2013
4.5 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công tại công trình được tính dựa vào số ngày công và đơn giá tiền công.
Bảng 4.12: Tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp dự toán và thực tế tại công trình
Đơn vị tính: nghìn đồng Bậc nhân công Dự toán Thực tế Dự toán Ngày công Đơn giá Thực tế
Thợ phụ 739 731 95 95 Nhân công bậc 3/7 501 527 130 135 Nhân công bậc 3,5/7 465 480 135 140 Nhân công bậc 4/7 399 373 140 145 Nhân công bậc 4,5/7 220 205 150 155 Tổng cộng 2.324 2.316 Nguồn số liệu: tự thực hiện
Bảng 4.13: Phân tích biến động chi phí nhân công thực tế và dự toán
Đơn vị tính: nghìn đồng
Nguồn số liệu: tự thực hiện
Bậc nhân công CP thực tế CP điều chỉnh CP dự toán Chênh lệch giá Chênh lệch hiệu quả Tổng chênh lệch Thợ phụ 69.445 69.445 70.205 0 (760) (760) Nhân công bậc 3/7 71.145 68.510 65.130 2.635 3.380 6.015 Nhân công bậc 3,5/7 67.200 64.800 62.775 2.400 2.025 4.425 Nhân công bậc 4/7 54.085 52.220 55.860 1.865 (3.640) (1.775) Nhân công bậc 4,5/7 31.775 30.750 33.000 1.025 (2.250) (1.225) Tổng cộng 293.650 285.725 286.970 7.925 (1.245) 6.680
Tổng chi phí nhân công theo dự toán là 286.970.000 đồng, trên thực tế chi phí này lên đến 293.650.000 đồng, tăng 6.680.000 đồng, tức là khoảng 2,3% so với dự toán.
4.5.2 Biến động giá
Chênh lệch này được đánh giá là không tốt vì đã làm tăng chi phí thêm gần 7,9 triệu, tương đương khoảng 2,7% so với dự toán.
Ngoài thợ phụ không có sự biến động giá, các bậc nhân công còn lại đều có biến động giá tăng so với dự toán. Tăng nhiều nhất là nhân công bậc 3/7, tăng 2.635.000 đồng.
Những nguyên nhân dẫn đến việc biến động giá:
- Đối với nhân công bậc 3/7 và 3,5/7: số lượng nhân công trực tiếp tại công ty chiếm tỷ lệ ít, đa phần là nhân công thuê ngoài do đó công ty nâng mức tiền công/ngày khá cao so với các công ty khác nhằm thu hút lao động. Bên cạnh đó, giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 9/2012, trên địa bàn tỉnh thi công nhiều công trình nhà nước và dân dụng nên nguồn nhân công trở nên thiếu đã góp phần đẩy giá nhân công lên cao.
- Đối với nhân công bậc 4/7 và 4,5/7: là những nhân công có tay nghề và chuyên môn, đa phần là nhân công trực thuộc tại công ty. Nhân công bậc 4,5/7 thường giữ chức tổ trưởng các đội hoặc giám sát công trình. Chính vì vậy, để thu hút đội ngũ nhân công này công ty đã trả thêm khoản tiền phụ cấp trách nhiệm. Do đó, dẫn đến việc biến động giá tăng ở hai bậc nhân công này.
4.5.3 Biến động lượng
Chênh lệch hiệu quả được đánh giá là khá tốt vì giúp công ty tiết kiệm được khoảng chi phí 1,2 triệu đồng, mặc dù chỉ giảm khoảng 0,4% . Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu cho thấy sự hiệu quả của công ty trong việc quản lý nhân công trực tiếp. Chênh lệch tăng - Nhân công bậc 3/7 3.380.000 U - Nhân công bậc 3,5/7 2.025.000 U Chênh lệch giảm - Thợ phụ 760.000 F - Nhân công bậc 4/7 3.640.000 F - Nhân công bậc 4,5/7 2.250.000 F Nguyên nhân của sự biến động
-Đối với nhân công bậc 3/7 và 3,5/7: biến động giá tăng ở hai bậc nhân công này bắt nguồn từ lý do công ty thuê thêm nhân công bên ngoài nhằm hoàn thành đúng tiến độ công trình để bàn giao chủ đầu tư. Do đó, số ngày công của hai bậc nhân công này tăng lần lượt là 26 ngày và 15 ngày.
