* Một số mâu thuẫn chủ yếu trong Kinh Dịch
Kinh Dịch thể hiện rất nhiều các mặt đối lập của mâu thuẫn nhau như: Âm - Dương, Càn - Khôn, Tốn - Đoài, Ly - Khảm, Cấn - Chấn, Thể - Dụng, Động - Tĩnh, Nội quái - Ngoại quái, Thế - Ứng, Thăng - Giáng,...
* Hình thức, nội dung mâu thuẫn trong Kinh Dịch
"Kinh Dịch" nói tới mặt đối lập bằng khái niệm Âm và Dương (còn được gọi là lưỡng nghi). Âm được tượng trưng bằng một nét đứt (gọi là hào âm), Dương được biểu thị bằng một nét liền (gọi là hào dương). Âm - Dương biểu thị hết thảy mọi sự đối lập trong tự nhiên, xã hội và tư duy như: nam - nữ, ngày - đêm, phủ định - khẳng định… Cặp Âm - Dương biểu thị phương thức tư duy bằng biểu tượng, một trong những đặc trưng của phương thức tư duy triết học nguyên thuỷ. Âm - Dương có những thuộc tính trái ngược nhau, đối lập nhưng thống nhất với nhau. Chúng không tồn tại bên cạnh nhau một cách hình thức mà luôn trong quá trình vận động, chuyển hoá lẫn nhau. "Hệ từ thượng" viết: Trời cao, đất thấp; nên Càn và Khôn xác định. Cao và thấp đã phô bầy, thì địa vị quý và tiện được xác lập. Sự vật luôn có động và tĩnh, theo đó có sự phân biệt cương (cứng) và nhu (mềm). Người tụ tập theo loại, vật phân chia theo bầy. Cát hung từ đó nảy sinh. Trên trời các hiện tượng thành lập, dưới đất các hình thể thành lập, và những biến hoá của chúng hiển hiện ra (Thiên tôn địa ti. Kiền Khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần. Quí tiện vị hĩ. Động tĩnh hữu thường. Cương nhu đoán hĩ. Phương dĩ loại tụ. Vật dĩ quần phân. Cát hung sinh hĩ. Tại thiên thành tượng. Tại địa thành hình. Biến hoá kiến hĩ).
Hoặc trong âm có dương, trong dương có âm, không nhất định để mà lường được (bất trắc) như vậy gọi là thần (Âm Dương bất trắc chi vị thần).
Suy cho cùng, thì muốn hiểu về Âm Dương, tất yếu phải hiểu về mâu thuẫn. Mâu thuẫn "là chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau" [9, tr.101]. Theo Dịch thì thế giới này khởi nguồn được hình thành từ mâu thuẫn của Âm - Dương. Cho nên đã có "Hằng" thời có "Biến"; đã có khiếm khuyết tất thị phải có viên mãn; đã có "Vật", thế tất phải có "Thần"; có gian lao thế tất phải có hạnh phúc... "Chu Hi viết: Đông Tây, trên dưới, lạnh nóng ngày đêm, sống chết đều tương phản lại nhau, và sóng đôi với nhau. Trong Trời Đất, chưa từng có vật nào lại không có cái đứng sóng đôi với mình" [70, tr.40]. Như trời sinh vật, không thể sinh một mình âm, ắt là phải có dương, không thể sinh một mình dương, ắt phải có âm, ấy đều là mâu thuẫn cả. "Âm - Dương tiêu trưởng" mà chuyển hóa cho nhau như mặt trời lặn thì mặt trăng lên, trăng lặn thì mặt trời lại mọc, cứ thế mà thay đổi cho nhau. Lạnh đi nóng lại đến, hàn, thử cứ thế thay nhau theo năm tháng. Như vậy, qua mâu thuẫn của Âm - Dương chúng ta sẽ thấy được nguồn gốc, động lực của sự phát triển vô cùng, vô tận trong thế giới.
Ngoài hai yếu tố Âm - Dương, mâu thuẫn cũng được trình bày rất sinh động qua các quẻ trong "Kinh Dịch". Các quẻ cũng bao hàm tính chất đối lập giữa tĩnh tại và chuyển hoá:
- Trong 8 quẻ đơn, các quẻ Càn , Khôn , Ly , Khảm là những quẻ bất dịch; nghĩa là, dù đảo ngược quẻ 180o thì hình thức vẫn không thay đổi. Bốn quẻ này là bốn quẻ chính, căn bản của Âm - Dương. Sở dĩ chúng được gọi là chính, vì như Thiệu Ung giải thích, “Tứ chính giả, Càn, Khôn, Ly, Khảm dã. Quan kỳ tượng vô phản phúc chi biến, sở dĩ vi chính dã. Nghĩa là: Tứ chính, đó là những quẻ Càn, Khôn, Ly, Khảm. Sở dĩ
gọi là chính vì khi quan sát tượng của chúng, không thấy có sự biến đổi, phản phúc” [64, tr.54].
Các quẻ còn lại là những quẻ đảo dịch, vì khi đảo ngược quẻ 180o thì hình thức sẽ biến đổi thành quẻ khác: Cấn Chấn ; Tốn
Đoài .
