3.3.1. Thực trạng việc đáp ứng tiêu chuẩn môi trường đối với chè xuất khẩu vào thị trường Châu Âu của công ty TNHH Chè Hoàng Mai.
Nhận thấy rõ được vai trò quan trọng của việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, công ty đã chấp hành tốt và cố gắng thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Phối hợp với các đơn vị có chức năng có thẩm quyền đo kiểm môi trường và các kết quả đo kiểm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế. Công ty đã và đang chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO14000, HACCP,…Luôn chấp hành và thực hiện đúng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam đặc biệt là các tiêu chuẩn môi trường liên quan trực tiếp đến mặt hàng chè xuất khẩu. Vì thế, công ty đã đạt được nhiều chứng nhận quan trọng về đáp ứng tiêu chuẩn môi trừong của Việt Nam như: chứng nhận “Cơ sở đủ điều kiện sản xuất chè an toàn” cho cơ sở sản xuất đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn VSATTP theo 10TCN606-2004; Hệ thống xử lý nước thải của công ty đạt tiêu chuẩn TCVN 5945/2005 - loại B, nước thải sau khi được xử lý không còn mùi thối, không còn màu đen; chứng nhận “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm” theo 46/2007/QĐ-BYT….
Tuy nhiên, trong vòng 2 năm trở lại đây, kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu chè của công ty ta vào Châu Âu đang có dấu hiệu tăng trưởng giảm dần nguyên nhân chủ yếu vì Châu Âu là thị trường rất khó tính và khắt khe về tiêu chuẩn môi trường.
Có nhiều đơn hàng của công ty bị trả lại hoặc nhiều đối tác hủy hợp đồng mua hàng
của công ty do hàm lượng kim loại, chất bảo quản, thuốc trừ sâu, thuốc BVTV vượt qúa mức cho phép; nhãn mác, bao bì và chất lượng sản phẩm cũng chưa đúng với yêu cầu họ đề ra…Theo khảo sát sơ bộ thì công ty đã thực hiện tốt các TCMT của Việt Nam và cũng đã đáp ứng được các TCMT của Châu Âu đề ra cho sản phẩm chè xuất khẩu. Mọi chỉ tiêu về bao bì, nhãn mác, quy trình sản xuất và cụ thể là về khâu bón phân, phun thuốc trừ sâu…đều được công ty thực hiện có có kế hoạch và quy trình rất hợp lý nhằm đáp ứng TCMT của đối tác. Vậy tại sao công ty vẫn có một số lô hàng bị trả lại? Dưới tác động của các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường này, lẽ ra mặt hàng chè của công ty rất có tiềm năng xuất khẩu nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn khi xâm nhập vào thị trường này. Khả năng đáp ứng tiêu chuẩn môi trường khi xuất khẩu chè của công ty bị hạn chế chủ yếu là do công ty chưa đáp ứng tốt tiêu chuẩn môi truờng trong quá tŕnh sản xuất dẫn đến chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng làm giảm khả năng xuất khẩu chè của công ty. Vì thế, để phân tích thực trạng việc đáp ứng tiêu chuẩn môi trường đối với chè xuất khẩu vào thị trường Châu Âu của công ty TNHH Chè Hoàng Mai, tôi xin được tập trung vào phân tích thực trạng và nguyên nhân gây ra các vấn đề mà công ty đang mắc hiện nay khi đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của chè xuất khẩu vào Châu Âu.
