Quy Trình Sản Xuất Đường Của Công Ty Ben Tre

MỤC LỤC

Qui trình hoạt động của công đoạn cẩu - cán ép

Các thiết bị chính trong khâu cán ép : 1. Bàn lùa

Dao chặt

Dao chặt được lắp cố định trên băng tải mía và có chiều quay ngược chiều với băng tải (chỉ có dao sơ bộ là quay cùng chiều với băng tải), mía đi từ ngoài vòng vào trong được dao chặt đánh lên và va đập vào các đe cuốn ra phía sau băng tải. Dao chặt II có nhiều lưỡi dao khác dao chặt I vì sau khi mía được xé sơ bộ ở dao chặt I, khi qua dao chặt II sẽ được đánh tơi kỹ hơn nhằm nâng cao hiệu suất ép khi vào máy ép.

THIẾT BỊ DAO CHẶT II

CễNG ĐOẠN HểA CHẾ

    Qui trình hoạt động của công đoạn hoá chế

      Loại bỏ được không khí trong nước mía, làm mất lớp nước của các chất keo ưa nước và tạo điều kiện thuận lợi cho keo dễ dàng ngưng tụ, làm giảm độ nhớt khi tăng nhiệt độ, giảm bớt sự tạo bọt, ngăn ngừa hoạt động của vi sinh vật. Nước mía hỗn hợp được đưa qua gia nhiệt 1 để đạt nhiệt độ 60-650C, ở nhiệt độ này có tác dụng hạn chế vi sinh vật phát triển và giúp cho quá trình hấp thụ SO2 ở công đoạn sau được tốt hơn. Mục đích: Trung hoà vôi dư trong nước mía đưa pH của nước mía hỗn hợp về điểm ngưng tụ các chất keo (pH =7) và làm cho SO2khuếch tán vào trong dung dịch mía tạo kết tủa CaSO4, CaSO3 có khả năng hấp thụ các chất keo, màu, chất không đường và tạp chất lơ lửng cùng kết tủa, nâng cao hiệu quả làm sạch.

      Nếu chất lượng S không tốt, S bị ẩm nên khi đốt ở nhiệt độ cao và có nhiều không khí thì thường sinh khí SO3 gặp H2O tạo tinh thể H2SO4 ăn mòn và làm thủng các đường ống. Và một phần tạo kết tủa CaSO4 đóng trên các đường ống rất khó thông vì kết tủa này rất cứng.

      THÁP XÔNG SO 2

      • Các thiết bị trong công đoạn hoá chế

        Sau gia nhiệt II, dung dịch nước mía được bơm qua bồn tiền lắng nhằm mục đích làm giảm tốc độ của dòng chảy để tránh hiện tượng bùn khuấy lên ở thiết bị lắng đồng thời loại bỏ một phần cặn có kích thước lớn. Nước mía từ ngăn phân phối vào ống trung tâm hơi được tản lên phía trên của ống trung tâm làm nhiệt độ nước mía trong bồn lắng khoảng 98 - 105 0C thích hợp cho quá trình lắng do ở nhiệt độ này độ nhớt giảm, vì độ nhớt cao sẽ gây khó khăn cho quá trình lắng. Từ gia nhiệt III nước mía vào hệ thống bốc hơi (áp lực, chân không) 5 hiệu để đưa nước mía có nồng độ từ 13-15% nâng lên 55-60% nhằm thuận lợi cho quá trình nấu đường và tạo hơi thứ cho các nồi sau và các công đoạn tiếp theo như gia nhiệt, nấu đường.

        Hơi thứ của hiệu I dùng làm hơi đốt cho hiệu II, hơi thứ hiệu II dùng làm hơi đốt cho hiệu III, hơi thứ hiệu III dùng làm hơi đốt cho hiệu IV, hơi thứ hiệu IV dùng làm hơi đốt cho hiệu V ,hơi thứ hiệu cuối được dẫn vào hệ thống ngưng tụ. Ở mỗi ngăn lắng có thanh gạt bùn được gắn với ống trung tâm để gạt bùn vào ống bao ngoài ống trung tâm nhưng bùn này không hòa lẫn vào nước mía vì ống phân phối nước mía xuyên qua ống lấy bùn.

        THIẾT BỊ LẮNG CHÌM

        Thiết bị cô đặc

        Thiết bị còn có thêm các đường ống dẫn nước vào, đường ống tháo nước ngưng tụ ở đáy buồng đốt, đường ống thóat khí không ngưng nằm ở đỉnh buồng đốt. Thân thiết bị có lắp các mặt kính tròn dùng để quan sát mực dung dịch bên trong thiết bị, ngoài ra cũn cú cỏc ỏp kế, nhiệt kế để theo dừi cỏc thụng số cụng nghệ. Hơi đốt cung cấp cho hiệu I được lấy từ tuabin, hơi thứ hiệu I được dùng làm hơi đốt cho hiệu II, hơi thứ hiệu II làm hơi đốt cho hiệu III, tiếp như vậy cho đến hiệu V, hơi thứ hiệu V được đưa đến tháp ngưng tụ tạo chân không.

        Nước ngưng hai nồi đầu có ít nhiễm đường nên đưa qua lò hơi sử dụng, còn những nồi sau chứa nhiều đường nên sử dụng cho các công đoạn khác. Nồng độ dung dịch càng tăng dần về sau tương ứng với sự tăng dần áp suất chân không nên tránh được sự phân hủy đường, cháy đường sinh ra màu.

        THIẾT BỊ BỐC HƠI

        Thiết bị được thiết kế có ống dẫn nước mía vào ở phía trên, còn khí SO2 được dẫn vào phía dưới hệ thống phun nước mía. Phía dưới có ống dẫn nước mía khi xông xuống và ở dưới ống này có gắn một thiết bị dạng hình nón. Trên thiết bị hình nón có khoan các lỗ phun nước chè sau khi xông vào nước vôi trong để trung hòa với sữa vôi.

        Ngoài ra có ống dẫn sữa vôi vào trung hòa và ống dẫn nước chè sau khi trung hòa ra ngoài. Nước mía được bơm vào và đi từ trên xuống, nước mía được dưa vào các péc phun vào khoang hút.

        Hình dạng và nguyên tắc làm việc giống như paromet.
        Hình dạng và nguyên tắc làm việc giống như paromet.

        CÔNG ĐOẠN NẤU ĐƯỜNG

        • Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
          • Quy trình hoạt động của công đoạn nấu đường
            • Các thiết bị trong công đoạn nấu đường

              Chất tẩy màu Na2S2O4 chủ yếu dùng để nấu đường A với mục đích tăng cường độ lóng lánh và giảm bớt độ màu sản phẩm. Khi làm việc dung dịch ở trong ống truyền nhiệt tạo thành hỗn hợp hơi lỏng, còn trong ống trung tâm và khoảng không gian tuần hoàn ngoài thì thể tích của dung dịch trên một đơn vị bề mặt truyền nhiệt lớn hơn so với ở ống truyền nhiệt. Vì vậy, có sự chuyển động từ trên xuống dưới ở trong ống tuần hòan ngoài, còn trong ống truyền nhiệt thì dung dịch đi từ dưới lên sau đó đi vào giữa và ra ngoài.

              Quá trình tuần hoàn tự nhiên được tiến hành liên tục cho đến khi nào nồng độ dung dịch đạt yêu cầu thì mở van thủy lực ở đáy để tháo dung dịch xuống trợ tinh. Khi tháo liệu thì đóng tất cả các van lại, mở van phá chân không để áp suất bên trong và bên ngoài cân bằng nhau mới tháo liệu được.

              THIẾT BỊ NẤU ĐƯỜNG TUẦN HOÀN TRUNG TÂM

              Cấu tạo trợ tinh đứng: Hình trụ, bên trong có 2 ống xoắn dẫn nước lạnh và nước nóng. Hoạt động trợ tinh ngang và đứng tương tự nhau, chủ yếu dựa vào cánh khuấy để làm nguội đồng đều lượng đường non có trong thùng trợ tinh để giúp kết tinh đường nhiều hơn. Cánh khuấy giúp cho mẫu dịch trong đường non được liền nhau, tránh tạo tinh thể giả, cánh khuấy quay với tốc độ 0.5 vòng/phút.

              CÔNG ĐOẠN LY TÂM THÀNH PHẨM

              • Quy trình hoạt động của công đoạn ly tâm thành phẩm
                • Các thiết bị trong công đoạn ly tâm, thành phẩm

                  Đáy máy được đậy bằng chóp nón gắn với trục quay nằm trên giá đỡ, có tác dụng đóng mở cửa tháo liệu, giúp nguyên liệu đi vào được phân phối đều ra xung quanh. Ngoài ra, trên máy ly tâm còn có hệ thống dẫn hơi nước và nước nóng để rửa đường, trong máy ly tâm A còn có hệ thống máng phân mật A1, A2. Khi đường xả xuống đầy thùng thì đậy nắp thùng lại và mở công tắt để tăng tốc trục quay nhằm tạo ra mật nguyên A1.

                  Sau rửa mật nguyên là rửa mật loãng A2 bằng cách phun nước nóng để rửa mật và lúc này máng phân mật cũng được chuyển sang máng mật loãng. Xả hết đường trong thùng xuống sàn rung, sàn sấy thì tiếp tục mở máng đường non A xuống máy và chuyển máng phân mật sang thùng mật A1 để tiến hành ly tâm mật tiếp theo.

                  THIẾT BỊ LY TÂM GIÁN ĐOẠN

                  Thiết bị ly tâm liên tục

                  Đường non đi vào qua ống nhập liệu xuống rổ quay, khi rổ quay quay, mật đi qua lỗ lưới lót và lổ lưới ly tâm ra ngoài rổ quay, còn tinh thể đường thì dính trên thành rổ quay và nhờ vào lực ly tâm và độ nghiêng của thành rổ quay mà đường được đẩy ra đi lên từ từ tràn qua thành rổ quay ở phía trên và đi qua thùng chứa đường. Sàn là một máng rung bằng kim loại, ghép lên nhiều thanh rung nghiêng bằng gỗ, có đệm ở hai đầu bằng cao su. Chuyển động rung của sàn sẽ giúp cho các hạt đường tách rời nhau và tạo trạng thái giống như tầng sôi giúp hạt đuờng khô đều.

                  Cho hệ thống hoạt động trong trời gian 5 phút, thông báo đến bộ phận ly tâm đường A, cấp đường thành phẩm. Trong trường hợp có 3 máy ly tâm hoạt động thì cho hoạt động máy khỏa bằng.

                  THIẾT BỊ SÀN RUNG

                  Thiết bị tạo chân không

                  Ở gần cuối sàn có các nam châm để tách các kim lọai còn lẫn trong đường. Thân thùng buồng phun, tâm phun, miệng phun, vòng hơi, buồng hợp, ống nén, ống khuếch tán, ống đuôi. Nước lạnh được bơm đầy vào buồng phun đi qua nhiều miệng phun xếp hàng, có một độ nghiêng nhất định.

                  Nước được bơm vào buồng phun với sức nén ở áp suất cao vào các miệng phun, do tiết diện bị thu nhỏ ở miệng phun, áp suất trở thành động năng, nước lạnh phun ra với tốc độ cao 20-25m/s và hội tụ ở 1 tiêu điểm.Nước phun có tốc độ cao nên tạo được chân không rồi hút hơi nước đường vào và ngưng tụ. Hơi thứ đi vào tiếp xúc trực tiếp với nước.Hơi ngưng tụ và hơi chưa ngưng tụ kịp bị dòng nước phun tốc độ cao cuốn đi vào cổ họng qua ống khuếch tán, tốc độ giảm xuống và áp xuất tăng lên, chảy xuống đuôi ống và thải ra ngoài với áp suất cao hơn áp suất bên ngoài một chút ít.