MỤC LỤC
Đầu vào cũng được phân biệt theo bốn nhóm: (i) học sinh (ví dụ các thông tin cơ bản về học sinh, sự hỗ trợ của gia đình, sự giáo dục của gia đình, thành tích trước đây…); (ii) lớp học (ví dụ kinh nghiệm của giáo viên, sự tận tình của giáo viên, quy mô lớp học…); (iii) trường học (ví dụ cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, tỉ lệ học sinh/giáo viên, quy mô trường…); (iv) bối cảnh (ví dụ sự thúc đẩy của cấp trên về việc đạt các chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch, yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người tham gia giáo dục.). Các chỉ số cụ thể hoá các đích thực tế (tối thiểu và khác) để đo hoặc phán xét xem các mục tiêu có đạt được hay không; đồng thời cũng cung cấp cơ sở để kiểm tra và phản hồi tới tổ chức hoặc dự án. Qui trình xác lập các chỉ số góp phần vào tính minh bạch, đồng thuận và sở hữu các mục tiêu và kế hoạch tổng thể của một tổ chức/dự án. Các chỉ số sẽ mang tính khách quan hơn nếu chúng bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và thời gian. Các hệ thống thông tin quản lý phụ thuộc vào các chỉ số. Chỉ số giáo dục là các số liệu thống kê cho phép đánh giá các khía cạnh khác nhau về chức năng của hệ thống giáo dục. Để nhấn mạnh bản chất đánh giá của những chỉ số đó, thuật ngữ “chỉ số hiệu quả hoạt động”thường được sử dụng. Định nghĩa về chỉ số giáo dục có thể bao gồm những yếu tố sau:. o Khái niệm giúp đo lường các đặc tính của hệ thống giáo dục;. o Thực hiện đo lường những ‘khía cạnh chủ chốt’, để đưa ra hiện trạng chung của. hệ thống chứ không phải miêu tả cụ thể;. o Yêu cầu các chỉ số phải cho thấy được điều gì đó về chất lượng giáo dục, có. nghĩa là các chỉ số là các số thống kê mà dựa vào đó có thể đưa ra những ý kiến đánh giá. Chỉ số có thể dựa trên số liệu thống kê đơn lẻ hoặc là kết hợp của các số liệu thống kê, ví dụ như tỉ lệ học sinh/giáo viên. Hệ thống chỉ số đa cấp còn có những yêu cầu kỹ thuật khác đi kèm, ví dụ như thu thập số liệu tại các đơn vị có mối quan hệ liên đới; lồng ghép số liệu thống kê và các dữ liệu đánh giá học sinh. Đối với hệ thống chỉ số đa cấp, cần có thêm một số kỹ năng khác bao gồm phương pháp điều tra, khảo sát và đánh giá. Các hệ thống chỉ số phải dựa trên một mô hình cụ thể của hệ thống giáo dục. Mô hình bối cảnh - đầu vào - quá trình - đầu ra là một mô hình hữu ích trong việc phân loại chỉ số giáo dục. Khi các chỉ số được xác định ở cấp độ quốc gia, chúng được coi là hệ thống chỉ số của ngành. Trong trường hợp đánh giá các cấp cùng một lúc, có thể dùng đến các loại chỉ số khác. Vì các chỉ số này cũng do cùng một đơn vị hoặc đơn vị liên quan thu thập, chúng ta gọi chúng là hệ thống chỉ số đa cấp. Các chỉ số giáo dục đưa ra bức tranh toàn cảnh về chức năng của hệ thống giáo dục. Chính phủ và các cơ quan trực thuộc là những đơn vị chính sử dụng các thông tin đánh giá. Đối với trường hợp hệ thống chỉ số đa cấp, hệ thống thông tin quản lý có thể được phản hồi xuống các cấp thấp hơn. Có thể phân loại các chỉ số theo cách dưới đây:. a) Chỉ số trực tiếp (thường mang tính chất thống kê). Những chỉ số này được dùng cho những mục tiêu liên quan đến những thay đổi có thể quan sát trực tiếp được do các hoạt động và kết quả đem lại. Chẳng hạn, nếu kết quả mong đợi là tăng số lượng cán bộ chuyên ngành nào đó trong một thời gian nhất định thì dữ liệu phải được tập hợp thường xuyên và sẵn sàng cho giám sát, đánh giá. khóa đào tạo trong lĩnh vực này theo chu kỳ kết thúc khóa học. b) Chỉ số gián tiếp hoặc còn gọi là chỉ số đại diện dùng để thay thế hoặc bổ sung cho chỉ số trực tiếp trong trường hợp nếu việc đạt mục tiêu không thể trực tiếp quan sát được (ví dụ mục tiêu là tăng cường năng lực quản lý) hoặc chỉ có thể đo trực tiếp được với giá thành cao hoặc chỉ có thể đo được sau một thời gian dài vượt quá thời lượng của chương trình/dự án (ví dụ các kỹ thuật tập huấn được người học ứng dụng hiệu quả trong thực tế).
