BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐỀ BÀI: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG và án lệ điển hình
Trang 1BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của CISG và án lệ điển hình ”
Trang 2
KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Nhóm số: 7 Lớp: N04_TL3
Tổng số sinh viên của nhóm: 7 sinh viên Môn học: Luật thương mại quốc tế Xác nhận mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm của bộ môn
Kết quả như sau:
STT Mã SV Họ và tên
Đánh giá của SV SV ký
tên
Đánh giá của GV
Điểm (số) Điểm (chữ)
GV
ký tên
1 440845 Lường Đức Thắng X
2 440846 Nguyễn Thị Thanh
Huyền
X
4 440848 Trần Thanh Hà X
5 440849 Trần Lê Ngọc Khuê X
6 440850 Ôn Thị Vân Anh X
- Kết quả bài viết
Giáo viên chấm :………
Kết quả điểm thuyết trình:
TRƯỞNG NHÓM
LƯỜNG ĐỨC THẮNG
Thông tin liên hệ: Lường Đức Thắng
Số điện thoại: 0961322438
Gmail: ducthangg26@gmail.com
Trang 3M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Phân tích cụ thể quy định của CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1
II Tóm tắt tranh chấp 4
III Tóm tắt lập luận của nguyên đơn bị đơn, và cơ quan tài phán 5
IV Đánh giá và bình luận về án lệ liên quan đến yêu cầu BTTH do người bán giao hàng không đúng với hợp đồng 7
K ẾT LUẬN 10
DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4M Ở ĐẦU
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bản quốc tế là một loại trách nhiệm dân sự, phát sinh kể từ lúc một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đã gây cho bên kia một sự thiệt hại, bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại
do hành vi vi phạm của mình gây ra cho bên kia Theo đó, các điều khoản về BTTH là những điều khoản quan trọng trong các quy định về luật hợp đồng Về
cơ bản, hợp đồng sinh ra là nhằm giúp các bên đạt được mục đích mà họ nhắm tới khi tiến hành giao kết Tuy nhiên, khi xuất hiện hành vi vi phạm và có thiệt
hại xảy ra, điều mà các bên quan tâm nhiều nhất là làm thế nào để bảo vệ được
tối đa quyền lợi của mình Công ước viên 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) được đánh giá cao nhờ vào cấu trúc các điều khoản của các chế tài khắc phục thiệt hại, mà trong đó bao gồm chế tài BTTH Do vậy, sau
đây nhóm chúng em sẽ phân tích đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo quy định của CISG và án l ệ điển hình.”
N ỘI DUNG
I Phân tích cụ thể quy định của CISG về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Chế tài BTTH được quy định từ Điều 74 đến Điều 77 CISG, trong đó Điều
74 được xem là quy định mấu chốt, xác lập những nguyên tắc chung khi áp dụng
chế tài Điều 75, 76 CISG quy định cách tính thiệt hại trong trường hợp hợp đồng bị hủy và Điều 77 CISG đề cập đến vấn đề giảm tiền bồi thường do bên đòi
bồi thường không tiến hành các biện pháp hợp lí nhằm hạn chế tổn thất Cụ thể như sau:
Ði ều 74:Căn cứ theo quy định tại Điều 74 này, cần làm rõ các vấn đề như sau:
Trang 5- Có hành vi vi ph ạm hợp đồng: Biểu hiện cụ thể của hành vi vi phạm hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Vi phạm hợp đồng không chỉ là vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà còn là vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Hành vi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế là căn cứ để áp dụng đối với chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
- Có thi ệt hại xảy ra: Thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế do các bên thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật Thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế gây ra là căn cứ bắt buộc phải có khi áp dụng chế tải bồi thưởng thiệt hại Thiệt hại được đền bù do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm thiệt hại về vật