- Việc đáp ứng tiêu chuẩn ISO14000 và tiêu chuẩn HACCP:
Ngày nay nhu cầu chất lượng hàng hoá nông sản nói chung đều được nâng cao, đa dạng và các yếu tố an toàn vệ sinh thực phẩm được đặt lên tầm quan trọng hơn. Các quy định và tiêu chuẩn môi trường của một số nước đã thay đổi trong đó có Châu Âu. Nếu họ đưa các quy chuẩn về tiêu chuẩn môi trường này như là những rào cản kỹ thuật thì chúng ta sẽ rất tốn kém cả về thời gian và chi phí rất nhiều trong việc nâng cao nhận thức, năng lực quản lý, đầu tư sản xuất, chế biến …Thêm vào đó, trình độ sản xuất nông nghiệp trên thế giới ngày càng được nâng cao, người tiêu dùng đòi hỏi khu vực sản xuất phải tự nâng cao trình độ sản xuất của mình, thể hiện bằng các giấy chứng nhận về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001); giấy chứng nhận về hệ thống quản lý môi trường (ISO 14000); giấy chứng nhận an sinh xã hội (SA 8000); giấy chứng nhận thực hành sản xuất tốt GAP (Global Agricultural Practices); giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm theo HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points), ISO 22000, … Nếu đạt được như vậy sẽ giúp
chúng ta nâng cao uy tín, khẳng định được trình độ của mình trong việc sản xuất, chế biến chè nhằm nâng cao tính cạnh tranh với các nước trong và ngoài khu vực, đồng thời vượt qua rào cản môi trường, rào cản kỹ thuật trong thương mại (Technical barrier to trade - TBT) mà các nước nhập khẩu có thể đặt ra.
Năm 2012, một vài lô hàng chè xuất khẩu của công ty bị trả lại do đối tác không nhận hàng của công ty do họ yêu cầu chè phải có một số chứng chỉ về TCMT quốc tế như ISO14000, HACCP, GAP...Trước đây, các chứng nhận này chưa được biết đến nhiều nhưng bây giờ các tiêu chuẩn môi trường này đã được công nhận như những tiêu chuẩn quốc tế và ngày càng được áp dụng phổ biến. Vì thế, một số đối tác đã yêu cầu thêm về chất lượng chè của công ty phải có các chứng chỉ trên, trong khi để áp dụng các tiêu chuẩn môi truờng hay xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống xử lý chất thải,…đòi hỏi thời gian và chi phí rất lớn. Công ty không thể thay đổi và đáp ứng ngay các yêu cầu trên của dối tác được. Mặc dù, công ty hiện nay đã và đang chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO14000, HACCP,… Cụ thể, công ty đã chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường đi đôi với chất lượng sản phẩm, đầu tư toàn bộ thiết bị và công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, xây dựng hệ thống xử lý rác thải, nước thải theo phương pháp sinh học, áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ… nhưng vẫn chưa đựoc cấp chứng chỉ vì chưa đáp ứng được đầy đủ các quy định theo tiêu chuân đề ra.
- Bao bì và cách đóng gói:
Công ty đã đáp ứng được tốt quy định 94/62/EEC về bao bì và phế thải bao bì của Châu Âu. Cụ thể là trong những năm gần đây công ty đã có nhiều thay đổi để đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn này bằng cách chuyển từ bao bì rẻ tiền bằng nilon gây hại cho môi trừong sang sử dụng các bao bì sản phẩm có thể tái sử dụng và thu hồi nhưng vẫn đảm bảo tốt việc bảo quản, vệ sinh an toàn cho sản phẩm. Các bao bì cũng được kiểm tra để giảm thiểu tối đa các kim loại nặng và các chất độc hại. Tuy nhiên vẫn có một số đơn hàng bị trả lại vì vi phạm một trong số những tiêu chuẩn môi truờng do Châu Âu do bị phát hiện có chứa hàm lượng các chất độc hại trong bao bì. Nguyên nhân là do quá trình kiểm tra bao bì của công ty chưa tốt, do số lượng bao bì lớn, trong khi nhân viên ít nên chỉ kiểm tra được một số lượng nhỏ
trong mỗi lô bao bì nhập về. Nên vẫn có tình trạng một số bao bì có chứa chất độc hại hoặc hàm lượng kim loại nặng quá tiêu chuẩn cho phép chưa được kiểm tra mà vẫn đưa vào sản xuất, dẫn đến sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn về bao bì của Châu Âu đề ra. Nhằm bảo quản tốt chè thành phẩm, công ty đã chú ý tới việc chọn lựa vật liệu làm bao bì, cách thức đóng gói thích hợp. Với chè bảo quản trong thời gian ngắn, có thể gói trong 2 lớp giấy (Một lớp giấy lót bên trong và một lớp giấy có nhãn hiệu bên ngoài) và dán kín, sau đó đem xếp vào những thùng gỗ có giấy dán lót bên trong và đóng nắp kín. Với chè cần bảo quản trong thời gian dài, chè được bảo quản trong thùng đựng chè có lót 3 lớp giấy (hai lớp giấy thường và một lớp giấy kim loại ở giữa), có nắp kín, có nẹp thiếc và dùng đinh đóng chặt. Chè được đóng đầy, chặt trong thùng đựng chè. Giấy dùng bao gói cũng như dùng lót thùng chè là giấy trắng, không có mùi lạ (giấy thường), không bị nhàu (giấy kim loại).
