Phân tích chất lượng sản phẩm và phương hướng nâng cao tại doanh nghiệp Việt Nam

MỤC LỤC

Các loại chất l ợng sản phẩm

Những nhân tố ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm (chuyển lên phần 4 của I)

    Nh chúng ta đã biết có rất nhiều nhân tố cấu thành chất lợng sản phẩm và cũng chính những nhân tố này là nhân tố ảnh hơng đến chất lợng sản phẩm và đợc xếp vào nhóm nhân tố bên trong, ngoài ra cũng còn có nhóm nhân tố bên ngoài ảnh hởng tới chất lợng sản phẩm. Cũng vì có vai trò nh vậy nên tổ chức tiêu chuẩn chất lợng quốc tế đã tập hợp, tổng kết và tiêu chuẩn hoá, định hớng những thành tựu và kinh nghiệm quản lý chất l- ợng ở các doanh nghiệp thành bộ ISO 9000. Cầu về chất lợng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có nhân tố thu nhập của ngời tiêu dùng: ngời tiêu dùng có thu nhập cao thờng có yêu cầu cao về chất lợng sản phẩm và ngợc lại, khi thu nhập của ntd thấp thì họ không mấy nhậy cảm với chất lợng sản phẩm.

    Với cơ chế đóng, chất lợng sản phẩm là một phạm trù chỉ gắn liền với các điều kiện kinh tế kỹ thuật của một nớc, ít và hầu nh không chịu ảnh hởng của các nhân tố kinh tế kỹ thuật thuộc phạm vi quốc tế. Trong cơ chế kinh tế thị trờng hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nớc trớc hết là hoạt động xác lập các cơ chế phấp lý cần thiết vế chất lợng sản phẩm và quản lý chất lợng sản phẩm.

    Tầm quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất l ợng sản phẩm

    Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển sản xuất có năng suất, chất lợng mà còn đợc tạo thành bởi sự tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị, lao động trong quá trình sản xuất và không sản xuất ra các phế phẩm. Khi doanh nghiệp đã đạt đợc lợi nhuận thì có điều kiện để bảo đảm việc làm cho ngời lao động, tăng thu nhập cho họ và làm cho tin tởng gắn bó với doanh nghiệp, góp hết công sức để sản xuất những sản phẩm có chất lợng tốt giúp doangh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn. Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế ngời tiêu dùng IOCU (International Organization Consumer Union) vào năm 1962, vai trò của ngời tiêu dùng trở nên quan trọng trong việc toàn cầu hoá thị trờng.

    Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô). Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lý cho phép hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lợng, đủ sức cạnh tranh với giá cả sản phẩm trong nớc cũng nh ngoài nớc.

    Quá trình hình thành và phát triển của khoa học quản lý chất l ợng

    Theo quan điểm của ngời Nhật: Quản lý chất lợng là hệ thống các biện pháp công nghệ sản xuất tạo điều kiện cho những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lợng thoả mãn yêu cầu của ngời tiêu dùng với chi phí thấp nhất. Một quan niệm khác do tổ chức tiêu chuẩn chất lợng quốc tế ISO đa ra khá toàn diện và đợc chấp nhận rộng rãi hiện nay: " Quản lý chất lợng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lợng , mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng bằng những phơng tiện nh: lập kế hoạch điều khiển chất lợng, đảm bảo chất lợng và cải tiến chất l- ợng trong khuôn khổ hệ thống chất lợng". Quản lý chất lợng đợc phát triển và hoàn thiện liên tục thể hiện ngày cành đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lợng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trờng kinh doanh mới.

    Những thay đổi trong cách nhìn và phơng pháp quản lý chất lợng trong hàng loạt các doanh nghiệp lớn trên thế giới, đặc biệt ở Nhật, Mỹ và các nớc Tây Âu phát triển đã tạo ra một cuộc cách mạng về chất lợng sản phẩm trên thế giới. Theo nh quan điểm của phơng tây: Quản lý chất lợng đồng bộ là một hệ thống có hiệu quả thống nhất của các bộ phận khác nhau chịu trách nhiệm triển khai, duy trì mức chất lợng đạt đợc, nâng cao mức chất lợng để sử dụng và sản xuất sản phẩm ở mức kinh tế nhất thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của ngời tiêu dùng với vai trò kiểm tra quan trọng của các chuyên gia.