chất và thiệt hại về tinh thần
- Ph ạm vi thiệt hại được đền bù: CISG quy định bên vi phạm hợp đồng phải
bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên bị vi phạm Tiền bồi thường thiệt hại xảy
ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi
bị bỏ lỡ mà bên kia phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng Tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn thiệt hại thực tế và những khoản đáng lẽ thu được nhưng bị bỏ lỡ là những khoản mà bên bị vi phạm đã dự liệu được hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào thời điểm ký hợp đồng.1
Ði ều 75: Căn cứ quy định này, Công ước CISG đưa ra cách tính toán thiệt hại
trong trường hợp hợp đồng bị hủy và hợp đồng thay thế:
1 Nguy ễn Đô, Luận văn thạc sĩ Luật học (2018), Viện hàn lâm Khoa học xã hội- Học viện
hoá qu ốc tế ở Việt Nam hiện nay”
Trang 6- Đối với trường hợp bên bị thiệt hại đã ký kết hợp đồng thay thế Lúc này,
công thức tính tiền bồi thường bằng khoản chênh lệch giữa giá trị hợp đồng bị hủy( hợp đồng gốc) và giá hợp đồng thay thế cho bên bị vi phạm Còn phần chênh lệch thì có thể được điều chỉnh tăng thêm các khoản tiền bồi thường tại Điều 74 hay điều chỉnh giảm đi các khoản đáng lẽ ra phải ngăn ngừa được theo nguyên tắc hạn chế tổn thất tại Điều 77 Để áp dụng Điều 75 thì cần đáp ứng đủ hai điều kiện: Có tồn tại việc hủy hợp đồng; Có tồn tại giao dịch thay thế và giao dịch thay thế này phải có tính hợp lý, nghĩa là được thực hiện “một cách hợp lý”
và “trong một thời gian hợp lý” Trong một hợp đồng mua bán hàng hóa, giao dịch thay thế khi có vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng có thể thực hiện bởi cả bên mua hoặc bên bán Tuy nhiên, việc xác định việc hủy hợp đồng có thực cũng như xác định giao dịch thay thế đó đã thực hiện “một cách hợp lý” “trong một thời gian hợp lý” không hề dễ dàng.2
- Đối với trường hợp bên bị thiệt hại chưa ký kết hợp đồng thay thế: Trường
hợp này được áp dụng công thức tại Điều 76 Điều kiện để áp dụng công thức theo Điều 76: Hợp đồng phải bị hủy; bên bị thiệt hại không ký kết hợp đồng thay thế; tồn tại giá hiện hành trên thị trường
Điều 76: [3]
Điều 76 Công ước CISG đưa ra cách tính toán thiệt hại trong trường hợp hủy
hợp đồng nhưng bên bị thiệt hại không ký hợp đồng thay thế Trường hợp bên bị
vi phạm không ký hợp đồng thay thế, bên vi phạm bồi thường chênh lệch giữa giá hợp đồng bị hủy và giá thị trường hiện hành cao hơn giá hợp đồng đã bị hủy
Lê Oanh (Khoa Lu ật, Trường đại học Văn Lang), “ Th ực tiễn hủy bỏ hợp đồng và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo CISG 1980 qua một án lệ - Lưu ý cho doanh nghi ệp Việt Nam”
Trang 7Ði ều 77: [4]
Điều 77 Công ước Viên 1980 quy định bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng
của bên kia thì phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống
cụ thể để hạn chế tổn thất kể cả khoản lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây
ra Các biện pháp hạn chế tổn thất bao gồm: biện pháp do người mua thực hiện
và biện pháp do người bán thực hiện.3Về mặt pháp lý bên bị vi phạm không bị
bắt buộc thi hành những biện pháp hợp lý cần thiết để ngăn chặn hoặc hạn chế tổn thất, nhưng về mặt kinh tế bên có quyền phải chịu hậu quả là sẽ không được
bồi thường đối với những khoản thiệt hại lẽ ra có thể ngăn chặn được hoặc hạn
chếđược bằng các biện pháp hợp lý cần thiết
II Tóm t ắt tranh chấp