Trong tám quẻ đơn này, hai quẻ Càn - Khôn gọi là thể, là nền tảng. Sáu quẻ còn lại gọi là dụng, là ứng dụng. Thể và dụng là khái niệm đối lập, không có thể thì không có dụng; ngược lại, thể nhờ dụng mới có thể phát huy công
năng. Càn và Khôn chính là trời và đất, là cái gốc lớn cho mọi biến hóa của thế giới. Các quẻ còn lại là do hai quẻ Càn - Khôn sinh ra. Ví dụ: Hai quẻ Càn - Khôn, nếu trao đổi cho nhau hào thượng thì sẽ biến thành hai quẻ Đoài - Cấn. Nếu chúng lại trao đổi cho nhau hai hào giữa thì sẽ thành hai quẻ Ly - Khảm. Nếu chúng trao đổi cho nhau hai hào hạ thì lại thành hai quẻ Tốn - Chấn.
Hình 17: Hai mặt đối lập của các quẻ bất dịch và đảo dịch - Trong 64 quẻ kép, cũng có hai nhóm quẻ: bất dịch và đảo dịch.
+ Nhóm bất dịch, gồm: Càn, Khôn, Ly, Khảm, Đại quá, Ly, Tiểu quá,
Trung phù.
+ Nhóm đảo dịch, gồm: Tụng - Nhu; Thái - Bĩ; Tuỳ - Cổ; Phệ hạp - Bí;
Vô vọng - Đại súc; Hàm - Hằng; Tấn - Minh di; Khuê - Gia nhân; Kiển - Giải; Thăng - Tuỵ; Đỉnh - Cách; Tiệm - Quy muội; Hoán - Tiết; Tỷ - Sư; Lâm -
Quan; Truân - Mông; Lôi - Sơn; Tổn - Ích; Khiêm - Dự; Trạch - Phong; Bác - Phục; Tỉnh - Khổn; Đại tráng - Độn; Đại hữu - Đồng nhân; Phong - Lữ; Tiểu súc - Lý; Ký tế - Vị tế; Cấu - Quải.
Như vậy, về mặt hình thức, các quẻ, dù quẻ đơn hay quẻ kép, đều có
quẻ đối lập với nó, tạo thành các cặp đối lập. Trật tự sắp xếp của các hào trong từng quẻ thể hiện mâu tính chất đối lập, mâu thuẫn trong từng cặp quẻ. Ví dụ: Càn - Khôn, Ly - Khảm,...
Về mặt nội dung, các cặp quẻ cũng hàm chứa những nội dung đối lập
nhau. Ví dụ, quẻ Càn biểu thị cho sự cứng, mạnh, quẻ Khôn biểu thị cho sự mềm mại, nhu nhược; quẻ Tỷ biểu thị cho sự vui vẻ, quẻ Sư biểu thị sự lo lắng; quẻ Thái biểu thị cho sự thông thuận, thái hoà, quẻ Bĩ biểu thị cho sự bế tắc, cùng khốn; quẻ Ly biểu thị cho lửa, nóng, mùa hè, quẻ Khảm tượng trưng cho nước, lạnh, mùa Đông,...
Từ những điều phân tích ở trên, chúng ta mới thấy rằng: Tư tưởng về mâu thuẫn trong "Kinh Dịch" rất gần với quy luật mâu thuẫn theo quan niệm mácxit. Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định: Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau tạo thành những mặt đối lập. Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn ''đấu tranh'' với nhau. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó có nghĩa là: sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời ; sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (…) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối” [44, tr.379]. Trong sự tác động
qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyễn hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới ; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế. V.I.Lênin viết: ''Sự phát triển là một cuộc ''đấu tranh'' giữa các mặt đối lập''(1). Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính thay đổi của sự vật . Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển. Vì thế, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng. V.I. Lê nin viết: ''Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm'' (2) [(1), (2)44, tr.379+240]. Vì vậy, tư tưởng biện chứng trong "Kinh Dịch" tuy còn mang tính chất "ngây thơ", cảm tính từ sự "quan sát trực tiếp" nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng với người cổ đại.
* Ý nghĩa mâu thuẫn trong Kinh Dịch
Ý nghĩa về quan điểm mâu thuẫn trong Dịch là rất lớn. Trong 64 quẻ trên, trừ hai quẻ thể là Càn - Khôn, có thể thấy, một mặt, các quẻ đều chứa
mâu thuẫn nội tại (có cả hào âm lẫn hào dương), mặt khác, các quẻ còn có cả sự mâu thuẫn bên ngoài với quẻ đối lập với nó. So với quy luật mẫu thuẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin, "Kinh Dịch" có ưu điểm là cũng đã chỉ ra sự phát triển
của mỗi sự vật, hiện tượng bao hàm những mâu thuẫn nội tại và quá trình phát triển của chúng cũng bao hàm những mâu thuẫn. Những mâu thuẫn ấy tồn tại khách quan và phổ biến. Nói là khách quan, bởi nó là kết quả quá trình biến đổi tự nhiên của chính bản thân các hào trong quẻ: từ thái cực là đồng nhất, đến phân hoá thành lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… Nói là phổ biến, vì tính chất mâu thuẫn này không loại trừ bất kỳ một trường hợp nào. Ngay cả cặp Càn - Khôn, mặc dù không hàm chứa mâu thuẫn bên trong nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn bên ngoài. Tuy nhiên, tác phẩm không chỉ ra được các hình thức cơ bản của mâu thuẫn mà chỉ liệt kê các mâu thuẫn, có mẫu thuẫn chỉ dừng lại ở mâu thuẫn thông thường mà không phải là mâu thuẫn triết học. Đặc biệt vì muốn bảo tồn và duy trì cái cũ, nên "Kinh Dịch'' chủ trương điều hòa mẫu thuẫn, lấy "hòa" làm quý, làm trọng mà không phải giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh.