Con người là hiện tượng có một không hai trong thế giới hiện thực, nơi có sự tác động tổng hợp của cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Vấn đề con người được nổi lền hàng đầu của sự tìm tòi khoa học, là điểm tất cả phải xuất phát và phải quay về đó. Đối với triết học, con người là đối tượng nghiên cứu của mọi trào lưu triết học. Các học thuyết triết học từ thời cổ đại cho đến nay đã đặt ra và tìm cách lý giải bằng nhiều cách khác nhau về những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của con người. Triết học Mác Lênin là triết học xuất phát từ con người và vì con người. Thực chất chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng là học thuyết giải phóng con người, vì sự phát triển toàn diện của con người.
Trang 1Chương 8 VẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Con người là hiện tượng có một không hai trong thế giới hiện thực, nơi có
sự tác động tổng hợp của cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Vấn đề con người được nổi lền hàng đầu của sự tìm tòi khoa học, là điểm tất cả phải xuất phát và phải quay về đó Đối với triết học, con người là đối tượng nghiên cứu của mọi trào lưu triết học Các học thuyết triết học từ thời cổ đại cho đến nay đã đặt ra và tìm cách lý giải bằng nhiều cách khác nhau về những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất
của con người Triết học Mác - Lênin là triết học xuất phát từ con người và vì con
người Thực chất chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng là học thuyết giải phóng con người, vì sự phát triển toàn diện của con người
1 Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người và nhân tố con người
1.1 Các quan điểm triết học ngoài mácxít về con người
1.1.1 Triết học phương Đông quan niệm về nguồn gốc, bản chất con người
Trong lịch sử tư tưởng triết học phương Đông đã có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc con người Theo quan điểm duy tâm, tôn giáo, con người do một vị thần tối cao sinh ra và chịu sự điều khiển của vị thần đó Quan niệm đó được phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp trong Kinh Vêđa (Ấn Độ) và Kinh thi (Trung Quốc) Theo quan niệm duy vật mộc mạc, con người do Thái cực, Ngũ hành hoặc do nước, khí… tạo thành
Trong Nho giáo, quan niệm về nguồn gốc con người đã phát triển theo hai khía cạnh khác nhau Về khía cạnh duy tâm, Khổng Tử cho rằng con người có số mệnh do trời quy định và mỗi người có một mệnh khác nhau Về khía cạnh duy vật, Tuân Tử cho rằng khí là nguồn gốc của vạn vật, kể cả con người Trong quan niệm của Lão Tử, đạo như là tính quy luật khách quan, là nguồn gốc vạn vật và cũng là nguồn gốc của con
Trang 2người Quan niệm của Phật giáo không thừa nhận đấng sáng thế tạo ra con người Con người do luật nhân quả, sinh ra, chết đi do luân hồi
Như vậy, trong triết học phương Đông cổ đại, các quan điểm duy tâm, tôn giáo đều quan niệm con người do thần thánh, do lực lượng siêu nhiên tạo ra, cuộc sống con người do Trời, thần sắp đặt, an bài Ngược lại, các quan niệm duy vật về nguồn gốc con người còn mộc mạc, ngây thơ, chưa có cơ sở khoa học vững chắc
Triết học phương Đông đã có những quan điểm khác nhau về bản chất con người Đạo giáo coi con người là một bộ phận của tự nhiên và thần bí hoá bản chất xã hội của con người Phật giáo coi con người khác con vật là có tâm và có thức Nho giáo tìm bản chất con người ở phương diện đạo đức Đồng thời, cho rằng con người khác con vật ở chỗ biết hợp quần Tuy Nho giáo đã xem xét con người trong các mối quan hệ xã hội, song không thấy được con người trong quan hệ kinh tế Mặc Tử coi con người khác con vật là ở chỗ con người có lao động Như vậy, triết học phương Đông đặt vấn đề nghiên cứu bản chất xã hội của con người rất sớm, mặc dù cách giải thích khác nhau và còn rất đơn giản
