Cục Quản lý Tài nguyên Nước là cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về công tác quản lý tài nguyên nước và các vấn đề liên quan. Cục có tên giao dịch tiếng Anh là Department of Water Resources Management, viết tắt là DWRM.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
- -QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUAN TRẮC, GIÁM SÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC
(Điều 28 – Luật Tài Nguyên Nước số 17/2012/QH13)
Trang 2MỤC LỤC 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
Chương 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Các khái niệm 4
1.2 Tổng quan điều 28 – Luật Tài Nguyên Nước số 17/2012/QH13: Quan trắc, giám sát tài nguyên nước 4
1.3 Tổng quan tài nguyên nước của Việt Nam: 5
1.4 Những vấn đề chủ yếu về tài nguyên nước của Việt Nam 6
Chương 2: QUAN TRẮC VÀ GIÁM SÁT TÀI NGUYÊN NƯỚC 10
2.1 Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia; 10
2.2 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước nội tỉnh; 17
2.3 Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước có trách nhiệm quan trắc, giám sát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thải của mình theo quy định 22
2.4 Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể việc quan trắc, giám sát tài nguyên nước 26
Chương 3: KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Lưu vực sông Mê Công 11Hình 2.2: Xả nước thải ô nhiễm ở thượng nguồn sông Hồng 13Hình 2.3: Hiện trạng khai thác nước ngầm toàn quốc 15Hình 2.4: Đường ống xả thải ngầm của Formosa xuống biển đã được các ngư dân lặn xuống biển chụp, sau nghi vấn nhà máy này có liên quan đến việc cá chết hàng loạt 17Hình 2.5: Trạm quan trắc số nước mặt tự động số 4 – Sở Tài Nguyên Môi Trường Tỉnh Đồng Nai theo dõi diễn biến chất lượng nước 24/24 18Hình 2.6: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng khảo sát tình hình khai thác, sửdụng nước ngầm nuôi trồng thủy sản tại Vĩnh Châu 19Hình 2.7: Cảnh sát môi trường khám nghiệm khu vực bị xả nước thải không được cấp phép ra môi trường 21Hình 2.8: Thiết bị quan trắc nước thải tự động 24
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước đã trở thành tài nguyên chiến lược thứ hai sau tài nguyên con người, là tưliệu quan trọng hàng đầu trong hoạt động sản xuất, không có nước thì không thể pháttriển kinh tế và ổn định xã hội Chúng ta cần nước cho sức khỏe, cho an ninh lươngthực và là chìa khóa cho sự phát triển bền vững Nhận định được sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế, Liên Hiệp Quốc đã tiến hành ước tính về nhu cầu sử dụng nước,Thế Giới sẽ cần thêm 30% nước sạch so với nhu cầu hiện tại vào năm 2030 và đến44% vào năm 2050 Tuy nhiên, nguồn nước, cả nước mặt và nước dưới đất đều bị suythoái và ngày càng ô nhiễm và tổng lượng nước khai thác trên Thế Giới chỉ tăng trên1% mỗi năm Đó là những con số rất đáng báo động
Khi đã xác định được nước là tài nguyên chiến lược đảm bảo phát triển bềnvững quốc gia và và thực trạng hiện tại của nguồn nước Việc phân bổ trách nhiệmquan trắc, giám sát về số lượng, chất lượng nguồn nước để hỗ trợ cho hoạt động khaithác, sử dụng tài nguyên nước là điều tất yếu Đồng thời, để thực hiện được vấn đề trêncần có những quy định cụ thể về việc quan trắc, giám sát tài nguyên nước và được thể
hiện rõ qua Điều 28 – Luật Tài Nguyên Nước số 17/2012/QH13.
