 20
7
Phối hợp với các lực lượng trong nhà trường giáo dục GTS, KNS cho học sinh
58 8
Phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường giáo dục GTS, KNS cho học sinh
5 33.3 4 26.7 2 13.3 4 26.7
9
Bồi dưỡng năng lực tổ chức và điều khiển các hoạt động giáo dục GTS, KNS cho cán bộ lớp, cán bộ Đoàn
4 26.7 3 20 5 33.3 3 20
10 Đôn đốc, đánh giá thi đua
các hoạt động của chi đoàn 5 33.3 5 33.3 4 26.7 1 6.7 Nhận xét
Kết quả điều tra ở bảng 2.7 cho thấy đội ngũ cán bộ Đoàn đã xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục GTS, KNS lồng ghép với kế hoạch hoạt động của công tác Đoàn và phong trào thanh niên hàng năm, triển khai kế hoạch hoạt động đến giáo viên và học sinh trong trường, tổ chức nhiều hoạt động