Chương II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG
2.3. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của Hutech
2.3.1. Môi trường vĩ mô
2.3.1.1. Yếu tố kinh tế
Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010, đất nước đã đạt nhiều thành tựu to lớn về kinh tế: đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình, kinh tế phát triển nhanh và đạt tốc độ bình quân 7,26 %/năm. Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước bình quân đạt 1.168 USD. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.
Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện.
Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng. Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân [22]
Bên cạnh những thành tựu kinh tế đã đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, phát triển chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, cung ứng điện chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quy hoạch, kế toán và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém hiệu quả,
đầu tư còn dải trải; quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung còn nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước còn bất cập. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ [1]. Do đó, để tiếp tục thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011-2020 sắp tới thì đòi hỏi đất nước phải tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những khâu đột phá, then chốt trong đó vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cho quá trình công nghiêp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Đặc biệt, yếu tố kinh tế tác động đáng kế đến sự phát triển của trường Hutech đó chính là sự phát triển kinh tế của địa phương. Tuy chỉ chiếm 0,6% về diện tích tự nhiên và 8,56% dân số cả nước nhưng thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp 21,3%
GDP cả nước; 29,38% tổng thu ngân sách nhà nước; 22,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; 58,33% lượng khách du lịch quốc tế và 43,72% doanh thu du lịch cả nước;
27,9% kim ngạch xuất khẩu; 26% kim ngạch nhập khẩu; 22,4% giá trị gia tăng ngành công nghiệp; mức thu nhập bình quân của người dân thành phố năm 2011 bằng 2,4 lần so với bình quân đầu người cả nước [23]. Trong những năm tới, Thành phố sẽ dự kiến từng bước phát triển trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ lớn của đất nước và khu vực Đông Nam Á; phấn đấu tổng sản phẩm nội địa GDP bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt 12%/năm, GDP bình quân đầu người cuối năm 2020 đạt khoảng 8.500 USD. Cùng với việc tập trung phát triển kinh tế, thành phố sẽ tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, thực hiện chủ trương xã hội hóa để phát triển các lĩnh vực GD-ĐT, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao[2]...
Như vậy với những thành tựu kinh tế và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ của đất nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã trở thành cơ hội và áp lực cho sự phát triển của trường đại học Hutech.
2.3.1.2. Yếu tố chính trị, luật pháp
Từ năm 1990 trở lại đây, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định trong khi đó hầu hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị. Nền chính trị ổn định đảm bảo cho sự gắn kết thực hiện những chính sách kinh tế nhất quán và tạo cho Việt Nam có được một nền hoà bình và thịnh vượng [24]. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ngày càng tích cực mở rộng ngoại giao với các quốc gia trên thế giới bằng cách tham gia làm thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, chính trị quốc tế như: WTO, asean, APEC…. điều này tạo điều kiện cho các tổ chức nước ngoài tăng cường đầu tư và hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam, tăng nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ, tạo điều kiện phát triển giáo dục.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính Phủ luôn xem trọng sự nghiệp giáo dục và đưa ra nhiều chính sách hợp lý để tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo phát triển, cụ thể Đảng đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước” [25] và trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” [26].
Hệ thống pháp luật Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho việc phát triển kinh tế - văn hóa- xã hội trên cả nước. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã thể hiện những sự quan tâm ưu tiên cho phát triển giáo dục bằng việc ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan như: Luật giáo dục (2005), Nghị
định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục”, Luật giáo dục đại học (2012), quyết định 61/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2009 về việc “Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường đại học tư thục” , Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020... Qua các văn bản pháp luật trên, Nhà nước đã đẩy mạnh việc phân cấp quản lý giáo dục cho địa phương và Sở giáo dục, tăng quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục trong tuyển dụng, sử dụng ngân sách, tố chức xây dựng chương trình giảng dạy, miễn giảm thuế và khuyến khích đầu tư giáo dục. Điều này vửa mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các trường đại học nói chung và trường đại học tư thục nói riêng.
Những năm gần đây, Nhà nước đã thành lập nhiều tổ chức chuyên trách như : Cục khảo thí và Kiểm định chất lượng cấp trung ương, 77 đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng được thành lập ở các trường Đại học – Cao Đẳng nhằm đánh giá và quản lý chất lượng đào tạo giáo dục. Đây là một thách thức đối với các trường Đại học, nhất là những trường mới thành lập.
