MỤC LỤC
Đặc điểm của màng nơron là các riboxom liên kết với mạng lưới nội sinh chất để tạo thành một hệ thống lưu thông trong tế bào. Sợi nhánh làm nhiệm vụ tiếp nhận xung thần kinh để truyền tới các trung khu nên còn được gọi là các sợi cảm giác, hướng tâm.
Các tế bào này có sợi hướng tâm làm nhiệm vụ cảm nhận ánh sáng và các sợi li tâm bắt đầu từ thân bào di tới lớp tiếp theo của vừng mạc để từ đú tới cỏc trung khu thần kinh. Tính linh hoạt của hệ thần kinh ngoại biên ở người và động vật có xương sống cao hơn nhiều so với tính linh hoạt của các dây thần kinh không có màng mielin thuộc hệ thần kinh thực vật.
Trường hợp thứ nhất khi hai dung dịch có nồng độ khác nhau không bị phân cách bởi một lớp màng nào hay lớp màng phân cách có các lỗ rất lớn, cho tất cả các ion chui qua. Sự có mặt của các phân tử chất keo tích điện ở một phía của màng ngăn cách sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của các ion có kích thước nhỏ, có khả năng chui qua các lỗ của nó.
Các ion kali sau khi chui ra khỏi màng sẽ bị các anion hữu cơ hút lại nên không di được mà tạo thành một lớp cách màng khoảng 300 A lam cho bên ngoài trở nên dương tính so với bên trong. Qua sơ đồ trên hình 1.10, chúng ta có thể thấy, kích thích bất kì nào cũng có thể làm thay đổi tính thấm ban đầu của các ion natri (AgNa), làm xuất hiện sự thay đổi dòng điện natri (AI).
Như chúng ta đã biết, bất kì kích thích nào tác động lên nơron cũng làm thay đổi sự phân cực ban đầu giữa hai phía của màng tế bào. Những thay đổi đáng kể khi có kích thích sẽ làm cho các ion natri 6 ạt kéo vào bên trong tế bào để tạo ra điện thế hoạt động.
Tom lai, cơ chế truyền hưng phấn trên dây thần kinh không có màng mielin là: tạo ra các dòng điện xoáy tại vùng ranh giới của màng tại diểm nằm phía trước hướng lan truyền của xung thần kinh. Các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã cho thấy, chỉ có phần màng sau xinap của sợi cơ là nhạy cảm dối với tác động của axetincolin chứa trong các tận cùng của dây thần kinh vận động.
Bó này được tạo thành từ các sợi thần kinh của các noron nằm trong chất xám thuộc sừng sau của tủy sống có chức năng truyền thông tin về cảm giác dau và nhiệt độ. Các đường dẫn hướng tâm tới hành tủy mang thông tin từ các cơ quan cảm thụ của da mặt, niêm mạc của các màng mắt, của khoang mũi và miệng (kể cả các cơ quan cảm thụ vị giác), từ cơ quan thính giác và ốc nhĩ cũng như từ các cơ quan cảm thụ của hầu, khí quản và phổi, tim, từ vùng động mạch chủ và xoang động mạch, từ hàng loạt các thụ quan của đạ dày, gan, tuyến tụy, ruột non.
Duỗi cứng mất não là kết quả tăng hoạt động phản xạ của tủy sống và hành tủy một cách không bình thường xuất hiện dưới tác động của các xung thần kinh từ các cơ quan cảm thụ của các cơ duỗi truyền tới (Hình 2.10B). Như vậy là thụng tin về mức độ chiếu sỏng vừng mạc, cũng như cdc thong tin về các tính chất khác của ánh sáng sẽ được truyền tới vỏ bán cầu đại não qua não trung gian (thể gối bên) dưới dạng các mối tương quan nhất định về mặt cường độ hoạt động giữa các nhóm nơron khác nhau.
Rất có thể, chính các mối liên hệ này đã đảm bảo sự tham gia của vỏ limbic vào việc tổ chức hành vi về mặt cảm xúc qua việc đánh giá một cách tổng hợp tính chất cũng như tình trạng chung của kích thích. Hiển nhiên là nhờ có các mối liên hệ rộng rãi với các cấu trúc thuộc hệ cảm giác, hệ limbic làm nhiệm vụ tạo ra chất nền cho mọi hoạt động hành vi về mặt cảm xúc đối với các kích thích tác động lên cơ thể.
Khi kích thích hồi hải mã, nhiều tác giả đã cho thấy các phản ứng khác nhau xuất hiện như: phản xạ định hướng, phản xạ vận động — bảo vệ hay hiện tượng mất trương lực, phản xạ tấn công, vận động tìm tòi và các phản xạ dinh dưỡng khác. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, khi kích thích hồi vành đai sẽ xuất hiện những thay đổi về mặt dinh dưỡng như: giãn đồng tử, tăng nhịp hô hấp, xuất hiện trạng thái lo lắng bồn chồn.
Tuy các cơ quan cảm thụ có cấu tạo và chức phận vô cùng khác nhau, nhưng trong hoạt động của tất cả các cơ quan cảm thụ đều có những đặc điểm chung hoàn toàn không giống như các bộ phận khác của cơ thể cũng như của hệ thần kinh. Chính vì vậy, sự mô tả một cách toàn diện về mặt tính chất của tác nhân kích thích chỉ thực hiện được bằng cách phân bố hưng phấn trong một tập hợp các thành phần hướng tâm có tính chất khác nhau.