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Các khái niệm
Quan trắc là việc theo dõi có hệ thống các thành phần môi trường, kiểm soátchất lượng, cung cấp thông tin số liệu quan trắc một cách tin cậy có độ chính xác caothông qua quá trình đo đạc để đánh giá diễn biến chất lượng nhằm phục vụ côngtác quản lý và bảo vệ bền vững
Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơquan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật vềviệc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu,kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
Nguồn nước liên tỉnh là nguồn nước phân bố trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương trở lên
Nguồn nước nội tỉnh là nguồn nước phân bố trên địa bàn một tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương
Nguồn nước liên quốc gia là nguồn nước chảy từ lãnh thổ Việt Nam sang lãnhthổ nước khác hoặc từ lãnh thổ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nguồn nướcnằm trên đường biên giới giữa Việt Nam và quốc gia láng giềng
1.2 Tổng quan điều 28 – Luật Tài Nguyên Nước số 17/2012/QH13: Quan trắc, giám sát tài nguyên nước
Trách nhiệm quan trắc, giám sát tài nguyên nước được quy định như sau:
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quan trắc, giám sát về sốlượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nướcthải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quan trắc, giám sát về số lượng,chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thảivào nguồn nước đối với các nguồn nước nội tỉnh;
Trang 6c) Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồnnước có trách nhiệm quan trắc, giám sát việc khai thác, sử dụng nước và xả nước thảicủa mình theo quy định
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể việc quan trắc, giám sát tàinguyên nước
1.3 Tổng quan tài nguyên nước của Việt Nam:
Nước Việt Nam ta có 108 lưu vực sông với khoảng 3450 sông, suối tương đốilớn (chiều dài từ 10km trở lên), trong đó có 9 hệ thống sông lớn (diện tích lưu vực lớnhơn 10.000km2), bao gồm: Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - Kỳ Cùng, Mã, Cả, Vu Gia
- Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và sông Cửu Long Tổng lượng nước mặt trung bình hằngnăm khoảng 830-840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nướcngoài, chỉ có khoảng 310-320 tỷ m3 được sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam Lượngnước bình quân đầu người trên 9.000 m3/năm Nước dưới đất cũng có tổng trữ lượngtiềm năng khoảng 63 tỷ m3/năm, phân bố ở 26 đơn vị chứa nước lớn, nhưng tập trungchủ yếu ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên
Về hồ chứa, có khoảng 2.900 hồ chứa thủy điện, thủy lợi tương đối lớn (dungtích từ 0,2 triệu m3 trở lên) đã vận hành, đang xây dựng hoặc đã có quy hoạch xâydựng, với tổng dung tích các hồ chứa trên 65 tỷ m3 Trong đó, có khoảng 2.100 hồđang vận hành, tổng dung tích hơn 34 tỷ m3 nước; khoảng 240 hồ đang xây dựng, tổngdung tích hơn 28 tỷ m3, và trên 510 hồ đã có quy hoạch, tổng dung tích gần 4 tỷ m3.Các hồ chứa thủy điện mặc dù với số lượng không lớn, nhưng có tổng dung tíchkhoảng 56 tỷ m3 nước (chiếm 86% tổng dung tích trữ nước của các hồ chứa) Trongkhi đó, trên 2000 hồ chứa thủy lợi nêu trên chỉ có dung tích trữ nước khoảng gần 9 tỷ
m3 nước, chiếm khoảng 14% Các lưu vực sông có dung tích hồ chứa lớn gồm: sôngHồng (khoảng 30 tỷ m3); sông Đồng Nai (trên 10 tỷ m3); sông Sê San (gần 3,5 tỷ m3);sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vũ Gia - Thu Bồn và sông Srêpok (có tổng dungtích hồ chứa từ gần 2 tỷ m3 đến 3 tỷ m3)
Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 81 tỷ m3, xấp
xỉ 10% tổng lượng nước hiện có trung bình hàng năm của cả nước Trong đó, lượngnước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7 - 9 tháng mùa cạn, khi mà dòng chảy trên hệ
Trang 7thống sông đã bị suy giảm và với tổng lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng 20% 30% (khoảng 160 - 250 tỷ m3) so với lượng nước của cả năm.