- Đối với nhân công bậc 4/7 và 4,5/7, thợ phụ: do công ty tiến hành xây dựng nhiều công trình cùng thời điểm, dẫn đến việc phải chuyển một số nhân công có tay nghề và chuyên môn sang những công trình khác, đặc biệt là những công trình đang thi công giai đoạn nền móng. Bên cạnh đó, số thợ phụ cũng được
tăng cường ở những công trình khác nhằm đáp ứng nguồn lao động nên số lượng thợ phụ tại công trình Cửa Hàng VLXD 5A giảm xuống.
4.6 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ MÁY THI CÔNG
Hiện tại, công ty chưa thành lập đội máy thi công riêng, và chi phí máy thi công chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá thành công trình. Do đó, chi phí máy thi công sử dụng cho công trình nào được hạch toán trực tiếp vào chi phí công trình đó mà không qua phân bổ. Để phân tích sự biến động của loại chi phí này, bài viết chủ yếu phân tích sự biến động giá nhiên liệu và chi phí thuê máy bên ngoài.
Dưới đây là bảng so sánh chi phí nhiên vật liệu sử dụng cho máy thi công theo dự toán và thực tế.
Bảng 4.14: Chi phí nhiên vật liệu sử dụng
Loại nhiên
liệu Đơn vị tính Dự toán Số lượng Thực tế Dự toán Đơn giá (đồng) Thực tế
Dầu diesel Lít 507 517 21.100 21.905
Mỡ bò Kg 13 13 15.500 15.991
Nhớt Lít 15 15 17.650 18.141
Nguồn số liệu: tự thực hiện
Bảng 4.15: Tổng hợp chi phí máy thi công theo dự toán và thực tế
Đơn vị tính: nghìn đồng
Chi phí Dự toán Thực tế Chênh lệch
Tuyệt đối %
Nhiên liệu 11.163.950 11.798.365 634.415 5,7
Thuê máy 58.312.567 65.065.886 6.753.319 11,58
Tổng cộng 69.476.517 76.864.251 7.387.734 17,28
Nguồn số liệu: tự thực hiện
Chi phí nhiên liệu tăng 634.415 đồng, tương đương khoảng 5,7%. Nguyên nhân của sự biến động chi phí nhiên vật liệu là do giá xăng dầu tăng đột ngột. Cụ thể, từ đầu tháng 7/2012 đến ngày 11/11/2012, giá dầu Diesel đã tăng từ mức 21.100 đồng/lít lên 21.905 đồng/lít. Thêm vào đó, những loại máy này đã qua sử dụng trước khi công ty mua về, nên mức hao tốn nhiên liệu cao hơn so với máy mới, làm tăng lượng nhiên liệu sử dụng.
Bên cạnh đó, sự phát sinh thêm một số loại máy thuê ngoài cũng dẫn đến sự biến động chi phí máy thi công, làm gia tăng lượng nhiên liệu sử dụng so với lượng nhiên liệu dự toán.
Chi phí thuê máy tăng thêm khoảng 6,7 triệu đồng, tương ứng khoảng 11,58%. Nguyên nhân là do công ty thuê thêm máy so với dự toán để phục vụ cho công trình phụ phát sinh. Riêng đối với những loại máy công ty đã tính trong bảng dự toán cần phải thuê ngoài thì không có sự biến động về giá thuê máy, điều này cho thấy công ty đã lên kế hoạch kỹ và ký kết hợp đồng thuê máy trước khi thi công công trình.
4.7 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp phát sinh khi thi công công trình. Đây cũng là cơ sở để phân tích biến động chi phí ản xuất chung tại công trình.Từ Bảng dự toán công trình và Sổ cái chi phí sản xuất chung, ta có được bảng so sánh chi phí sản xuất chung dự toán và dự toán như sau:
Bảng 4.16: Phân tích chi phí sản xuất chung
Đơn vị tính: nghìn đồng
Chi phí Dự toán Thực tế Chênh lệch
Tuyệt đối % Sản xuất chung trực tiếp 28.409 42.398 13.989 49,24 Sản xuất chung gián tiếp 115.339 85.850 (29.489) (25,57 ) Tổng cộng 143.748 128.248 (15.500) (10,78 ) Nguồn số liệu: tự thực hiện
Từ Bảng 4.18 ta nhận thấy, tổng chi phí sản xuất chung thực tế giảm gần 15,5 triệu đồng, tương đương khoảng 10,78 % so với dự toán. Trong đó, chi phí sản xuất chung gián tiếp giảm gần 29,5 triệu đồng, còn sản xuất chung trực tiếp lại tăng gần 14 triệu đồng so với dự toán. Nguyên nhân sự biến động ngược nhau của chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp có thể được giải thích như sau:
- Chi phí sản xuất chung trực tiếp: bao gồm tiền điện nước thi công, tiền thí nghiệm và tiền công dụng cụ phục vụ cho công trình. Do phát sinh thêm công trình phụ nên chi phí điện nước tăng so với dự toán, một số loại thiết bị điện phục vụ cho công trình có công suất khá lớn như máy khoan cầm tay, máy hàn... cũng làm tăng chi phí tiền điện. Bên cạnh đó, một số công cụ dụng cụ phục vụ cho việc thi công công trình bị hỏng nên phải thay công cụ mới cũng làm tăng chi phí trực tiếp. Riêng tiền thí nghiệm, kiểm định thì không có sự tăng giá so với dự toán.