Mặt gỗ dùng để đóng 32 thùng nhẵn, không bị mọt, không mùi và độ ẩm của gỗ không quá 13%. Các mép thùng đều có nẹp thiếc và dùng đinh đóng chặt.
- Nguồn nguyên liệu đầu vào:
Bên cạnh các yếu tố trên, nguồn nguyên liệu đầu vào do thu mua bên ngoài cũng là một nguyên nhân khiến chè có thể bị nhiễm hàm lượng kim loại nặng, thuốc trừ sâu, BVTV,…vượt quá mức cho phép theo quy định về TCMT của Châu Âu. Cụ thể, công ty bên cạnh trồng trọt chè còn thu mua chè để sản xuất và xuất khẩu. Trong qua trình thu mua nguyên vật liệu, công ty tổ chức tiến hành thu mua từ các cơ sở thu mua nguyên vật liệu trực tiếp từ các hộ nông dân trồng chè vì vậy dẫn đến tình trạng chất lượng chè không đồng đều, không đảm bảo VSATTP và tiêu chuẩn môi truờng.
Để thực hiện sản xuất thâm canh tăng vụ, bà con nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều lượng, lượng phân bón quá liều, đất trồng và nước tưới có hàm lượng kim loại nặng lớn…không đúng kỹ thuật canh tác gây ảnh hưởng đến chất lượng chè.
Nguyên vật liệu là yếu tố rất quan trọng cho sản xuất vì vậy công ty đã tiến hành xem xét, phân tích, phân loại, xử lý nguyên vật liệu cẩn thận, không thu mua các nguyên vật liệu có tạp chất như thuốc trừ sâu, hàm lượng phân bón hóa học…vượt quá giới hạn cho phép. Tuy nhiên, thu mua nguyên vật liệu không đạt tiêu chuẩn là điều không thể tránh khỏi nên công ty vẫn gặp rất nhiều khó khăn.Yếu tố này ảnh hưởng lớn đến kết quả của quá trình sản xuất và xuất khẩu của công ty.
- Chất phụ gia trong thực phẩm:
Số chất và hàm lượng chất phụ gia, chất kháng sinh trong chè cũng được công ty thực hiện đúng theo quy định về chất phụ gia trong thực phẩm của Châu Âu đề ra. Một số chất phụ gia chính trong chè của công ty như Amidon hyđroxypropyl, Amoni polyphosphat, Axit benzoic, Axit erythorbic...đề có hàm lượng không vượt quá mức cho phép thep TCMT của Viẹt Nam và Châu Âu đề ra. Tuy nhiên, một số ít sản phẩm chè của công ty vẫn bị trả lại do có chứa một vài chất như chloroform, chloramphenicol, dimetridazole…đây là một trong số chất kháng sinh gây hại cho môi trường bị Châu Âu cấm khi sử dụng trong thực phẩm. Nguyên nhân chủ yếu là ở công đoạn chế biến chè: các khâu như làm héo, diệt men, vò, rũ, tơi, sấy khô, tách, sao, đấu, trộn, đánh hương…có lẫn các tạp chất bên ngoài. Có thể ít nhưng cũng không tránh khỏi, cộng với khâu kiểm tra chất lượng chè đôi khi chưa chặt chẽ, điều này làm giảm chất lượng chè và khả năng đáp ứng TCMT của chè xuất khẩu vào những thị truờng khó tính và kiểm tra gắt gao như Châu Âu.