-1.4 Những vấn đề chủ yếu về tài nguyên nước của Việt Nam
Nếu chỉ xét riêng tổng lượng nước hằng năm của cả nước, có thể lầm tưởngrằng Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước dồi dào Tuy nhiên, xét theo đặc điểmphân bố lượng nước theo thời gian, không gian cùng với đặc điểm phân bố dân cư,phát triển kinh tế, mức độ khai thác, sử dụng nước có thể thấy rằng TNN của nước tađang phải chịu rất nhiều sức ép, tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong việc bảo đảm an ninhnguồn nước quốc gia Điều đó được thể hiện trên một số mặt sau:
- Một là, nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài Gần2/3 lượng nước của nước ta là từ nước ngoài chảy vào Những năm qua các nước ởthượng lưu đang tăng cường xây dựng các công trình thủy điện, chuyển nước và xâydựng nhiều công trình lấy nước, gây nguy cơ nguồn nước chảy về nước ta sẽ ngàycàng suy giảm và Việt Nam sẽ khó chủ động được về nguồn nước, phụ thuộc nhiềuvào các nước ở thượng lưu
Theo số liệu phân tích từ ảnh viễn thám thì thượng nguồn hệ thống sông Hồngtrên lãnh thổ Trung Quốc có khoảng 52 công trình thủy điện đã hoàn thành hoặc đangxây dựng Riêng đối với thượng nguồn sông Đà, về cơ bản đến nay Trung Quốc đãkhai thác hết các bậc thang thuỷ điện lớn, đã vận hành 8 nhà máy, với tổng dung tích
hồ chứa trên 2 tỷ m3, công suất lắp máy gần 1,7 nghìn MW
Việc khai thác nước ở thượng nguồn của phía Trung Quốc đã gây ra các tácđộng đến việc khai thác nguồn nước của nước ta như: đã có hiện tượng suy giảmlượng nước từ Trung Quốc chảy vào nước ta, nhất là từ các năm từ 2007-2010; tạo ra
lũ đột ngột, bất thường (biên độ dao động mực nước ngày từ 4m đến 10m), gây daođộng mực nước giữa ban ngày và ban đêm rất lớn, có thời gian các hồ ngừng xả nướcphát điện liên tục, kéo dài làm suy kiệt dòng chảy các sông
Tương tự như vậy, trên thượng nguồn sông Mê Công, Trung Quốc đã có kếhoạch xây dựng 14 đập thuỷ điện với tổng công suất lắp đặt trên 22.000 MW Trong
đó, có 2 công trình có khả năng điều tiết rất lớn với tổng dung tích khoảng 38 tỷ
m3 (thuỷ điện Tiểu Loan công suất 4.200MW, dung tích hồ chứa khoảng 15 tỷ m3; và
Trang 8thủy điện Nọa Chất Độ công suất rất lớn, 5.500MW, dung tích hồ chứa khoảng 23 tỷ
m3) Phân tích sơ bộ ảnh viễn thám trên một phần lưu vực của sông Mê Công (thuộcTrung Quốc) cho thấy đã có 75 công trình thủy điện đã hoặc đang xây dựng, trong đó
có 6 đập trên dòng chính Trên phần lưu vực thuộc các nước Lào, Thái Lan vàCampuchia hiện đã có quy hoạch 11 công trình thuỷ điện trên dòng chính, tổng côngsuất khoảng 10.000-19.000MW Lào đã chính thức khởi công thủy điện Xayabury vàđang chuẩn bị xây dựng thủy điện Donsahong
Việc xây dựng, vận hành các công trình thủy điện trên thượng nguồn sông MêCông được cảnh báo sẽ là mối nguy cơ lớn làm đảo lộn các hoạt động phát triển kinh
tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường ở vùng hạ lưu, đặc biệt là vùng đồngbằng sông Cửu Long của Việt Nam do các vấn đề về biến đổi dòng chảy trong mùa lũ,suy giảm dòng chảy mùa kiệt, gia tăng xâm nhập mặn, suy giảm hàm lượng phù sa,suy giảm nguồn lợi thủy sản
Hai là, nguồn nước phân bố không cân đối giữa các vùng, các lưu vựcsông Toàn bộ phần lãnh thổ từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến TP Hồ Chí Minh, nơi
có 80% dân số và trên 90% hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhưng chỉ có gần40% lượng nước của cả nước; 60% lượng nước còn lại là ở vùng đồng bằng sông CửuLong (ĐBSCL) - nơi chỉ có 20% dân số và khoảng 10% hoạt động sản xuất, kinhdoanh dịch vụ Lưu vực sông Đồng Nai, chỉ có 4,2% lượng nước, nhưng đang đónggóp khoảng 30% GDP của cả nước