    Nâng cao sức cạnh tranh và vai trò của chất l ợng sản phẩm với việc tăng sức cạnh tranh

    Ngoài rviệc kiểm tra chất lợng sản phẩm còn phải đảm bảo chất lợng sản phẩm trớc, trong và sau khi sản xuất, thực hiện khẩu hiệu "Chất lợng ngay từ giây phút đầu". Theo cách hiểu này, doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lợng tơng tự sản xuất của doanh nghiệp khác nhng với chi phí thấp hơn thì đợc coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn (Peter. - Dunning lập luận rằng khả năng cạnh tranh là khả năng cung sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trờng khác nhau mà không nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó.

    - Một quan niệm khác cho rằng khả năng cạnh tranh là trình độ của công nghiệp có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trờng, đồng thời duy trì đợc mức thu nhập thực tế của mình. Vì thế để nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp phải tập chung vào các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh nh đã trình bày ở trên và đặc biệt tập chung vào nâng cao chất lợng sản phẩm vì đây là yếu tố quan trọng hàng đầu.

    Thực trạng về chất lợng sản phẩm ở các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

    Doanh nghiệp Việt Nam trong môi tr ờng kinh doanh hiện nay

    Khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 21,77% với đặc điểm là phần lớn các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ nhng hầu hết các cơ sở mới đợc xây dựng trong những năm gần đây đều đợc đầu t trang thiết bị và công nghệ hiện đại nên sản phẩm không những dễ dàng thay đổi mẫu mã mà còn có chất lợng cao, đáp. Trừ một số doanh nghiệp mà đa phần là các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài có côn nghệ khá chất lợng sản phẩm tơng đối cao, còn phần lớn doanh nghiệp vẫn có trang thiết bị và công nghệ lạc hậu so với các nớc trong khu vực, tỷ lệ đổi mới trang thiết bị và công nghệ còn cha đáng kể, cha tơng sxứng với yêu cầu trong thời kỳ cạnh tranh. Cơ cấu, đầu t cha hợp lý, cha theo một quy hoạch phát triển tập chung thống nhất, còn nặng về thay thế nhập khẩu, dự báo không sát nhu cầu trong n- ớc và không gắn với quan hệ cung cầu ở trong khu vực, dẫn tới một số ngành và sản phẩm đầu t quá nhiều, vợt quá nhu cầu và khả năng thanh toán nh: ô tô, xe máy lắp ráp, sắt thép, đờng, xi măng.

    Các nớc nhỏ và đang phát triển, với một nền công nghiệp nhỏ bé đi sau lại không thể đóng cửa thị trờng trong nớc, sẽ gặp rất mnhièều khó khăn trong việc cạnh tranh để có chỗ đứng trên thị trờng thế giới và duy trì một thị phần nhỏ bé của mình. Quản lý chất lợng sản phẩm tại các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung thực hiện tốt vì trớc sự phát triển rất mạnh mẽ của kinh tế thị trờng và sức ép cạnh tranh từ nhiều phía nên các doanh nghiệp không thể buông lỏng khâu then chốt này đặc biệt là việc áp dụng hệ thống quản lý chất lợng quốc tế ISO.

    Một số phơng hớng nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh ở Việt Nam

      Hiện nay, nguồn lao động của nớc ta rất dồi dào nhng trình độ tay nghề còn thấp đa số là lao động phổ thông cha đợc qua đào tạo do đó ảnh hởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, để có đợc nguồn lao động đủ trình độ để sản xuất kinh doanh có hiệu quả nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải cải cách mạnh mẽ hệ thống đào tạo nghề và các tổ chức xúc tiến việc làm. + Ưu tiên phát triển phần thực hành, trình độ học viên đợc đánh giá căn cứ vào trình độ ứng dụng và kiểm tra viết, xây dựng quy trình giám sát nhằm thông báo cho học viên và cơ quan chủ quản biết tiêu chuẩn đáp ứng cho mỗi chơng trình và mỗi cơ quan.

      Ngoài những yếu tố nh: máy móc công nghệ, lao động, thì việc áp dụng các phơng pháp quản lý chất lợng cũng rất quan trọng vì thế chon đợc một hệ thông quản lý chất lợng phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất quan trọng. + Hệ thống giải thởng chất lợng Việt Nam: để khuyến khích các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế trong nớc, năm 1995 bộ khoa học công nghệ và môi trờng đã đặt ra "Giải thởng chất lợng Việt Nam".