- Nhãn hiệu thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ:
Để đáp ứng được quy định về nhãn hiệu thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ của Châu Âu về việc sản phẩm không sử dụng chất hóa học tổng hợp hạn chế tối đa sử dụng phân bón, hóa học và thuốc bảo vệ thực vật tăng cường sử dụng phân vi sinh nhằm tạo ra các sản phẩm đạt VSATTP và bảo vệ môi trường. Từ năm 2011, công ty đã áp dụng những quy trình sản xuất chè theo hình thức nông nghiệp hữu cơ không sử dụng các chất phụ gia và chất bảo quản, mỗi sản phẩm khi ra đời đều được đăng ký chất lượng với Sở y tế Hà Nội. Sau khi nguyên liệu đã được thu mua và tuyển chọn kỹ càng sẽ được đưa vào các dây chuyền sản xuất để tiến hành chế biến. Sau khi chế biến, tiến hành phân loại để loại bỏ những cá thể không đạt các tiêu chuẩn theo quy định môi trường và VSATTP. Tuy nhiên vẫn xảy ra t́nh trạng sản phẩm vi phạm quy định về nhãn nhiệu của Châu Âu như lượng phân bón trong quá trình trồng chè gây hại môi trường, hàm lượng thuốc BVTV trong chè cao quá mức quy định nên nhiều đối tác kiện công ty do chất lượng sản phẩm không đúng với nhãn hiệu của sản phẩm. Nguyên nhân của vấn đề này là do trong quy trình sản xuất chế biến chè, có những khâu nhân viên làm chưa đúng với quy định đề ra. Do người trồng chè làm sai, nhầm lẫn các công đoạn của quy trình; vẫn có những cá
nhân thì lười nhác việc do họ chỉ làm tốt và đúng khi có giám sát viên bên cạnh, còn không thì rất qua loa hoặc do thói quen của một số người dân là “cứ bón nhiều Ure là tốt, phun nhiều thuốc sâu khi xuất hiện sâu là tốt”… nên dẫn đến những sai lêch về hàm luợng phân bón vá thuốc BVTV khi trồng chè. Rất khó để thay đổi thói quen, suy nghĩ, lối sống và hành động của nhân viên vì số lượng nhân viên trồng trọt, chế biến và sản xuất nhiều, lượng chè thì lớn trong khi giám sát viên kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện quy trình thì ít. Đây là một vấn đề mà công ty cần phải có kế hoạch giải quyết trong lâu dài.
- Lượng phân bón hóa học trong quá trình trồng chè:
Công ty đã sử dụng các loại phân bón hữu cơ sinh học làm từ phân chuồng, phân xanh, cộng với bón bổ sung phân khoáng, chế phẩm phân giải xenlulo. Tất cả đều có nguồn gốc sinh học, thỏa mộc, xuất xứ rõ ràng và chất lượng đảm bảo và đều là những loại được phép sử dụng theo quy định của Châu Âu đề ra
Bảng 3.4. Phương pháp, quy trình và lượng phân bón trong trồng chè.