Ba là, tài nguyên nước phân bố không đều theo thời gian trong năm và khôngđều giữa các năm Lượng nước trong 3-5 tháng mùa lũ chiếm tới 70-80%, trong khi đó7-9 tháng mùa kiệt chỉ có 20-30% lượng nước cả năm Phân bố lượng nước giữa cácnăm cũng biến đổi rất lớn, trung bình cứ 100 năm thì có 5 năm lượng nước chỉ bằngkhoảng 70-75% lượng nước trung bình nêu trên
Bốn là, nhu cầu nước gia tăng trong khi nguồn nước đang tiếp tục bị suy giảm,đặc biệt là trong mùa khô Hiện nay, một số lưu vực sông đã bị khai thác quá mức,nhất là trong mùa khô, cạnh tranh, mâu thuẫn trong sử dụng nước ngày càng tăng.Theo tiêu chuẩn quốc tế, đã có 4 lưu vực sông đang bị khai thác ở mức căng thẳngtrung bình (sử dụng 20-40% lượng nước) gồm các sông: Mã, Hương, các sông thuộcNinh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa- Vũng Tàu (nhóm sông ĐNB) Nếu tính riêng
Trang 9trong mùa khô, thì đã có 10 lưu vực sông đang bị khai thác ở mức căng thẳng trungbình, 6 sông đã đến mức rất căng thẳng (sử dụng trên 40% lượng nước, gồm 4 sông:sông Mã, cụm sông ĐNB, Hương và Đồng Nai) Trong đó, cụm sông ĐNB và sông
Mã đã khai thác khoảng 75% và 80% lượng nước mùa khô Dự kiến đến năm 2020tình trạng khan hiếm nước, thiếu nước, nhất là trong mùa khô sẽ còn tăng mạnh so vớihiện nay và hầu hết các lưu vực sông của Việt Nam đều ở trong trạng thái căng thẳng
về sử dụng nước, đặc biệt là trong thời kỳ mùa cạn
Năm là, một số khu vực, nguồn nước dưới đất cũng bị khai thác quá mức Mựcnước dưới đất ở một số khu vực bị suy giảm liên tục và chưa có dấu hiệu hồi phục Tạivùng đồng bằng Bắc Bộ, đã hình thành 3 phễu hạ thấp mực nước lớn (tại TP Hà Nội,Hải Phòng và Nam Định); năm 1995, diện tích hình phễu hạ thấp mực nước chỉ có 195km2, đến nay đã tăng lên đến 2900 km2, có một số nơi tốc độ hạ thấp tới 0,8m/năm.Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, đã hình thành 2 phễu hạ thấp mực nước lớn (tạikhu vực TP Hồ Chí Minh và bán đảo Cà Mau); diện tích phễu hạ thấp mực nước tăng
từ 6900 km2 (1995) lên gần 15000 km2 (hiện nay), cá biệt có điểm tốc độ hạ thấp đếntrên 1m/năm Một số khu vực, nước dưới đất có nguy cơ ô nhiễm arsen cao, nhất là ởvùng đồng bằng sông Hồng (có 792 xã) và đồng bằng sông Cửu Long (229 xã), vùngBắc Trung Bộ (155 xã)
Sáu là, tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng cả về mức độ, quy mô,nhiều nơi có nước nhưng không thể sử dụng do nguồn nước bị ô nhiễm Nguồn nướcmặt ở hầu hết các khu vực đô thị, khu công nghiệp, làng nghề đều đã bị ô nhiễm, nhiềunơi ô nhiễm nghiêm trọng (như lưu vực sông Nhuệ Đáy, sông Cầu và sông Đồng Nai-Sài Gòn) Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải từ các cơ sở sản xuất, khu côngnghiệp, các đô thị không được xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn xả ramôi trường, vào nguồn nước
Bẩy là, rừng đầu nguồn bị suy giảm, diện tích rừng không được cải thiện, chấtlượng rừng kém làm giảm nguồn sinh thủy là một trong những nguyên nhân chính gópphần làm cho nguồn nước cạn kiệt, thiếu nước trong mùa khô và gia tăng lũ ống, lũquét, sạt lở đất trong mùa mưa trong thời gian gần đây
Tám là, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, xâm nhập mặn sẽ tác động mạnh
mẽ, sâu sắc tới tài nguyên nước Trong những năm qua, các hiện tượng bất thường của
Trang 10khí hậu, thời tiết đã xảy ra liên tục Mùa khô ngày càng kéo dài, hạn hán gây thiếunước xảy ra trên diện rộng liên tục trong mùa khô các năm từ 2008 đến nay, không chỉxảy ra cả ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên, miền núi cao phía Bắc mà ngay cả ởvùng ĐBSCL Mùa mưa: mưa, lũ tăng lên ở tất cả các vùng trong cả nước (dự báo đếnnăm 2020 tất cả các vùng đều tăng từ 2,3- 5,4%); lượng nước mùa khô ở nhiều vùng(từ Bắc Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long) bị suy giảm (dự báo đến năm 2020giảm từ 2,3% đến lớn nhất 16% - ở vùng Nam Trung Bộ, nơi đang thiếu nước nhất).