Kể từ ngày 1 tháng 10 năm 2007, theo quyết định số 157/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về “Tín dụng đối với học sinh, sinh viên” thì học sinh – sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được cho vay tiền để đi theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề. Điều này sẽ tác động làm tăng nhu cầu đào tạo của các trường đại học.
Trong bản chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 [27], Chính phủ đã đề ra mục tiêu cụ thể cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là: “Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc
lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới” và “Đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350 – 400” . Điều này giúp cho Hutech định hướng rõ hơn về các ngành nghề đào tạo trong thời gian sắp tới.
Chủ trương xã hội hóa GD, huy động các nguồn lực của xã hội, nhất là nguồn lực tài chính, cho sự nghiệp phát triển GD đã được khẳng định qua nhiều kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mới đây nhất, Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa GD. Sự ra đời hệ thống trường NCL ở nước ta là một trong những kết quả hiện thực hóa chủ trương đúng đắn này. Gần đây sự quan tâm đến các trường ĐH NCL cũng được thể hiện rõ trong chiến lược phát triển GD 2011 – 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 13/6/2012, trong đó nêu rõ: “Triển khai các chính sách cụ thể để hỗ trợ cho các cơ sở GD đại học, dạy nghề và phổ thông NCL, trước hết về đất đai, thuế và vốn vay”.
Đặc biệt, sự quan tâm đến các trường ĐH NCL đã được thể hiện đậm nét trong Luật GD Đại học vừa được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012 và đã được ban hành. Trong bộ luật này, nhiều ý kiến tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà quản lý GD nêu trên và của nhiều vị khác đã được đưa vào Luật. Đương nhiên những vấn đề được đặt ra nhưng chưa chín muồi trong thực tiễn, những vấn đề cụ thể chưa phù hợp với tính khái quát của Luật sẽ được xem xét và sẽ được thể hiện một cách thích hợp trong các văn bản dưới Luật tiếp theo. Phát biểu tại Lễ công bố Luật Gíao Dục ngày 16/7/2012, Thứ trưởng Bùi Văn Ga cho biết: “...Nhà nước có chính sách ưu tiên về đất đai, thuế, tín dụng... để khuyến khích các trường tư thục, trường có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam nhưng không vì mục đích lợi nhuận. Các trường có vốn đầu tư lớn cũng được ưu tiên thành lập. Tuy nhiên để tránh tình trạng một trường ĐH nào đó muốn lợi dụng danh nghĩa phi lợi nhuận,
Luật GD ĐH quy định trường phải dành ít nhất 25% phần tài chính chênh lệch giữa thu và chi để đầu tư phát triển trường. Phần này được miễn thuế. Phần còn lại nếu phân phối cho các nhà đầu tư, sẽ phải nộp thuế theo quy định. Luật GD ĐH quy định giá trị tích luỹ trong quá trình hoạt động của các trường tư thục (như đất đai Nhà nước giao, tài sản được ủng hộ - hiến tặng...) là tài sản chung, không chia, không được chuyển thành sở hữu tư nhân dưới bất cứ hình thức nào. Như vậy sau vài chục năm hoạt động, trường tư thục cũng trở thành cơ sở phục vụ xã hội như một trường công lập...”. Sự ra đời Luật GD ĐH là một bước tiến vượt bực trong việc thể chế hóa các hoạt động GD ĐH và chắc chắn sẽ tác động tích cực đến thực tiễn giáo dục.
Có nhiều lý do nhưng lý do cơ bản nhất đó là sự thiếu công bằng trong đối xử của nhà nước với sinh viên. Bởi vì cùng là một công dân, nếu tôi thi vào trường công lập thì được hưởng chi phí đào tạo 70% do nhà nước cấp nhưng thi vào trường NCL thì phải nộp 100% học phí, thậm chí còn hơn. Riêng cái đó, đương nhiên học sinh sẽ lựa chọn trường công lập chẳng tội gì thi vào dân lập. Khi nào thí sinh rớt các trường công lập thì mới vào dân lập. Cái đó không phải là sự lựa chọn hàng năm mà đã tạo ra thói quen, đánh giá rằng các trường NCL chất lượng thấp vì đầu vào lúc nào cũng thấp, kéo theo uy tín các trường NCL cũng thấp xuống. Đây là sự cạnh tranh không bình đẳng.
