Phân tích thực trạng và giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Hà Tây

MỤC LỤC

Phân loại rủi ro tín dụng

+ Rủi ro từ phía người cho vay (ngân hàng, các tổ chức tín dụng) gồm: Rủi ro ở khõu chớnh sỏch, rủi ro ở khõu nghiờn cứu, theo dừi, quản lý và xử lý rủi ro, rủi ro ở khâu thông tin, rủi ro ở khâu cán bộ, rủi ro ở công tác kiểm tra, kiểm soát. Rủi ro do khả năng tài chính yếu kém của người vay; Rủi ro do biến động khả năng kinh doanh của người vay; Rủi ro từ phía người điều hành doanh nghiệp, mối quan hệ của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác; Rủi ro bất khả kháng.

Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có thể xảy ra

Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng

+ Ban lãnh đạo thường xuyên thay đổi cơ cấu tổ chức; xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành,tranh chấp trong qua trình quản lý. + Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi chưa hội đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mức thời hạn kinh doanh, doanh số không thực tế.

Nhóm các dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng

+ Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng;. + Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ khụng quan hệ với cỏc TCTD khỏc mặc dự biết rừ cỏc khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn rủi ro cao;.

Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Đối với nền kinh tế

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn.

CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA RỦI RO TÍN DỤNG

Nguyên nhân khách quan

    Khi Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn tăng thì ngay lập tức lãi suất thị trường tăng theo, lúc đó có ít doanh nghiệp chịu chấp nhận vay với lãi suất cao, chỉ có các dự án có mức sinh lời lớn mới có thể chấp nhận mức lãi suất cao nhưng các dự án này thường có nguy cơ rủi ro cao nên rất dễ gây rủi ro cho ngân hàng. Ngày nay, các ngân hàng đang tự bảo vệ mình bằng cách phải thường xuyên nắm được quy định của pháp luật, đặc biệt phải dự báo được xu hướng thay đổi của môi trường pháp luật (toàn cầu hoá thị trường tài chính, Ngân hàng Nhà nước kiểm soát các ngân hàng bằng những công cụ nào…) để điểu chỉnh hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng cho phù hợp và đảm bảo an toàn. Ngược lại, khi mà nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đi vay vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, việc tiêu thụ hàng hoá- dịch vụ không hoàn thành kế hoạch làm giảm sút thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Tuỳ vào mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng mà việc ảnh hưởng lên cá nhân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng như lên khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ở mức độ khác nhau: mức độ khủng hoảng càng cao, sức mua của nguời tiêu dùng càng giảm sút làm cho hàng hoá bán ra càng giảm mạnh, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Với xu hướng hội nhập, khi các ngân hàng nước ngoài được đối xử bình đẳng trên thị trường Việt Nam thì các ngân hàng thương mại Việt Nam đứng trước sự cạnh tranh gay gắt và như vậy các ngân hàng buộc phải chấp nhận những dự án và phương án có mức rủi ro cao. Trong thời gian vừa qua chúng ta đã ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm ảnh hưởng đến người chăn nuôi gia cầm, khi người chăn nuôi gia cầm phải tiêu huỷ đàn gia cầm của mình có nghĩa là họ sẽ khó có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng, hàng loạt các ngân hàng có khách hàng làm nghề chăn nuôi gia cầm đều phải tiến hành gia hạn nợ cho khách hàng của mình.

    Nguyên nhân chủ quan

    Một số trường hợp cá biệt khi khách hàng không có thiện chí trả nợ (mặc dù họ có khả năng ). Đó là những trường hợp ngân hàng cần phải thận trọng, những khách hàng này thường có đặc điểm chấp nhận những khoản vay có lãi suất cao và vay với khối lượng lớn. Đối với khách hàng là cá nhân thì rủi ro thường xảy ra khi họ lâm vào tình trạng: thất nghiệp, ốm đau, bệnh tật….

    - Không thực hiện tốt công tác đảm bảo tín dụng như định giá tài sản đảm bảo, kiểm tra kiểm soát giấy tờ liên quan, cũng như quá trình vận hành sử dụng..để khách hàng lợi dụng nâng giá tài sản để nâng số tiền được vay.