Trên bể mặt của hệ thần kinh trung ương, kích thước và vị trí của kích thước không nhất thiết phải giống như tại các trường thụ cảm ngoại biên. Còn các điểm cảm giác xúc giác thì phần lớn tập trung tại phần da của các đầu ngón tay, tại bể mặt lòng bàn tay của các ngón, tại gót chân, tại đầu lưỡi và một số vùng khác.
Các sợi thần kinh có liên quan với việc dẫn truyền các xung từ các cơ quan cảm thụ xúc giác và cơ sẽ đi liên tục vào cột sau của tủy sống (bó Goll và Burdack) rồi tới hành tủy. Khi phá hủy đại diện của phân tích quan da tại một điểm bên bán cầu đại não sẽ xuất hiện rối loạn các cảm giác đối với sự tiếp xúc nhẹ, với nhiệt độ và với kích thích gây đau.
Ở động vật bậc thấp có những cấu tạo đặc biệt sử dụng để tiếp nhận âm thanh đơn giản khác là “các rãnh hay các bọc thính giác”. Các bộ phận bên trên của phân tích quan thính giác có cấu tạo tương dối đơn giản và đơn điệu, nhưng cơ quan cảm thụ âm thanh thì có cấu tạo vô cùng phức tạp và rất khác nhau.
Các đường dẫn và các trung tâm thân kinh của phân tích quan thính giác Người đâu tiên nghiên cứu cấu tạo của phân tích quan thính giác về mặt tổ chức học là Ramon Kakhan (1909, 1911). Trong trường hợp chúng ta đang xét thì sự dao động kết hợp của tất cả các cấu trúc thuộc ốc nhĩ (ngoại bạch dịch, nội bạch dịch, màng reisnhcr, màng mái và các tế bào coocti) sẽ làm xuất hiện điện thế micrô.
Có thể, chính sự kết hợp của hai cơ chế này là cơ sở, cho phép tiếp nhận các âm thanh hạ tần trong dải tần số từ 50 đến 4.000 ~ 4.500 Hz cũng như tiếp nhận các âm thanh phức tạp, những tiếng động và tiếng ồn được tạo thành từ các yếu tố thành phần hạ tần. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trong quá trình tiến hóa, ở dong vật có vú trên cạn, ở loài thú, loài linh trưởng và ở người, khả năng nhạy cảm dối với các âm thanh hạ tần dưới 4.000 Hz tăng lên.
“Tất cả những diều nêu ra ở trên chứng tỏ, muốn hiểu được cơ chế xác dịnh tần số của âm thanh cần phải nghiên cứu kĩ các bộ phận, các trung khu khác nhau của phân tích quan thính giác. Vào cuối tháng thứ hai, đầu tháng thứ ba của năm tuổi đầu tiên, cơ quan cảm thụ âm thanh đã khá phát triển, đồng thời với nó, thính lực cũng phát triển theo.
Trong phần ngoại vi của phân tích quan thị giác, ngoài cơ quan cảm thụ ỏnh sỏng là vừng mạc ra, cũn cú một hệ thống cỏc mụi trường trong suốt cú khả năng khỳc xạ ỏnh sỏng nhằm tạo hỡnh ảnh rừ nột trờn vừng mạc. Hiện tượng điện xuất hiện khi có kích thích ánh sáng ghỉ dược tại tất cả các bộ phận của phân tích quan thị giác như: điện thế của cơ quan cảm thụ (điện thế của vừng mạc), diện thế của bộ phận dẫn truyền (bú thị giỏc), điện thế của bộ phận trung ương (vỏ bán cầu đại não).
Mắt chuyển động theo hướng thẳng dứng thì sẽ co các cơ thẳng giữa (chuyển động vào bên trong) và cơ thẳng bên (chuyển động ra ngoài) co. Trong trường hợp bình thường, chuyển động của hai mắt sẽ phối hợp với nhau sao cho mỗi mắt không thể chuyển động riêng rẽ được. Khi nhìn các vật ở gần, các trục thị giác sẽ hợp với nhau hay còn gọi là hiện tượng hội rụ. Hiện tượng này thực hiện được nhờ có cơ thẳng giữa co. Trong trường hợp ngược lại, khi nhìn các vật ở tương đối xa, các trục thị giác sẽ phân tán hay còn gọi là hiện tượng phân kì. Sở đĩ có hiện tượng này là do các cơ thẳng bên co. Bộ phận cơ của mắt do ba dây thần kinh diều tiết. abducens) diéu tiết các cơ thẳng ngoài của mắt, 2) thần kinh ròng rọc (+. ochlearis) điều khiển hoạt động của các cơ chéo trờn, 3) thần kinh vận nhón (w. oculứmotorius) điều khiển hoạt động của tất cả các cơ mắt còn lại. Khi hỡnh ảnh trờn vừng mạc nhỏ hơn một giới hạn nhất định và kích thích ánh sáng rơi vào hai tế bào cảm thụ ánh sáng (các tế bào hình que hay tế bào hình nón) nằm cạnh nhau trên vừng mạc thỡ hỡnh ảnh của cỏc vật sẽ chồng lờn nhau và khụng thể phõn biệt được chúng.