Gợi ý chính sách FDI cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Thái Lan

Một phần của tài liệu Nghiên cứu môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thái Lan và gợi ý chính sách cho Việt Nam (Trang 101)

3.3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và quản lý hành chính

-93-

Một là, tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách để sửa đổi, điều chỉnh

hoặc loại bỏ các điều kiện không phù hợp cam kết WTO của Việt Nam cũng như cần sửa đổi, bổ sung một số điều luật để các luật có sự thống nhất, ban hành kịp thời các thông tư hướng dẫn để luật đi vào cuộc sống, trong đó chú trọng tới Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Nghị định 78-CP và các thông tư hướng dẫn… Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn các luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua trong thời gan gần đâycó liên quan đến đầu tư, kinh doanh.

Hai là, cần theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh. Xây dựng văn bản hướng dẫn các địa phương và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở cửa về ĐTNN làm cơ sở xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Ba là, cải cách các văn bản pháp luật sao cho minh bạch, có hệ thống,

không trùng chéo, không tuỳ tiện thay đổi, nhất là đối với các luật thuế cũng như đối với các lĩnh vực không khuyến khích và cấm đầu tư.

Bốn là, khi xây dựng hệ thống pháp luật cũng phải chú ý để đảm bảo

quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp luật phải tạo cho nhà đầu tư nước ngoài sự yên tâm là họ sẽ được bảo vệ công bằng theo hệ thống pháp luật.

Song song với việc hoàn thiện hệ thống thì cũng cần phải cải cách các thủ tục hành chính để tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn theo những hướng sau:

Thứ nhất, cải cách mạnh thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước

ngoài theo hướng tiếp tục đơn giản hoá việc cấp phép đầu tư, rà soát có hệ thống để bãi bỏ những loại giấy phép, quy định không cần thiết đối với hoạt động đầu tư nước ngoài... Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế ‘liên thông-

-94-

một cửa’ ở các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư và nhất thiết phải minh bạch hóa quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, tăng cường năng lực quản lý đầu tư nước ngoài của các cơ

quan chức năng và cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra hoạt động đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan,... nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động ĐTNN, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương và địa phương trong quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài. Duy trì thường xuyên việc tiếp xúc trực tiếp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, rà soát các vướng mắc về thủ tục hành chính ở tất cả các lĩnh

vực, các cấp nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp phép đầu tư mới và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, các thủ tục liên quan tới triển khai dự án đầu tư như thủ tục về đất đai, xuất nhập khẩu, cấp dấu, xử lý tranh chấp... Đồng thời, cần quan tâm xử lý dứt điểm các vướng mắc trong quá trình cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và các vấn đề vướng mắc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ tư, nâng cao trình độ toàn diện của đội ngũ cán bộ, công chức

nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý ĐTNN.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thái Lan và gợi ý chính sách cho Việt Nam (Trang 101)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(122 trang)