    BIỆN PHÁP PHềNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

      Các quy tắc này phải dựa trên quy định của luật pháp, của ngành và phù hợp với đặc điểm môi trường ngân hàng đang kinh doanh. Những quy tắc nghiệp vụ như vậy không những mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng về mặt thời gian và chi phí mà còn cho phép loại trừ các hành vi và giao dịch lừa đảo, gian lận. Sự chuyên môn hoá trong hoạt động tín dụng giúp cán bộ tín dụng có thể phát huy hết năng lực của mình và cho phép khách hàng đến xin vay giảm thời gian một cách tối đa khi đến giao dịch với ngân hàng.

      Lợi thế của hoạt động đa dạng hoá là giúp ngân hàng tránh được những rủi ro đặc thù, và ngân hàng có thể cải thiện được thu nhập đối với toàn bộ danh mục cho vay. Đây không phải là một nguyên tắc khi quyết định cho vay mà chỉ giúp các ngân hàng có thể tạo cho mình một nguồn thu thứ hai khi có rủi ro trong khoản vay đó cấp. Tuy nhiên để tự bảo vệ mình trước những khách hàng có mức rủi ro cao, họ cần ràng buộc trách nhiệm của các khách hàng này và đảm bảo tiền vay là một biện pháp hữu ích.

      THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ TÂY

      THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH 1. Tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh

      • Thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại chi nhánh

        • Các mặt mặt hoạt động khác: Quan hệ khách hàng; Công tác kiểm tra, kiểm soát; Công tác tổ chức bộ máy nhân lực; Công tác chỉ đạo điều hành… đều bám sát định hướng của Ngành, mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và chỉ đạo của NH ĐT&PT Việt Nam để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ được giao. Phõn cấp quản lý của NHĐT&PT Việt Nam quy định rừ mức phỏn quyết của từng chức vụ cụ thể trong sổ tay tín dụng của Ngân hàng, từ chức vụ tổng giám đốc cho tới trưởng các quỹ tiết kiệm và sở giao dịch. - Trưởng phòng tín dụng: được uỷ quyền phán quyết với mức tối đa bằng 40% (đối với khách hàng doanh nghiệp), 20% (đối với khách hàng Cá nhân, cá thể, hộ sản xuất…không phải là pháp nhân ) so với mức thẩm quyền thực tế của Phó giám đốc.

        Tính đến thời điểm cuối năm 2006, đầu năm 2007 Phòng tín dụng của Chi nhánh có quan hệ tín dụng với hơn 40 khách hàng lớn, chủ yếu là các Doanh nghiệp Nhà nước hoặc có vốn cổ phần chi phối của Nhà nước. Cuối cùng, cần phải chấp hành các văn bản chỉ đạo của TW về việc giới hạn tăng trưởng tín dụng không quá 18%, trong đó dư nợ tín dụng trung- dài hạn không quá 40%, do đó việc quyết định cho vay trung- dài hạn cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, khi quyết đụnh cho vay thì các khâu kiểm tra giám sát phải được tiến hành hết sức nghiêm túc để đảm bảo hiệu quả an toàn và sinh lời của đồng vốn Ngân hàng. + Quan tâm đặc biệt đến chất lượng hiệu quả hoạt động tín dụng, lựa chọn các dự án, các khách hàng tốt để đầu tư và thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra trước trong và sau khi cho vay đồng thời tích cực mở rộng co vay ngắn hạn, ngoài quốc doanh, dân doanh, tăng cường tài sản đảm bảo nợ vay….

        Phân loại nợ được phân thành năm nhóm theo mức độ rủi ro dựa trên thời gian quá hạn và mỗi loại ứng với một tỷ lệ trích lập riêng nên nhìn chung đã đánh giá được rủi ro ngân hàng có thể gặp phải và số tiền phải dự phòng. Hàng quý, trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên của tháng tiếp theo, Chi nhánh thực hiện phân loại nợ gốc và trích lập dự phòng rủi ro đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý (tháng) trước.

        Bảng 5: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua chỉ tiêu nợ quá hạn
        Bảng 5: Thực trạng rủi ro tín dụng thể hiện qua chỉ tiêu nợ quá hạn