Trong triết học phương Đông, tính người là một khía cạnh thuộc bản chất con người được quan tâm bàn đến Vấn đề tính người được Nho giáo quan tâm và giải thích theo các khuynh hướng khác nhau Khổng Tử cho rằng tính người gần nhau, do tập nhiễm mà xa nhau Tính người có thiện, có ác Sau thời kỳ Chiến quốc, quan điểm về tính người của Nho giáo có bước phát triển Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người là thiện, do không biết tu dưỡng và do ảnh hưởng của tập quán mà trở nên ác, qua tu dưỡng có thể giữ được cái tốt Ngược lại, Tuân Tử cho rằng, bản tính con người là ác, nhưng có thể cải biến được cái ác để trở thành tốt Đến thời kỳ nhà Hán, Đổng Trọng Thư chia tính người làm ba loại: toàn thiện; có thiện, có ác; chỉ có ác Theo Hàn Dũ, tính người có tam phẩm: thượng phẩm (toàn thiện); trung phẩm (có thiện, có ác); hạ phẩm (chỉ có ác) Chu Hy phân biệt tính người có tính trời đất và có tính khí chất
Trang 3Trong quan niệm của Lão Tử, tính người không thiện cũng không ác Thiện
ác là do hoàn cảnh và giáo dục tạo ra Phật giáo cho rằng, tính người có hai thuộc tính: tính Phật và tính trần tục Hàn Phi Tử cho rằng, tính người ích kỷ, cá nhân, vụ lợi
Như vậy, hai quan điểm về tính người tuy khác nhau nhưng có điểm chung
là đã khẳng định: Tính người có thể cải biến được, giữ được cái tốt (thiện) Điểm khác nhau là ở con đường cảm hoá con người, hoặc là bằng giáo huấn đạo đức, hoặc là bằng luật pháp
Trong triết học phương Đông còn có thuyết “Thiên nhân hợp nhất”, tức là trời và người là một và thuyết “con người là một tiểu vũ trụ”, tức là con người là một bộ phận của tự nhiên, mang các tính chất của tự nhiên và chịu sự chi phối của
tự nhiên Có nhiều cách giải thích khác nhau về các quan điểm này, song từ khía cạnh duy vật thì đây là những quan điểm đúng đắn, có giá trị khoa học, là một đóng góp có giá trị cho tư tưởng triết học về nguồn gốc, bản chất con người Mặc
dù vậy, do trình độ khoa học còn hạn chế mà các quan điểm đó chưa được lý giải đầy đủ và sâu sắc
1.1.2 Triết học phương Tây trước Mác quan niệm về nguồn gốc, bản chất con người.
Quan niệm về con người ở phương Tây đã có những tiền đề xuất hiện rất
sớm từ trong xã hội nguyên thuỷ Đây là thời kỳ tiền triết học, tư tưởng thống trị vẫn là duy tâm, thần bí trong quan niệm về nguồn gốc, bản chất con người Quan niệm về nguồn gốc con người trong xã hội nguyên thuỷ nhìn chung cho rằng, có một sức mạnh siêu nhiên, huyền bí sinh ra con người, định đoạt số phận con người, ban phát ân huệ, trừng phạt mọi hành vi của con người và quyết định cả phúc, hoạ của con người sau khi chết Mặt khác, có tư tưởng duy vật gắn liền với thực tiễn, tin vào sức mạnh của con người trong đấu tranh với tự nhiên để tồn tại
Chủ nghĩa duy vật cổ đại, bằng nhiều cách, giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc Theo quan điểm của các nhà triết
Trang 4học duy vật, con người là một bộ phận cấu thành của tồn tại, của thế giới, là một bản nguyên vật chất xác định Phái nguyên tử luận, tiêu biểu là Đêmôcrít cho rằng, mọi sinh vật đều cấu tạo từ nguyên tử Linh hồn con người cũng là vật chất, được cấu tạo
từ nguyên tử
Chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại đã có những quan niệm khác nhau về nguồn gốc, bản chất con người Theo Pitago, mọi vật và con người có nguồn gốc từ con