Loại phân bón Cách bón Số lần bón Lượng bón
Đạm Urê Bón cuốc 3-4 lần 600-800 kg/ha/năm
Lân hữu cơ sinh học Bón cuốc 3-4 lần 2000-3000 kg/ha/năm
Kali Bón cuốc 3-4 lần 200-250 kg/ha/năm
Chế phẩm phân giải xenlulo Bón vãi 4-6 lần 10-20 kg/ha/năm Phun chế phẩm
Phytobacterin
Sau khi thu hoạch 3-5ngày
8-9 lần 5 lít/ha/năm
MgO Bón cuốc 3-4 lần 20-30 kg/ha/năm
(Nguồn: Phòng sản xuất công ty TNHH Chè Hoàng Mai) Tuy nhiên, một số nông hộ trồng chè vẫn sử dụng loại phân hữu cơ đựơc sản xuất tại chỗ (phân tằm, phân gia súc, gia cầm) chưa qua xử lý nên gây ảnh hưởng rất lớn đến môi truờng và làm chất lượng chè giảm sút. Cụ thể là việc bón quá nhiều hay không đồng đều tỷ lệ trong các giai đoạn trồng chè khiến chè bị nhiễm hàm lượng chất hóa học, kim loại vượt mức cho phép. Ví dụ: trong khâu bón phân người trồng chè phải sử dụng đúng hàm lượng và số loại phân bón, cách bón, số lần bón đúng với quy định thì mới đáp ứng được TCMT của Châu Âu. Mà số lượng phân bón nhiều, hàm lượng bón mỗi loại cũng khác nhau, mỗi giai đoạn phát triển của chè lại yêu cầu một cách bón và số lần bón khác nhau nên việc sai sót và nhầm lẫn là không tránh khỏi. Hơn nữa, số lượng giám sát viên của quy trình sản xuất chè còn
ít nên không theo kiểm tra, kiểm sát từng khâu một cách sát xao đựoc. Vì vậy, công ty nên xem xét đánh giá và bổ sung thêm bộ phận này.
- Hàm lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV trong chè:
Công ty đã thực hiện đúng quy định về thuốc trừ sâu tối đa có trong sản phẩm nông nghiệp của Châu Âu, và cụ thể là về sản phẩm chè, sử dụng các thuốc trừ sâu với hàm lượng tối đa cho phép theo đúng chỉ thị 76/895/EEC của Châu Âu. Tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học và thảo mộc. Sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm để trừ rầy xanh, bọ xít, muỗi…Sử dụng các chế phẩm Bt để trừ các sâu miệng nhai (sâu chùm, sâu cuốn lá…) hoặc Bitadin để trừ nhện đỏ nâu, rầy xanh. Sử dụng chế phẩm thảo mộc và có nguồn gốc sinh học (SH01, Sukopi, Rotor, Deris…) và dầu khoáng BVTV để trừ dịch hại chính trên cây chè. Sử dụng chế phẩm sinh học từ nấm đối kháng Trichodermaspp để trừ một số vi sinh vật ở trong đất gây bênh cho cây chè. Tiến hành thay đổi chủng loại thuốc bảo vệ thực vật đã sử dụng theo hướng giảm thiểu dùng thuốc hóa học (đặc biệt là thuốc hóa học thuộc nhóm độc I và II), tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc hoặc chế phẩm thuốc có nguồn gốc sinh học trong sản xuất chè. Công ty đã sử dụng 6 chế phẩm với 6 tên thương phẩm thuốc BVTV. Chúng thuộc 7 hoạt chất khác nhau.Hầu hết các hoạt chất đều thuộc nhòm ít độc đối với người và động vật máu nóng (nhóm độc III). Chỉ có một hoạt chất abamectin (nguồn gốc sinh học) thuộc nhóm độc II là nhóm độc trung bình đối với người và động vật máu nóng. Đây đều là những loại thuốc trừ sâu, thuốc BVTV thuộc các loại thuốc trừ sâu, thuốc BVTV được cho phép sử dụng trong chè mà các quy định về TCMT của Châu Âu đề ra.
Bảng 3.5: Chủng loại thuốc BVTV sử dụng trên chè.
TT Tên hoạt chất Tên thương
phẩm Nhóm chế phẩm Nhóm
độc 1 Abamectin+dầu khoáng,
dầu hoa tiêu
Song mã Nguồn gốc sinh học+dầu khoáng
II+III
2 Azadirachtin Kozomi Thảo mộc III
3 B.thuringiensis + Abamectin
Kuraba Vi sinh vật+nguồn gốc sinh học
III+II
4 Copper oxchloride Vidoc Đồng oxyclorua III
5 Matrine Sokupi Thảo mộc III
6 Dịch tiết thảo mộc SH01 Thảo mộc
7 hoạt chất 6 tên thương phẩm
(Nguồn: Phòng sản xuất công ty TNHH Chè Hoàng Mai)