- Chi phí sản xuất chung gián tiếp: bao gồm các khoản trích theo lương, chi phí quần áo bảo hộ lao động, chi phí thuê ngoài như tiền thuê người trông coi vật tư, chi phí nhà tạm cho công nhân, chi phí khác như phụ cấp tiền xăng cho cán bộ khảo sát phục vụ công trình. Chi phí này giảm được giải thích chủ yếu là do chi phí bảo hộ lao động giảm, công ty không mua sắm mới trang phục bảo hộ lao động. Bên cạnh đó, chi phí nhà tạm cho công nhân và nhà chứa vật tư tại công trình giảm do công ty tận dụng được những vật tư còn dư từ các công trình trước, không phát sinh tiền mua vật tư mới.
4.8 TÓM LƯỢC BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ SẢN XUẤT CÔNG TRÌNH
Dựa trên sự phân tích từng loại chi phí ở các phần trên, ta có bảng tóm lược chi phí sản xuất của công trình như sau:
Bảng 4.17: Tóm lược chi phí sản xuất công trình
Đơn vị tính: nghìn đồng Khoản mục chi phí Dự toán Thực tế Chênh lệch Tuyệt đối % Chi phí nguyên vật liệu 1.537.471 1.564.831 27.360 1,78 Chi phí nhân công 286.970 293.836 6.866 2,39 Chi phí máy thi công 69.476 76.864 7.388 10,63 Chi phí sản xuất chung 143.748 128.248 (15.500) (10,78 ) Tổng chi phí 2.037.666 2.063.780 26.114 4,02 Nguồn số liệu: tự thực hiện
Nhìn chung, mặc dù chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi phí sản xuất, tuy nhiên chi phí nguyên vật liệu lại biến động ít nhất so với các chi phí còn lại. Điều này chứng tỏ công ty đã có kế hoạch quản lý và dự trù vật tư khá tốt trước tình hình biến động giá của thị trường. Biến động nhiều nhất là máy thi công, tăng hơn 10 % so với dự toán. Vì vậy, công ty cần có sự quản lý chặt chẽ hơn nữa loại chi phí này nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và lợi nhuận. Ngược lại với chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung giảm hơn 10 % so với dự toán, giúp công ty tiết kiệm được khoảng chi phí hơn 15 triệu đồng.
CHƯƠNG 5
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TỪ VIỆC QUẢN LÝ CHI PHÍ 5.1 ĐỐI VỚI CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
Công ty đã quản lý khá tốt nguyên vật liệu, tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế. Sau đây là một số giải pháp nhằm quản lý tốt hơn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại công ty.
- Địa bàn hoạt động của công ty khá rộng, nhiều công trình ở xa so với công ty, do đó một số vật tư sau khi mua được chuyển thẳng đến công trình mà không qua kho. Dẫn đến việc xảy ra hao hụt trong quá trình vận chuyển như bể vỡ, nhất là đối với các loại gạch. Do đó, công ty cần thỏa thuận với nhà cung cấp để cùng gánh chịu chi phí hao hụt. Bên cạnh đó, khoảng cách xa so với kho của công ty cũng gây nhiều khó khăn đối với những loại vật tư xuất kho sử dụng cho công trình. Để quản lý tốt những loại vật tư này, khi xuất dùng vật tư cần theo dõi sát tiến độ công trình để xuất vật tư cho phù hợp, tránh tình trạng xuất dư so với nhu cầu. Đối với công nhân giữ kho tại công trình, cần phụ cấp thêm tiền trách nhiệm để tạo động lực cho họ, tránh tình trạng thất thoát vật tư.
- Công ty cũng cần tận dụng nhiều hơn những vật liệu thu hồi nhằm tiết kiệm chi phí mua vật tư mới.