Mực nước biển dâng cao dẫn tới ngập lụt vùng ven biển; gia tăng tình trạngxâm nhập mặn vùng cửa sông, đồng bằng ven biển; gây xói lở, sa bồi làm đảo lộn cânbằng tự nhiên và sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng ven bờ Đồng thời, cònlàm gia tăng ngập lụt vùng đồng bằng, hàng triệu ha vùng ven biển có thể bị chìmngập, hàng trăm ha rừng ngập mặn có thể bị mất, các hệ sinh thái đất ngập nước ven
bờ bị tác động sâu sắc Các hệ sinh thái thuỷ sinh, nguồn lợi thuỷ sản và nghề cá, đờisống, sinh hoạt các công trình xây dựng của cư dân ven bờ cũng thay đổi theo chiềuhướng xấu đi
Trang 11Chương 2: QUAN TRẮC VÀ GIÁM SÁT TÀI NGUYÊN
NƯỚC 2.1 Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quan trắc, giám sát về
số lượng, chất lượng nguồn nước, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước,
xả nước thải vào nguồn nước đối với các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia;
Là quốc gia nằm ở hạ lưu các lưu vực sông lớn, nguồn tài nguyên nước ở ViệtNam đang đứng trước nhiều thách thức Hơn 2/3 lượng nước trên các hệ thống sôngcủa Việt Nam được hình thành từ ngoài lãnh thổ, phụ thuộc vào các quốc gia lánggiềng như: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia Tăng trưởng kinh tế,sức ép dân số và chất lượng cuộc sống liên tục gia tăng trong những thập kỷ qua, dẫnđến tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, đồng thời cũng nảy sinh nhữngmâu thuẫn, tranh chấp giữa các ngành sử dụng nước
Nguồn nước sẵn có ở Việt Nam tập trung chủ yếu trong các lưu vực sông xuyênbiên giới Việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên này có ý nghĩa trực tiếp trong tăngtrưởng kinh tế và cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái Nông nghiệp chiếm gần 80%lượng nước mặt sử dụng Phát triển kinh tế nhanh chóng mang lại những thay đổitrong sử dụng đất, đô thị hoá ngày càng gia tăng, phát triển cơ sở hạ tầng, biến đổi khíhậu, đang gia tăng nhu cầu nước Gia tăng nhu cầu về nước từ các lĩnh vực khác nhau,
sự khan hiếm nước ngày càng tăng và biến đổi khí hậu đã đòi hỏi các chiến lược phân
bổ nguồn nước cần được tối ưu hóa Phân bổ tài nguyên nước giữa và trong các lĩnhvực khác nhau và cho các mục đích sử dụng khác nhau, là một trong những thách thứclớn nhất đối với các nhà lập kế hoạch quản lý tài nguyên nước Vấn đề phức tạp đượctăng thêm khi xem xét các hệ sinh thái nước - thực phẩm phụ thuộc lẫn nhau Các công
cụ và phương pháp tiếp cận để sẵn sàng sử dụng và cân bằng sử dụng nguồn nướccũng như các kịch bản trong tương lai là cần thiết để hỗ trợ ra quyết định về các chínhsách, chiến lược và quy hoạch phù hợp để quản lý tài nguyên nước bền vững
Trang 12Hình 2.1.1 a.1.1: Lưu vực sông Mê Công Trách nhiệm của Bộ Tài Nguyên Môi Trường về tài nguyên nước liên tỉnh, liên quốc gia:
- Quan trắc, giám sát số lượng, chất lượng nguồn nước :
Lập danh mục hồ chứa, lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia, theo dõi lưu vựcnước, đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu, phần mềm quản lý, xử
lý dữ liệu quan trắc ở trung ương, theo dõi tình hình xã lũ, xã đập thủy điện, phối hợpvới các nước láng giềng trao đổi thông tin để cập nhật và chủ động quản lý, ứng phókịp thời và phối hợp khắc phục sự cố
Trang 13Theo Khoản 4 Điều 7 Luật Tài Nguyên Nước số 17/2012/QH13 quy định BộTài nguyên và Môi trường tổ chức lập danh mục lưu vực sông liên tỉnh trình Thủtướng Chính phủ ban hành; lập, ban hành danh mục lưu vực sông nội tỉnh, danh mụcnguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 201/2013/NĐ-CP Quy định chi tiếtthi hành một số điều của luật tài nguyên nước quy định về Quan trắc tài nguyên nướcnhư sau: Mạng lưới trạm quan trắc của Trung ương bao gồm các trạm quan trắc lượngmưa; các trạm quan trắc lưu lượng, mực nước, chất lượng nước của các nguồn nướcmặt liên quốc gia, liên tỉnh và của các nguồn nước nội tỉnh quan trọng, nước biển venbờ; các trạm quan trắc mực nước, chất lượng nước của các tầng chứa nước liên tỉnhhoặc có tiềm năng lớn
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đầu tư xây dựng, lắp đặt thiết bịthu nhận, lưu trữ dữ liệu, phần mềm quản lý, xử lý dữ liệu ở trung ương và cơ sở dữliệu của hệ thống thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu và phần mềm quản lý, xử lý ở trungương; cơ sở dữ liệu của hệ thống giám sát
Hình 2.1.1 a.1.2: Xả nước thải ô nhiễm ở thượng nguồn sông Hồng
Trang 14Hai bên bờ sông Hồng thuộc địa phận tỉnh Yên Bái hiện có khá nhiều cơ sở sảnxuất chế biến nông, lâm sản đang đua nhau xả nước thải ô nhiễm ra sông.