số Con người có thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn là bất tử Xôcrát cho rằng
có hai hạng người đối lập, trong đó chỉ có quý tộc là có đạo đức chân chính, còn
nô lệ không có đạo đức Quan niệm của Platôn, con người có thể xác và linh hồn Thân thể là nhà tù của linh hồn Aritxtốt cho rằng mọi sinh vật đều có linh hồn, thực vật có linh hồn thực vật; động vật có linh hồn cảm tính; con người có linh hồn
lý tính Vị trí linh hồn là ở trái tim Đặc biệt, với quan niệm con người là một động vật chính trị, ông đã đặt vấn đề nghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người
Trong triết học thời kỳ trung cổ, quan niệm con người bị chi phối bởi quan điểm duy tâm của tôn giáo Theo giáo lý Kitô, con người do Chúa sáng tạo ra, con người có thể xác và linh hồn Thể xác mất đi, linh hồn sẽ còn lại Thể xác và linh hồn đối lập nhau như cái thấp hèn và cái cao thượng Con người phải cứu vớt linh hồn của mình, phải chăm lo phần linh hồn cao quý Nhà thần học Ôguýtxtanh cho rằng Chúa là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi số phận của con người, ban phước hoặc trừng phạt con người Theo Tômát Đacanh, Chúa Trời sinh ra giới tự nhiên và con người, con người là hình ảnh của Chúa Linh hồn con người được tạo
ra cùng với Chúa tạo ra con người Trật tự các sự vật do Chúa sắp đặt là: Chúa Trời – thần thánh – con người – các sự vật không có linh hồn
Trong triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng - Cận đại, quan niệm về con
người có bước phát triển Đây là thời kỳ nhận thức về nguồn gốc, bản chất con người có bước tiến đáng kể, phản ánh những vấn đề do khoa học và thực tiễn đặt ra Các nhà triết học duy vật, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học
tự nhiên đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo về vấn đề nguồn
Trang 5gốc, bản chất con người Theo Bêcơn, con người là một thực thể vật chất Đềcáctơ cho rằng, tư duy trí tuệ là bản chất con người Điđrô khẳng định ý thức
từ vật chất sinh ra, là thuộc tính của vật chất Theo quan niệm của Henvêtyúyt, trí tuệ con người do giáo dục chứ không phải do tự nhiên, bẩm sinh
Trong triết học cổ điển Đức, quan niệm con người đã phát triển mạnh mẽ cả hai khuynh hướng duy tâm và duy vật Hêghen tuyệt đối hoá con người lý tính, cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, xã hội và con người Ý niệm tuyệt đối là thực thể tinh thần sinh ra vũ trụ và con người Phoiơbắc đã phê phán quan điểm duy tâm, tôn giáo về nguồn gốc, bản chất con người: “Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người” Chủ nghiã duy vật nhân bản đã phê phán quan niệm duy tâm về vấn đề này và khẳng định ý thức là sản phẩm của bộ óc, tinh thần là sản phẩm của vật chất,
đã tuyệt đối hoá con người tự nhiên, sinh vật, không thấy bản chất xã hội – lịch sử của con người, không thấy vai trò hoạt động thực tiễn của con người Như vậy, tất cả các quan điểm trước Mác về con người chưa thoát khỏi quan điểm vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Tuy nhiên, lịch sử triết học đã để lại những tư tưởng quý giá về nguồn gốc, bản chất con người, làm cơ sở, tiền đề cho triết học Mác kế thừa, phát triển, đưa
ra quan điểm khoa học về con người
1.2 Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người và nhân tố con người
1.2.1 Khái niệm con người và nhân tố con người
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về con người, triết học Mác – Lênin đã đem lại một quan niệm hoàn chỉnh về con người Theo
quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh vật xã hội.
Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn hoá trên trái đất Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại…Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy,
Trang 6lao động, giao tiếp, đạo đức…Hai mặt đó hợp thành một hệ thống năng động, phức tạp, luôn luôn biến đổi, phát triển Về vai trò của con người, triết học Mác – Lênin khẳng định con người là chủ thể hoạt động thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra bộ óc và tư duy của mình
Quan niệm về con người của triết học Mác – Lênin đã bao hàm trong đó sự khẳng định vai trò chủ thể lịch sử xã hội của con người Điều đó đòi hỏi tất yếu từ quan niệm chung về con người, cần phải có một quan niệm cụ thể hơn về nhân tố con người Nhân tố con người là hệ thống các thuộc tính, các đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hoà những đặc trưng về phẩm chất, năng lực của con người trong quá trình phát triển lịch sử Triết học Mác – Lênin đã chỉ
ra sự thống nhất giữa hai mặt là hoạt động và phẩm chất, năng lực của con người
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn; hoạt
động vật chất và hoạt động tinh thần Phẩm chất và năng lực của con người bao gồm: phẩm chất chính trị, đạo đức…và năng lực nhận thức, tư duy, hành động…Giữa mặt hoạt động và mặt phẩm chất, năng lực có mối quan hệ biện chứng Trong đó, hoạt động là cơ sở để hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực của con người Ngược lại, phẩm chất và năng lực của con người là cơ sở cho hoạt động của con người đạt hiệu quả Cả hoạt động, phẩm chất và năng lực là những đặc trưng xã hội quy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người
Triết học Mác – Lênin đã chỉ ra vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người Chính vì vậy, nhân tố con người là cội nguồn của mọi sự phát triển, của mọi nền văn minh xã hội
1.2.2 Các quan điểm cơ bản của triết học Mác – Lênin trong tiếp cận nguồn gốc, bản chất con người
* Sự hình thành, phát triển con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất
Trang 7Triết học Mác – Lênin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử
đã tiếp cận và luận giải sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử gắn với quá trình phát triển của sản xuất vật chất Từ đó, khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành, phát triển của con người Chính trong lao động, thông qua lao động mà con người biến đổi điều kiện tự nhiên bên ngoài; làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năng sinh học của con người; đồng thời hình thành và phát triển những phẩm chất xã hội của mình
Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình C.Mác khẳng định: “Nhờ sự sản xuất đó, giới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của nó (con người) và thực tại của nó”1, làm cho tự nhiên “có tính người”, tự nhiên được “nhân loại hoá” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bó hữu cơ với lịch sử phát triển của xã hội loài người Chính vì vậy, C Mác nói: “Con người không bao giờ đứng trước một tự nhiên
có tính chất lịch sử và một lịch sử có tính chất tự nhiên”2
Triết học Mác – Lênin khẳng định, thông qua lịch sử sản xuất vật chất, nhờ lao động mà một loài sinh vật mới ra đời, đó là Homo sapiens – con người có lý tính, mang tính chất xã hội Lao động đã biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiên loài người Khoa học đã chứng minh rằng, con người là một tổ chức sinh vật có trình
độ phát triển cao nhất trên hành tinh, từ một loài sinh vật có xương sống phát triển lên, là một nấc thang cao nhất trong lịch sử tiến hoá của các giống loài qua hàng trăm triệu năm Lao động đã cải tạo bản năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí, phát triển bản năng con người thành một trạng thái mới về chất C Mác cho rằng, “trong con người, ý thức thay thế bản năng, hoặc bản năng con người là bản năng đã được ý thức”3 Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự
1 C.Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 2000, t 42, tr 137.
2 C.Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 1995, t 3, tr 60.
3 C.Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 1995, t 3, tr 44.
3 4 C.Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 641.
Trang 8hình thành phát triển phẩm chất xã hội của con người Trong lao động tất yếu hình thành quan hệ xã hội, thông qua hoạt động giao tiếp hình thành lên ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí và cả phương pháp tư duy của con người… Chính vì vậy, Ph Ăngghen khẳng định: “…trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo
ra bản thân con người”4
Nhờ lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự nhiên trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầu tiên mang ý nghĩa sáng tạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ lao động Con người bắt đầu lịch sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động tư liệu của mọi tư liệu – sức mạnh vật chất đầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật với tư cách là một chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Đồng thời, bằng hoạt động cải tạo
tự nhiên, con người hoà nhập với tự nhiên, biến “tự nhiên thứ nhất” thành “tự nhiên thứ hai”, “tự nhiên thứ ba”…, sáng tạo ra của cải, tri thức, tinh thần Như vậy, sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người Bản chất con người là sáng tạo ngay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó
* Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội.
Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong tính toàn vẹn, khẳng định con người là một chỉnh thể tồn tại và phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Đây là một chỉnh thể phức tạp, năng động, luôn luôn vận động, phát triển
Về mặt sinh học, con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các hiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hoá và các quá trình khác của cơ thể Về mặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học Về mặt xã hội, con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí…là chủ thể quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần…Về mặt này con người phục tùng các quy luật xã hội
Con người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của hai quá trình sinh học và xã hội Sự hình thành, phát triển con người thông qua
Trang 9một quá trình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội Cơ chế di truyền quyết định quá trình tiến hoá sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho sự tiến hoá xã hội Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnh văn hoá lịch sử của quần thể xã hội đã quyết định sự hình thành phát triển những phẩm chất xã hội của con người Đây là một quá trình thống nhất
và phức tạp Trong đó, cơ chế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học
là chủ yếu mà còn gắn liền với sự hình thành phát triển bản năng xã hội của con người Ngược lại, quá trình tập nhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết định mặt xã hội của con người mà còn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thích nghi với hoạt động xã hội Vì vậy, Ph Ăngghen viết “Giới tự nhiên đạt đến trình độ tự nhận thức được mình: đó là con người”5
* Con người tồn tại, phát triển trong môi trường cư trú và mang thuộc tính
xã hội- hành tinh- vũ trụ.
Triết học Mác – Lênin tiếp cận con người trong hệ thống con người – môi trường cư trú, từ trái đất đến vũ trụ Môi trường là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của con người Đó là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và xã hội được thu hút vào quá trình đời sống con người Theo nghĩa rộng nhất, môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Con người tồn tại trong hệ thống tương tác của tất cả các lực lượng tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên, giao tiếp với tự nhiên và phụ thuộc vào tự nhiên Con người thuộc về giới tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên, sống trên hành tinh và phụ thuộc vào các quá trình cơ, lý, hoá, sinh học của hành tinh Con người phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên mà trong đó nhiều hiện tượng ở trình độ khoa học hiện nay chưa giải thích được Con người giao tiếp và phụ thuộc vào tự nhiên ở cả cấp độ chức năng - cơ thể và cấp độ cảm xúc- tinh thần Khoa học tự nhiên đã phát hiện sự tương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với “nhịp điệu sinh học” Điều đó nói lên con người mang thuộc tính xã hội – hành tinh – vũ trụ và phụ thuộc vào môi trường
5 C Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 1994, t 20, tr 475.
2 C Mác v Ph à Ph. Ăngghen, to n t àn t ập, Nxb CTQG, H 1995, t 3, tr 25.
Trang 10Con người tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã hội mà thích nghi với tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết cấu vật chất đặc thù của giới tự nhiên Toàn bộ quần thể xã hội hoạt động trong giới tự nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hài hoà với tự nhiên C Mác khẳng định: “Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”6 Như vậy, bản chất con người là tổng hoà các thuộc tính sinh học – xã hội
* Con người là một thực thể cá nhân - xã hội.
Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm chất của hệ thống các quan hệ xã hội Đó là một hệ thống năng động, phát triển thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng Trước hết, con người là một nhân cách mang đặc trưng chung, đại biểu cho nhân loại, tộc loại Thuộc tính chung nhất và cao nhất của con người là sáng tạo Con người mang những phẩm chất đặc thù đại biểu cho một xã hội lịch sử - cụ thể, đại biểu cho một dân tộc, giai cấp, tập đoàn xã hội, tập thể, nhóm
xã hội, gia đình…Những phẩm chất xã hội của con người mang dấu ấn của một thời đại lịch sử và những quan hệ xã hội cụ thể Những phẩm chất riêng có của mỗi người
là cái đơn nhất, cái đặc thù của cá nhân tạo nên kinh nghiệm, tính đơn nhất về tâm lý
xã hội của mỗi người Cái riêng của con người do đặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗi người quy định Nhờ những phẩm chất riêng mà phân biệt được giữa cá nhân này và cá nhân khác về trí tuệ, tình cảm, ý chí, động cơ hành động, tính cách…Bởi vì, theo C Mác, con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân
* Sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhân loại
Con người mang tính nhân loại Đây là thuộc tính vốn có hình thành trong suốt chiều sâu lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất Tính nhân loại thể hiện trong thuộc tính chung nhất cao nhất của con người là sáng tạo và trong những giá trị văn hoá chung mà nhân loại đạt được Tính nhân loại còn được thể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung được hình thành như những đạo lý Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung
6