- Công ty cần tìm những nhà cung ứng có uy tín, chất lượng đảm bảo theo yêu cầu. Tham khảo giá cả vật tư từ nhiều nhà cung cấp uy tín để lựa chọn giá tốt nhất.
- Công ty cần có kế hoạch trữ vật tư lâu dài, tránh sự biến động giá cả thị trường nhất là các loại vật tư chịu sự tác động của giá xăng dầu như các loại sắt thép, tole...
5.2 ĐỐI VỚI CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
- Trả lương khoán đối với công nhân thuê ngoài, không nên trả theo ngày tránh tình trạng nhân công cố tình kéo dài thời gian làm việc làm ảnh hưởng tiến độ công trình, làm tăng chi phí.
- Đối với đội trưởng các đội, nên tăng khoản tiền phụ cấp trách nhiệm, vì họ là những người chịu trách nhiệm trực tiếp chất lượng công trình và là công nhân có tay nghề,chuyên môn.
- Tập huấn an toàn lao động cho nhân công, nhất là những nhân công thuê ngoài tại địa phương công trình.
5.3 ĐỐI VỚI CHI PHÍ MÁY THI CÔNG
Hiện tại, phần lớn máy thi công sử dụng tại công ty là những máy đã qua sử dụng nên mức tiêu hao nhiên liệu nhiều hơn so với máy mới. Ngoài ra, công ty vẫn còn thiếu một số loại máy thi công chuyên dụng, dẫn đến việc phải thuê ngoài khi có nhu cầu sử dụng. Nguyên nhân là do công ty còn hạn chế về vốn và những khó khăn trong ngành xây dựng những năm gần đây cũng tác động ít nhiều đến công ty.
quả, hao tốn nhiều nhiên liệu khi sử dụng để có nguồn kinh phí mua sắm máy mới.
5.4 ĐỐI VỚI CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
Công ty đã quản lý khá tốt khoản mục chi phí sản xuất chung phát sinh tại công trình, giúp công ty tiết kiệm được một khoảng chi phí. Tuy nhiên, do quá trình thi công phát sinh thêm công trình phụ làm tăng chi phí sản xuất chung trực tiếp tại công trình. Do đó, công ty cần có sự thỏa thuận ngay từ đầu đối với chủ đầu tư để có thể dự toán được chi phí sản xuất chung trực tiếp trước khi thi công công trình. Từ đó, hạn chế được sự gia tăng của chi phí sản xuất chung trực tiếp.
5.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC ĐỐI VỚI BỘ MÁY KẾ TOÁN
Công ty chưa có bộ phận kế toán quản trị riêng biệt nên vấn đề tham mưu cho ban giám đốc về các phương án kinh doanh và quản lý chi phí còn hạn chế. Do đó, công ty cần có kế hoạch xây dựng bộ phận kế toán quản trị trong tương lai gần.
Kế toán trưởng còn kiêm nhiệm nhiều công việc, ít nhiều làm hạn chế công tác tham mưu, phân tích và đề xuất các giải pháp cho ban giám đốc.
Công ty nên tiến hành phân bổ chi phí máy thi công theo tiêu thức phù hợp, tránh tình trạng không phân bổ chi phí máy thi công mà hạch toán trực tiếp vào công trình khi sử dụng máy, làm tăng giá thành công trình so với thực tế.
CHƯƠNG 6
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 KẾT LUẬN
Trải qua 6 năm hình thành và phát triển, Công ty TNHH XD & TM Nhân Lực đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy là một công ty còn non trẻ so với những công ty khác cùng ngành, nhưng với sự học hỏi và phấn đấu không ngừng cùng với đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, nhiêt tình với công việc giúp công ty dần trở thành một trong những đơn vị xây dựng có uy tín trên địa bàn tỉnh.
Trong điều kiện ngành xây dựng vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng như giai đoạn hiện nay, những công ty hoạt động trong ngành cần có những bước đi chiến lược trong việc lựa chọn thị trường và đối tượng khách hàng phù hợp, hạn chế tình trạng ứ động nhà cửa làm ảnh hưởng không tốt đến nguồn vốn công ty.
Ngoài việc lựa chọn thi trường thì việc quản lý chi phí tại công ty cũng cần được quan tâm, nhất là chi phí sản xuất công trình. Quản lý chi phí hiệu quả giúp công ty tiết kiệm được chi phí, tránh tình trạng hao hụt so với dự toán, hạ giá