Các mối quan tâm chính về thanh tra liên quan đến những thách thức, vấn đề trách nhiệm, nhiệm vụ của công tác thanh tra trường học, sự quốc tế hóa công tác thanh tra với vai trò là một lĩnh vực chuyên môn; sự quốc tế hóa các kết quả đầu ra của công tác thanh tra. Cần có các nghiên cứu sâu hơn liên quan tới số lượng và chất lượng của những cải cách đang được xây dựng trong khuôn khổ lớp học, và liệu bản chất hiện nay của hoạt động giám sát và thanh tra có thể hỗ trợ thành công cho các thử nghiệm và những năng lực cần thiết để lôi cuốn học sinh vào việc học tập hữu ích.
(ii) nhu cầu học tập; ví dụ: liệu cha mẹ học sinh có muốn cho con đến trường học không?; (iii) mức độ quan tâm của cộng đồng đối với nhà trường; ví dụ: chính quyền địa phương quan tâm đến các điều kiện làm việc của giáo viên như thế nào, (iv) sự tham gia của cha mẹ học sinh vào các hoạt động trong trường; ví dụ mức độ tham gia của phụ huynh vào các cuộc họp bàn về các hoạt động của trường (quá trình giảng dạy và học tập, các hoạt động ngoại khóa và hoạt động hỗ trợ). Ví dụ: (i) các nguồn lực tài chính của trường; ví dụ như mức chi tiêu thường xuyên tính theo đầu học sinh; (ii) số lượng và trình độ đào tạo cũng như kinh nghiệm sư phạm của giáo viên; ví dụ như tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn, dưới chuẩn hoặc trên chuẩn của một trường; (iii) quy mô lớp học; tính bằng trung bình số học sinh của một lớp; (iv) số cán bộ quản lý và nhân viên hành chính trong trường; (v) các phương tiện dạy học và thiết bị của trường; (vi) cơ sở vật chất trường học.
-Đánh giá mật độ trường, điểm trường và phương tiện đến trường của HS để quy hoạch mạng lưới trường lớp học. - Thu thập dữ liệu về quãng đường và phương tiện đi từ nhà đến trường của HS.
- Là các hoạt động giao lưu, hợp tác đào tạo, mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm giáo dục, học tập các sáng kiến quốc tế, tạo điều kiện hội nhập các chuẩn chất lượng giáo dục quốc tế, mở rộng tầm hiểu biết cho CBGV và huy động thêm nguồn lực cho nhà trường nói. - Đánh giá năng lực của GV và HS với giả định rằng việc trao đổi các hoạt động giáo dục với nước ngoài đòi hỏi GV, HS phải phấn đấu đạt các chuẩn chất lượng cao hơn chuẩn quốc gia.
- Thông qua những đóng góp về nhân lực, tài chính và vật chất của cộng đồng và của phụ huynh HS để đánh giá mức độ quan tâm của cộng đồng xã hội và phụ huynh HS dành cho giáo dục, với giả sử. - Là khả năng tham gia vào quá trình tổ chức giáo dục, giám sát việc thực hiện và tuyên truyền, quảng bá về các thành tựu cũng như hỗ trợ tháo gỡ các.
Kế hoạch chiến lược cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược thành các mục tiêu cụ thể, thực hiện trong những mốc thời gian cụ thể, với các nguồn lực được xác định, nhằm hoàn thành mục tiêu chiến lược. Là toàn bộ những hoạt động mà bộ phận dự định thực hiện trong năm học, được dự tính chi tiết theo trình tự thời hạn, nguồn lực cần có, người thực hiện, người phối hợp, kết quả dự kiến, các giả định và rủi ro, biện pháp giảm thiểu các rủi ro.
Định mức ngân sách chi không thường xuyên (theo đầu HS. Đánh giá việc đầu tư thêm ngoài ngân. thường xuyên tính theo định. - Tổng số kinh phí chi không thường xuyên do ngân sách cấp/ tổng số HS. - Số liệu lấy từ các quyết định giao chỉ. hoạch hàng năm. vực chí dụng đo lường hỗ trợ thông tin đầu học sinh trong năm. mức HS để hỗ trợ, bổ sung. nguồn kinh phí chi thường xuyên để giải. chương trình, dự án có mục tiêu hoặc đầu tư thêm CSVC- KT cho nhà trường. Các nguồn kinh phí xã hội hóa giáo dục. hóa ..) cho quá trình vận hành của nhà trường. - Thống kê các đóng góp về tài chính của các cá nhân, tổ chức và dự án cho nhà trường (biểu đồ). - Phỏng vấn HT, GV và các tổ chức liên quan. - Hồ sơ lưu của trường. - Điều tra xã hội học. V.EMIS Phân hệ QLTC, tài sản, CSVCTB. - Cung cấp mẫu phiếu điều tra. Mức độ tăng về cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Hệ thống CSVC-KT đạt chuẩn hoặc cao hơn chuẩn sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy- học, nâng cao hiệu quả của quá. - Đánh giá hệ thống CSVC- KT hiện có và đối chiếu với các qui định hiện hành để biết mức độ đạt chuẩn/trên chuẩn/dưới chuẩn yêu cầu. - Kiểm tra công nhận. CSVC-KT của trường đạt chuẩn quốc gia. - Kiểm tra công nhận phòng bộ môn đạt chuẩn,. Các cơ quan quản lý xem xét, kiểm tra và công nhận. V.EMIS Phân hệ quản lý tài chính tài sản, CSVCTB. vực chí dụng đo lường hỗ trợ thông tin trình đào. chế công nhận phòng bộ môn đạt chuẩn, thư. chuẩn), từ đó xây dựng kế hoạch/dự án phát triển.
