MỤC LỤC
Khoảng này được mống mắt ngăn ra làm hai 2 phòng: hậu phòng phía sau mống có thể tích 0,06 ml, tiền phòng phía trước mống có thể tích 0, 25 ml. Sự điều tiết dẫn đến sự gia tăng độ cong thủy tinh thể do độ đàn hồi của bao tạo cho nó một hình dạng cong hơn bất cứ khi nào sức căng của dây chằng Zinn được nới lỏng.
Mỗi mắt có 6 cơ: 4 cơ trực và 2 cơ chéo, gọi là cơ vận nhãn ngoài để phân biệt với các cơ vận nhãn trong (các cơ trơn gồm cơ vòng và cơ tia ở mống mắt và các cơ ở mi thể). Với cấu trúc đặc biệt chứa nhiều sợi đàn hồi và nhiều sợi thần kinh (một nhánh thần kinh cho mỗi sợi cơ mắt, tương đối nhiều so với các cơ có kích thước lớn khác trong cơ thể), điều đó góp phần cho tính chất cử động mềm mại và tinh tế của cơ mắt.
Giao thoa thị: là một dải dẹt thon, kớch thước 8ì12 mm, đặt tại chỗ nối của thành trước và sàn sau của não thất thứ ba, nằm nghiêng với bờ sau ở trên bờ trước, ngay trên cách mô hố yên, phía trên và sau rãnh thị của xoang bướm. Trong vỏ thị giỏc hay vỏ vằn: sự phản ỏnh của vừng mạc trờn vỏ vằn được lặp lại như sau: vùng hoàng điểm ở phía sau, vùng ngoại biên ở phía trước, vùng vừng mạc trờn chiếm bờ trờn của rónh cựa, vựng vừng mạc dưới chiếm bờ dưới của rãnh này.
- Tế bào thần kinh thứ ba phát sinh từ hạch cổ trên, đi theo đám rối quanh động mạch cảnh, qua hạch Gasser, thần kinh mắt, các thần kinh mi dài để vào nhãn cầu và tận cùng tại cơ giãn đồng tử. Tuy nhiên tổn thương sợi hậu hạch (tế bào thứ ba) có thể gây hội chứng Horner không hoàn toàn (không có khô mặt nữa bên) vì tế bào này chia 2 nhánh, một theo động mạch cảnh trong và một theo động mạch cảnh ngoài.
Khi có ánh sáng tác dụng, trong các tế báo thụ cảm ánh sáng xuất hiện điện thế thụ cảm có giá trị tỉ lệ với cường độ ánh sáng tác dụng. Tần số kích thích các tế bào thần kinh tỉ lệ với giá trị điện thế thụ cảm và do đó tỉ lệ với cường độ ánh sáng.
Trong tất cả các thuyết giải thích cơ chế kích thích các cơ quan thụ cảm trong quá trình phân hủy sắc tố cảm sáng có hai thuyết đáng chú ý: thuyết men của Iold và thuyết ion của Bontin_Begem. Các sắc tố thay đổi thể cấu tạo của chúng khi một photon được phát hiện, cho phép chúng phản ứng với transducin khởi động một đợt sự kiện thị giỏc.Transducinlà một loại protein cú mặt trong vừng mạc và cú khả năng chuyển hóa hiệu quả năng lượng ánh sáng thành tín hiệu điện.
Chức năng của phản xạ (tiền đình) không do thị giác là duy trì vị trí của mắt có liên quan với bất kỳ sự thay đổi nào của đầu và vị trí của cơ thể. Dẫn truyền của vận động này xuất phát từ mê đạo tai trong và những thần kinh cảm thụ bản thân ở nhóm cơ cổ làm trung gian truyền thông tin cho vận động đầu và cổ.
Nguyên lý cơ bản giải phẫu học của mắt[8]: bên trong mắt là cấu trúc bảo vệ, mỗi mắt có một lớp thụ thể, một hệ thống thấu kính tập trung ánh sáng vào các thụ thể ánh sáng và hệ thống thần kinh dẫn truyền các xung động về vỏ não thị giác để xử lý. Tài liệu này cho phép so sánh dữ liệu EOG đang tồn tại khắp thế giới bằng việc hướng dẫn những y sĩ thực hành lẫn những nhà sản xuất và ISCEV được khuyến cáo như là một tiêu chuẩn quốc tế cho việc đo EOG.
Đèn hiển thị trạng thái bận: được kích hoạt (bật sáng) khi bộ thu nhận MP30/35 đang thu nhận dữ liệu hay một vài giây đầu khi bật nguồn. Mặt sau của bộ phận MP30 có một cổng xuất tín hiệu dưới dạng tương tự, một cổng serial, một cổng nguồn DC (12 VDC – 1 Am), một công tắc nguồn. Cầu chì: trong bộ giữ cầu chì có chứa một cầu chì dạng nổ-nhanh (fast-blow) nhằm bảo vệ thiết bị MP30/35 tránh các hiện tượng chạm mạch nguồn, tương tự, đường I/O số.
Trong thực tế sử dụng trong y tế, các điện cực bề mặt tùy vào ứng dụng mà kết hợp với các bộ khuyếch đại, lọc nhiễu… để đạt độ chính xác cao hơn.