Mặc dù lưu lượng dòng chảy của sông Hồng rất lớn, nhưng đoạn nơi các nhàmáy xả chất thải, có thể quan sát rõ sự ô nhiễm bằng mắt thường
Tại khu vực nhà máy chế biến sắn Đông Cuông huyện Văn Yên của Công ty cổphần Chế biến nông lâm sản thực phẩm Yên Bái, trong bán kính chừng 1km, bằng cảmquan, người ta cũng có thể đã phát hiện được mùi sú uế nồng nặc Bể xử lý chất thảitrong nhà máy có những lớp váng nhầy nhụa, đen, đặc quện được dẫn ra phía sau bứctường thành bao quanh nhà máy qua đường ống dẫn nước thải từ "bể xử lý" xuống 5
ao lắng nhỏ
Tuy đã qua xử lý, nhưng nước vẫn có màu đen đặc và nồng nặc mùi sú uế Vàocao điểm, trung bình mỗi ngày nhà máy cần tới lượng nguyên liệu 300 tấn sắn tươi vànhư vậy sẽ thải ra gần 900m3 nước thải
- Quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước:
Căn cứ Điều 4 Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 Quy định vềgiám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước: Giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tàinguyên nước là việc kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền thông qua việc theo dõi số liệu quan trắc củacác cơ sở khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Tổ chức triển khai thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác sử dụng tài nguyênnước và xả nước thải vào nguồn nước, công tác quản lý tài nguyên nước liên tỉnh, liênquốc gia; việc chấp hành các quy định của pháp luật và công ước về tài nguyên nướctại một số cơ sở khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước, tình hình thựchiện quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông; theo dõi biến động nguồnnước, các hoạt động khai thác sử dụng nước ở ngoài biên giới phía thượng nguồn
Thống kê, phân loại nguồn nước, công bố danh mục các nguồn nước bị ônhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng và danh mục các cơ sở khai thác, sử dụngnước, xả nước thải vào nguồn nước gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọngnguồn nước Triển khai thực hiện quy định về vùng bảo hộ vệ sinh, vùng cấm, vùng
Trang 15đăng ký khai thác nước dưới đất; xây dựng kế hoạch phục hồi nguồn nước liên tỉnh,liên quốc gia; cải tạo, phục hồi một số dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm, cạn kiệtnghiêm trọng.
Hình 2.1.1 a.1.3: Hiện trạng khai thác nước ngầm toàn quốc
Trên thực tế, mỗi ngày, cả nước khai thác 10,39 triệu m3 nước ngầm, khu vựcđồng bằng Nam Bộ chiếm gần một nửa
Tại một số địa phương, đặc biệt là ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, tìnhtrạng khai thác vượt quá trữ lượng cho phép gây hạ thấp mực nước, cạn kiệt và suythoái nguồn tài nguyên
- Quan trắc, giám sát việc xả nước thải vào nguồn nước:
Điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồnnước liên tỉnh, liên quốc gia; xây dựng và vận hành được hệ thống thông tin cơ sở dữliệu tài nguyên nước quốc gia đảm bảo việc chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý vàđơn vị quản lý vận hành
Giám sát các hoạt động xả nước thải khác cùng xả vào nguồn nước khu vực tiếpnhận nước thải tại các nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia với các thông tin chính sau:
1 Thống kê các đối tượng xả nước thải trong khu vực (vị trí, khoảng cách đến
vị trí xả nước thải đề nghị cấp phép)