Hệ thống Quản lý theo Kết quả (QLTKQ) hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở cả các nước phát triển và đang phát triển, ở cả các tổ chức công và tư, trong nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành giáo dục. Hệ thống QLTKQ được xây dựng theo triết lý chú trọng vào kết quả dự kiến đã được đặt ra trong kế hoạch, vào quá trình thực hiện, học hỏi và vào trách nhiệm giải trình. Cụm từ “kết quả”được hiểu theo nghĩa rộng, không đơn thuần là các sản phẩm đầu ra mà phải bao gồm cả kết quả thực hiện mục tiêu, kết cục và các tác động có được. Hệ thống QLTKQ được xây dựng trên nguyên tắc qui tụ đội ngũ cán bộ của toàn tổ chức theo một tầm nhìn và sứ mạng có sức thôi thúc với toàn bộ đơn vị; đồng thời, thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và thể chế hóa tính trách nhiệm cho mọi cấp, từ cá nhân đến bộ phận và đến toàn bộ tổ chức. HTQLTKQ được định nghĩa là một cách tiếp cận có tính hệ thống nhằm nâng cao kết quả hoạt động của một đơn vị, thông qua quy trình gồm 5 bước sau:. 1) Định rừ tầm nhỡn và sứ mạng của đơn vị; trờn cơ sở đú xỏc lập cỏc mục tiờu. thực hiện có tính chiến lược;. 2) Xác định các quy trình đánh giá kết quả hoạt động;. 3) Thu thập dữ liệu về kết quả hoạt động;. 4) Báo cáo, phân tích và đánh giá dữ liệu về kết quả hoạt động;. 5) Sử dụng những hiểu biết thu được để liên tục hoàn thiện phương pháp quản lý. Kế hoạch tập hợp dữ liệu cần chỉ rừ những điều sau: (i) yờu cầu về thụng tin, thiết lập mối quan hệ rừ ràng giữa cỏc mục tiờu kết quả hoạt động của tổ chức và thụng tin được nhắm tới; (ii) quy trình tập hợp dữ liệu, chi tiết hóa các loại hình dữ liệu, ngày và/hoặc tần suất tập hợp, các phương pháp tập hợp và phân tích; (iii) tần suất báo cáo, quan tâm đến chi phí tập hợp và xử lý dữ liệu so với nhu cầu kết quả đánh giá kịp thời;[9](iv) chi phí tập hợp dữ liệu, lưu ý đến tầm quan trọng của dữ liệu có chất lượng theo tính tinh vi của hệ thống thông tin của tổ chức, nhưng luôn phải lưu ý rằng thiết lập một hệ thống đánh giá kết quả hoạt động với các dữ liệu kém là điều vô nghĩa đối với tổ chức, nếu như không nói là có hại; (v) các điều khoản về tính bí mật, hoạch định các biện pháp bảo vệ những thông tin nhạy cảm của tổ chức và cá nhân, tiêu biểu là tạo ra các tầng nấc cung cấp thông tin, từ mức có thể công bố với công chúng đến các mức độ giới hạn cho từng cấp độ quản lý.
Hiệu trưởng tuyên truyền những mong đợi cao của nhà trường và xã hội về kết quả dạy và học của thầy trò nhà trường; duy trì và đổi mới các hình thức tuyên dương, khích lệ kịp thời các tập thể và cá nhân hoàn thành nhiệm vụ; đảm bảo các cơ hội cộng tác tích cực giữa các bên liên quan và công nhận những nỗ lực của các nhà bảo trợ/đầu tư (nếu có) trong việc cải thiện tình hình học tập và phát triển nhà trường. Để giúp cán bộ tự đánh giá chính xác, bạn không thể chỉ dựa vào những gì cán bộ tự nhận thấy và xem kỹ biên bản họp của các bộ phận (hoặc phiếu đánh giá cá nhân) để nắm bắt tư tưởng cán bộ và ý kiến của những người đồng nghiệp đánh giá họ, quan trọng hơn, bạn phải phân tích được (một cách thuyết phục) về những điểm yếu hoặc khoảng trống của từng cán bộ trong một tầm nhìn phát triển, rằng nếu các khoảng trống và điểm yếu này được khắc phục thì cùng với các điểm mạnh hiện thời, họ sẽ trở thành những cán bộ hoàn thiện.