• Các bên tham gia tranh chấp và giải quyết tranh chấp:
Các bên tham gia tranh chấp: Tranh chấp giữa công ty H.D của Pháp (bên mua) và công ty M.C S của Ý (bên bán)
Giải quyết tranh chấp: Tranh chấp giữa hai bên được giải quyết bằng Tòa
án Công ty H.D nộp đơn khởi kiện tại Tòa án; Tranh chấp được xét xử tại Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp), bản án ngày 27/05/2008
• Sự kiện pháp lý: người mua Pháp đã khởi kiện người bán Italia yêu cầu
chấm dứt hợp đồng cộng với tiền bồi thường thiệt hại
•Vấn đề pháp lý: tranh chấp về số tiền bồi thường do hàng hóa người bán
không phù hợp với hợp đồng đã được quy định, người mua hủy hợp đồng và đòi
bồi thường thiệt hại
3 Lê H ữu Hải, Luận văn Thạc sĩ Luật học(2020), Đại học Huê- Trường đại học Luật, “ Chế tài do vi pham h ợp đồng mua bán hang hoá quốc tế theo Công ước viên 1980"
Trang 8*Lu ật áp dụng giải quyết tranh chấp: Tòa án cho rằng hợp đồng được
điều chỉnh bởi (CISG) do Pháp và Italia đều là thành viên của Công ước này Tòa án áp dụng các điều 25, 35, 47, 49, 75, 77 (CISG)
III Tóm tắt lập luận của nguyên đơn bị đơn, và cơ quan tài phán
• Lập luận của nguyên đơn:
Công ty HD và công ty MSC đã ký kết hợp đồng mua bán đầu tiên vào 19/6/2003 Hợp đồng này đã không được người bán là công ty MSC thực hiện một cách chính xác vì nghĩa vụ tuân thủ quy định tại Điều 35 của CISG không được tôn trọng và người bán đã không thực hiện việc giao hàng tuân thủ trong
thời hạn bổ sung mà họ đã đặt ra mà hoãn ngày giao hàng đến tháng 1 năm 2004
Do đó, công ty HD cho rằng hợp đồng này có thể bị chấm dứt theo Điều 49 CISG Hợp đồng thứ hai đã không được thực hiện theo các điều kiện mà hai công ty đã thoả thuận ban đầu Tuy nhiên, công ty HD đã thể hiện thiện chí tiếp tục quan hệ với công ty MSC, nhưng sau đó, vào 19/11/2003, công ty MSC đã không tôn trọng các điều khoản của thỏa thuận của đơn đặt hàng thứ ba, thời gian giao hàng bị hoãn lại 5 tuần so với thỏa thuận Do đó, công ty HD cho rằng công ty hoàn toàn có căn cứ để hủy đơn đặt hàng với công ty MSC theo Điều 26
và 49 CISG và công ty HD đã thông báo cho công ty MSC hợp đồng đã bị chấm dứt Việc công ty HD đưa ra với các điều kiện giá ấn định trong hợp đồng đã giao kết trước đó đã không được công ty MCS chấp nhận mà công ty MSC đã thông báo đơn giá được chỉ định trong đơn đặt hàng cuối cùng sẽ tăng lên Do
đó, không có thỏa thuận về ý chí của các bên về đơn đặt hàng này Do đó, công
ty HD cho rằng theo các khoản trong Điều 19 của CISG, công ty MCS đã hình thành một đề nghị ngược lại đề nghị của công ty HD, có chứa một yếu tố (giá) làm thay đổi đáng kể các điều khoản của đề nghị ban đầu hay biến đổi một cách
Trang 9cơ bản nội dung của chào hàng, vì vậy, công ty HD có quyền phúc đáp có khuynh hướng từ chối chào hàng
• Lập luận của bị đơn:
Sau đơn đặt hàng đầu tiên, công ty MCS cho rằng công ty HD có thể đã tránh được một phần thiệt hại bằng cách ngừng sản xuất càng sớm càng tốt, và công ty H.D đã không thực hiện các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, theo nghĩa của Điều 77 của CISG Công ty MCS giải thích rằng trách nhiệm của MCS đối với đơn đặt hàng thứ hai và thứ ba là không được thiết lập, và thậm chí ít thiệt hại dẫn đến từ đó theo Điều 75 CISG Công ty MSC nói rằng không có hợp đồng nào được ký kết vào ngày 17 tháng 11, liên quan đến đơn đặt hàng của
2100 chiếc áo lót, vì các bộ phận chưa thống nhất về giá cả; do đó, trách nhiệm
hợp đồng của MCS không thể phát huy tác dụng vào thời điểm này
• Lập luận của cơ quan tài phán:
Tòa phúc thẩm cho rằng vấn đề đang được xử lý do CISG Tòa án nhận