2.3.1.3. Yếu tố văn hóa – xã hội
Từ xưa đến nay, con người Việt Nam luôn có truyền thống hiếu học, kính trọng người có học thức cao. Vì thế, trong từng gia đình, từng giòng họ, từng cộng đồng dân cư, luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi về tinh thần cũng như vật chất và hối thúc để con em họ được đào tạo tri thức ngày một cao hơn để sau này có khả năng tìm kiếm được công việc ổn định, được xã hội tôn trọng. Yếu tố văn hóa này thề hiện nhu cầu giáo dục nói chung và nhu cầu đào tạo trình độ sau đại học ở nước ta là rất lớn.
Hiện nay, nhà tuyển dụng ngày càng yêu cầu nguồn nhân lực phải tự nâng cao trình độ của mình, trong khi đó người lao động lại bị hạn chế về tài chính, thời gian và có nhiều cơ sở đào giáo dục để lựa chọn. Điều này làm cho người học ngày càng giống một khách hàng, họ có quyền lựa chọn trường Đại học cũng như các chuyên ngành, môn học, thời gian học cho phù hợp với nhu cầu bản thân. Đây là một thách thức và đòi hỏi Hutech phải đa dạng hóa các chương trình đào tạo để thỏa mãn, thu hút người học trong thời gian tới.
Xu thế hội nhập giữa các nền văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi cho Hutech nhanh chóng tiếp cận được với những tri thức mới, xu hướng mới, những mô hình giáo dục tiên tiến, tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển làm thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa Hutech và các trường đại học chất lượng trên thế giới. Để tồn tại và phát triển trong môi trường hội nhập thì đòi hỏi các trường đại học phải tiến hành những cải cách toàn diện để trở thành những trung tâm đa năng vừa đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, chuyển giao công nghệ và xuất khẩu tri thức chất lượng cao.
Ngoài ra, nhu cầu đào tạo trong xã hội hiện nay rất chú ý đến các ngành nghề dễ kiếm việc làm, lương cao như: kế toán, tài chính – ngân hàng, công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh, xây dựng, điện tử, ngôn ngữ Anh… đây chính là những ngành nghề mà Hutech có nhiều thế mạnh đào tạo trong nhiều năm qua.
2.3.1.4. Yếu tố dân số
Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê ngày 1/4/2011, dân số thành phố là 7.549.341 người. Theo thống kê của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh (FALMI) [28] thì cơ cấu dân số như sau:
+ Lực lượng lao động đang làm việc có 3.806.235 người chiếm tỷ lệ 72,89%
so tổng nguồn lao động.
+ Năm 2010 – 2011 tổng nguồn nhân lực (bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động vẫn có khả năng lao động ) theo số liệu thống kê có 5.221.890 người chiếm tỷ lệ 70,6% dân số.
+ Lực lượng lao động qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ 58% tổng số lao động.
Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật có trình độ Đại học: 9,35%; Cao đẳng 1,67%;
Trung cấp 4,37%; Sơ cấp 42,61%; Chưa có bằng cấp CMKT 42%
+ Trong tổng số lao động đang làm việc chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm 11,40%; chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm 6,44%; các nghề giản đơn và thợ chiếm 49,28% và các loại công việc khác chiểm 32,88%
+ Lực lượng lao động thành phố có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 3,5%/năm và tăng dần qua các năm.
Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến 2020: “ …từng bước trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ lớn của đất nước và khu vực Đông Nam Á… Cùng với việc tập trung phát triển kinh tế, thành phố sẽ tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, thực hiện chủ trương xã hội hóa để phát triển các lĩnh vực GD-ĐT, y tế, văn hóa, …” [2]. Như vậy, nhu cầu đào tạo lực lượng lao động trình độ cao trong các ngành khoa học, công nghệ, tài chính tại thành phố Hồ Chí Minh là rất lớn.
2.3.1.5. Yếu tố công nghệ - kỹ thuật
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin, đặc biệt là sự xuất hiện của mạng thông tin toàn cầu (Internet), thế giới như bị thu nhỏ lại, ranh giới giữa các quốc gia cũng ngày càng trở nên mỏng manh hơn và chỉ mang tính tương đối. Internet đã tạo cơ hội để các dân tộc có thể gần gũi và hiểu biết nhau hơn. Mọi dân tộc có thể học tập, tiếp thu những giá trị, tinh hoa của dân tộc khác để làm phong phú cho nền văn hoá của chính dân tộc mình. Bên cạnh đó cuộc cách mạng Khoa học kỹ thuật trên thế giới cũng đã tạo ra những thế hệ máy móc, công nghệ mới có năng suất lao động vượt trội làm tiền đề đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức.