Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Dệt may Việt Nam hội nhập WTO

MỤC LỤC

Các cam kết khi gia nhập WTO có ảnh hường tới SMEs DMVN

Giới thiệu chung về WTO

WTO là tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi hiệp định chung về thương mại và thuế quan-GATT 1947(chỉ giới hạn về thương mại hàng hóa) và là kết quả trực tiếp của “Vòng đàm phán URugoay”(bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư).  Nguyên tắc đối xử quốc gia(NT): nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước thành viên phải đối xử hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước thành viên khác(sau khi đã hoàn tất các thủ tục thuế quan) không kém thuận lợi hơn hàng hóa dịch vụ nội địa của mình. Theo nguyên tắc này, các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm dần thuế quan và chỉ sử dụng hệ thống thuế quan này để bảo vệ sản xuất trong nước, phải bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan(hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu).trừ một số trường hợp hạn hữu được phép.

Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không đựơc áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi vào WTO (riêng trường hợp ta vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể biện pháp trả đũa nhất định). Không có lộ trình cho việc cắt giảm: Việt Nam phải cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may xuống mức cuối cùng ngay khi Việt Nam gia nhập WTO(ngày 11/1/2007) trong khi lộ trình cắt giảm thuế quan đối với các hàng hóa khác thường là từ 5-7 năm;. Mức cắt giảm thuế cao: hàng dệt may có mức cắt giảm thuế nhập khẩu cao nhất trong toàn bộ Biểu cam kết về cắt giảm thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa, trong đó có nhóm hàng giảm thuế nhiều nhất là xơ, sợi, vải, quần áo, đồ may sẵn.

Tuy nhiên mức cam kết này vẫn là thấp so với các cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may trong các cam kết tự do hóa thương mại mà Việt Nam đã ký kết và đã thực hiện theo lộ trình( khu vực mậu dịch tự do ASEAN- AFTA; khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc ACFTA; khu vực mậu dịch tự do ASEAN- HÀn Quốc AKFTA). Về việc mua bán trên thị trường: theo nguyên tắc Đối xử quốc gia(NT), hàng dệt may Việt Nam khi nhập khẩu vòa một nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình đẳng với hàng Dệt may nội địa của họ(về thuế, lệ phí, phí, các quy định liên quan đến việc bán hàng, cạnh tranh…).

Bảng 1: Cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với hàng DMVN
Bảng 1: Cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với hàng DMVN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC SME DỆT MAY VIỆT NAM

  • Mục tiêu

    Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các SME Dệt may Việt Nam

    • Các nhóm giải pháp dành cho đối với các SMEs DMVN 1 Giải pháp về vốn

      Với số lượng nhiều daonh nghiệp như vậy sẽ tạo ra cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, có như vậy thì SMEs mới thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, liên tục cải tiến mẫu mã sản phẩm từ đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp mình. Dệt may Việt nam là một ngành công nghiệp truyền thống, ngành trọng điểm đối với nền kinh tế hơn thế nữa Việt Nam có những điều kiện về thiên nhiên, khí hậu, xã hội chính trị ổn thuận lợi cho việc đầu tư phát triển SMEs Dệt may. Bởi vì, nhận được sự đầu tư đó không đơn thuần chỉ là nhân được sự đầu tư về vốn mà còn học hỏi được về phương thức quản lý, sản xuất kinh doanh, học hỏi được các công nghệ hiện đại, các tác phong làm việc công nghiệp hiệu quả và chính xác.

      Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu này thì SMEs DMVN nói riêng và ngành DMVN nói chung cần phải có những chiến lược kế hoạch dài hạn đầu tư vào việc xây dựng để phát triển các vùng nguyên phụ liệu đáp ứng nhu cầu sản xuất. Để có thể đầu tư phát triển các vùng nguyên phụ liệu thì các SMEs DMVN cần phải xác định các vùng nguyên vật liệu quan trọng có tiềm năng để tập trung đầu tư và đồng thời khai thác thêm các vùng nguyên liệu mới. Đó là sự hỗ trợ về vốn, về các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây trồng, hỗ trợ về phân bón,…những biện pháp hỗ trợ này có thể tăng năng suất cây trồng vào tạo mối liên kết giữa nhà sản xuất với những người dân tại vùng nguyên liệu.

      Một hệ thống thiết bị máy móc hiện đại đuổi kịp với trình độ công nghệ của thế giới và công nghệ tiên tiến với trình độ khoa học kỹ thuật là mục tiêu mà các SMEs DMVN cần phải đạt tới mới có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. So với sản phẩm của SMEs Trung Quốc thì có thể thấy rằng sản phẩm của SMEs DMVN còn chưa được hấp dẫn đối với người tiêu dùng, chính điều này đã làm giảm năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm SMEs DMVN ngay ở thị trường trong nước. Phân đoạn thị trường sản phẩm dựa vào các đối tượng khách hàng mà SMEs DM hướng đến: đối tượng khách hàng ở khu vực nông thôn có thu nhập thấp, đối tượng khách hàng ở khu vực thành thị có thu nhập cao hơn; đối tượng khách hàng là thanh niên giới trẻ và người trung niên, là phụ nữ và trẻ em,… Mỗi đối tượng khách hàng sẽ có những yêu cầu đối với sản phẩm là khác nhau, do vậy phải có chiến lược sản xuất sản phẩm khác nhau.

       Đẩy mạnh khâu quảng cáo đến tất cả các đối tượng khách hàng trên các phương tiện thông tin, đối với thị trường này cần phải giúp khách hàng có thể hiểu rằng “Người Việt Nam sử dụng hàng Dệt may Việt Nam”.Do vậy, có thể nhận định rằng thời gian tới khai thác thị trường tiềm năng trong nước là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với SMEs Dệt may. Tập trung khai thác thế mạnh là hàng chất lượng cao để tăng giá trị gia tăng, giao hàng đúng hạn, đáp ứng cả những đơn hàng với số lượng ít và nhất là đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn về môi trường, quan hệ lao động hài hòa… là những lợi thế mà SMEs DMVN có thể giữ chân được khách hàng truyền thống. Đối với thị trường này cần phải tích cực tìm hiểu thị trường để từ đó giới thiệu sản phẩm tới các thị trường này.Thị trường mới hiện nay đó là thị trường Nga, Châu phi, Trung Đông đây là những thi trường tiềm năng quan trọng có dân số đông, với mức thu nhập trung bình và yêu cầu kỹ thuật không thật sự khắt khe như Mỹ, EU, Nhật.

      Ngoài ra SMEs cần phải tham gia các hội chợ thương mại quốc tế của ngành Dệt may phạm vi khu vực và thế giới để có thêm cơ hội được học hỏi kinh nghiệm sản xuất, trình độ công nghệ và ký các hợp đồng các đơn đặt hàng cũng như các đối tác về cung cấp nguyên phụ liệu phục vụ cho quá trình sản xuất. Liên kết giữa các SME DM có cùng quy mô công nghệ, quy mô sản xuất trên cùng một địa bàn, thì việc chia sẻ đầu tư các yếu tố đầu vào (lao động, máy móc, nhà xưởng, nguyên liệu may mặc, phụ kiện) sẽ giảm rất nhiều gánh nặng cho mỗi doanh nghiệp và năng lực sản xuất của các thành viên cũng có thể đáp ứng được các đơn hàng lớn hơn. Nếu CSTK thể hiện ở việc hỗ trợ SMEs DM trong việc miễn giảm thuế, hỗ trợ cho SMEs về mặt bằng sản xuất kinh doanh thông qua việc hỗ trợ lãi suất hoặc bảo lãnh tín dụng thì đồng thời phải nới lỏng trong CSTT thì mới có hiệu quả.