Nếu tín hiệu không đều (do đối tượng không nhìn theo điểm xanh, đối tượng chớp mắt, điện cực không dính,…) tạo một đường dốc lớn thì có thể lấy tín hiệu định chuẩn lại bằng cách nhấnRedo Calibration. Người điều khiển giữ bút ở trung tâm trong 5 giây sau đó di chuyển bút theo phương ngang ra bên trái đối tượng khoảng 700 sau đó di chuyển về vị trí trung tâm trong 3 giây, tiếp tục di chuyển bút theo phương ngang ra bên phải đối tượng khoảng 700rồi về lại vị trí trung tâm. 12.Đối tượng cố gắng tập trung vào một điểm nào đó trên cây viết và mắt nhìn thẳng về phía trước (không được nhìn lên hoặc nhìn xuống), có thể chớp mắt trước khi ghi tín hiệu tiếp.
25.Nếu bạn muốn theo dừi mắt bằng một điểm và điểm này di chuyển trờn màn hỡnh máy tính đúng với vị trí mà đối tượng nhìn vào thì thực hiện bước 26 hoặc nếu bạn muốn kết thúc tiến trình ghi tín hiệu thì thực hiệnbước 31.
Autoscale Waveforms: khi chọn chế độ này màn hình sẽ hiển thị đầy đủ tín hiệu thu được theo chiều dọc (theo biên độ), tính từ đỉnh dương cao nhất tới đỉnh âm thấp nhất. Autoscale horizontal: khi chọn chế độ này màn hình sẽ hiển thị đầy đủ tín hiệu thu được theo chiều ngang (theo thời gian), tính từ thời điểm 0.00 giây đến cuối. Delta T:độ chênh lệch thời gian giữa điểm đầu và điểm cuối của vùng được quét khối.
p-p: độ chênh lệch về biên độ giữa giá trị biên độ lớn nhát và giá trị biên độ nhỏ nhất của vùng được quét khối.
Trong đó bao gồm các số liệu về năng lượng của tín hiệu sóng Alpha, sóng Beta; tỉ số sóng Alpha với tín hiệu trước khi lọc, tỉ số sóng Beta với tín hiệu trước khi lọc; tỉ số BAR; phổ phân bố năng lượng của hai sóng Alpha & Beta; phổ tương quan giữa tín hiệu phân tích với hai sóng Alpha, Beta và phổ phân bố tỉ số BAR. Do hai loại sóng này có mối tương quan với nhau và tương quan với tín hiệu ban đầu nên phần trăm giữa chúng có thể đánh giá mức hoạt động của tín hiệu EOG, cũng như mức hoạt động của mắt trong các trạng thái khác nhau. Cũng như trên đối với các số liệu % Alpha và % Beta có sai số trung bình khá lớn, nên nhóm chỉ dùng chỉ số này để đánh giá mối tương quan một cách định tính và so sánh với tín hiệu khi thức.
Với mục tiêu cảnh báo tình trạng buồn ngủ nên đối với trạng thái ngủ nhóm chỉ phân tích tín hiệu trong 30 phút đầu, là giai đoạn đầu của giấc ngủ có liên quan đến tình trạng buồn ngủ.
Bộ khuếch đại instrumentation dưới dạng IC có nhiều loại khác nhau ví dụ như AD620 (Analog Devices), INA101 (BurrBrown)… Những thiết bị này chứa tất cả các thành phần, ngoại trừ RG, mà có thể gắn thêm bên ngoài để thay đổi độ lợi từ 1V/V đến 103V/V. Trong trường hợp có nhiều thiết bị được sử dụng một lúc đối với một bệnh nhân thì không tránh khỏi những tín hiệu do các thiết bị này tác động lên nhau, cũng như nếu vô tình để bệnh nhân chạm phải nguồn cung cấp. Như đã trình bày phần trên, IC AD620 được tích hợp mạch khuếch đại vi sai 3 opam với các thông số phù hợp với yêu cầu của mạch điện thu nhận, nên nhóm sử dụng để làm mạch khuếch đại vi sai theo sơ đồhình 6.4.
Do đó ta cần phải thiết kế một mạch lọc thông thấp (low-pass filter) để loại trừ các thành phần nhiễu ở tần số cao, một mạch lọc thông cao (high-pass filter) để loại bỏ các thành phần nhiễu DC (dòng trực tiếp).
Điều này giúp cho thiết bị cảnh báo buồn ngủ 1 có thể được sử dụng cho các loại đối tượng khác nhau như khác nhau về tuổi tác, khác nhau về vùng da quanh mắt (vùng da dán điện cực) và đặc biệt là khác nhau về loại điện cực, chất lượng điện cực. Khi tín hiệu từ tầng khuếch đại và lọc nhiễu nhỏ hơn điện ỏp ngưỡng (khi mở mắt) thỡ ngừ ra output của IC LM311 có giá trị là 0V và ngược lại nếu lớn hơn điện áp ngưỡng ( khi nhắm mắt) thỡ ngừ ra output cú giỏ trị là +12V. Như vậy áp dụng nguyên lý hoạt động của thyristor để đưa vào mạch cảnh cáo buồn ngủ sẽ giúp cho tín hiệu cảnh báo kéo dài đủ để đánh thức tài xế và buộc tài xế phải nhận thức được là mình đang buồn ngủ bằng hành động tự tắt chế độ báo động.
Các giải thuật trong chương trình xử lý trên IC DSPIC30F4013 hoàn toàn tương tự với các giải thuật xử lý trong chương V.Lưu ý: quá trình thu nhận và xử lý của thiết bị cảnh báo lần lượt sẽ được thực hiện qua các khối mạch như đã trình bày ở trên và IC DSPIC30F4013.