thấy rằng, hợp đồng vào tháng 6 năm 2003 đã không được thực hiện một cách
hợp lệ, vì người bán đã không giao hàng hóa phù hợp trong thời hạn bổ sung mà người mua cho phép để thực hiện (điều 35 và 47 CISG) Tháng 7 năm 2003, các bên đã ký kết hợp đồng thứ hai, nhưng sau đó người bán lại đề xuất tăng giá và hoãn ngày giao hàng thì bên mua đã chấm dứt hợp đồng một cách chính đáng theo đúng quy định của pháp luật theo Điều 26 và 49 CISG Tòa án loại trừ rằng
các bên đã ký kết hợp đồng thứ ba liên quan đến đơn đặt hàng được đặt vào tháng 11 năm 2003 Trên thực tế, câu trả lời của người bán đối với đơn đặt hàng
của người mua có các điều khoản khác nhau về cơ bản liên quan đến đơn giá và thời gian giao hàng, do đó dẫn đến một đề nghị ngược lại theo Điều 19 CISG Tòa án nhận thấy rằng, bằng cách chờ ba ngày kể từ khi phát hiện ra sự thiếu phù
hợp trước khi làm gián đoạn việc sản xuất hàng hóa, người mua đã không giảm
nhẹ tổn thất theo yêu cầu của Điều 77 CISG Tòa án cho rằng người mua không
Trang 10có quyền thu hồi phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá của giao dịch thay thế được ký kết sau khi né tránh hợp đồng mua bán, và vì việc đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế không thể được coi là “hợp lý” theo Điều 75 CISG
IV Đánh giá và bình luận về án lệ liên quan đến yêu cầu BTTH do người bán giao hàng không đúng với hợp đồng
Theo lập luận của nguyên đơn (bên mua – công ty H.D, Pháp), bị đơn (bên bán – công ty M.C.S, Ý) đã không tôn trọng quy định tại điều 35 của công ước Vienna đối với đơn hàng thứ nhất và thứ hai là hợp lý, trên thực tế, theo như diễn
biến vụ việc trong bản án, lập luận này của nguyên đơn là có căn cứ Bởi lẽ, sau khi bên bán kiểm tra hàng và phát hiện hàng được giao không phù hợp với hàng hóa mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể là đơn hàng thứ nhất có lượng lớn hàng hóa không phù hợp, đơn hàng thứ hai có 13800 đơn vị hàng hóa không phù hợp trên tổng đơn 14100 đơn vị hàng hóa Đối với khiếm khuyết của hàng hóa ở cả hai hợp đồng, theo chúng em, H.D đều đã thông báo cho M.C.S trong khoảng thời gian hợp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 39 CISG Chỉ riêng đối
với đơn hàng thứ hai, các điều khoản về số lượng, thời gian giao hàng và điều kiện thanh toán được các bên thỏa thuận vào tháng 11/2003 Mặc dù hợp đồng thứ hai đã không thể thực hiện được theo điều kiện mà hai công ty đặt ra ban đầu, nhưng hai bên vẫn thể hiện thiện chí hợp tác qua việc trao đổi fax ngày 03/11 và 17/11/2003
Theo đó, 03/11/2003, công ty M.C.S đề nghị trong fax rằng sẽ tái sản xuất
lại hàng hóa và vận chuyển cho công ty H.D theo chi phí của mình, đồng thời cũng quy định các điều khoản thanh toán nghiêm ngặt 17/11/2003, Công ty H.D
đã chấp nhận chào hàng và đồng thời đưa ra điều kiện giảm 500 đơn vị hàng hóa
Tuy nhiên, đến ngày 19/11/2003, công ty M.C.S đã không tôn trọng những điều khoản các bên đã thỏa thuận và hoãn thời gian giao hàng lại 5 tuần so với thỏa
Trang 11thuận Từ đó, ta có thể thấy rằng, vào ngày 19/11/2003 công ty M.C.S đã đưa ra một chào hàng ngược lại với công ty H.D về việc hoãn thời gian giao hàng và tăng giá đối với đơn vị hàng hóa (theo chi phí của M.C.S) khiến công ty H.D không thể không phản đối thời gian giao hàng, điều khoản thanh toán và giá của hàng hóa Do vậy, việc H.D cho rằng với điều kiện mà M.C.S đã đặt ra vào ngày 19/11/2003 là một chào hàng ngược lại với điều kiện mà công ty H.D đưa ra trước đó, có bao gồm yếu tố giá làm thay đổi đáng kể các điều khoản của đề nghị ban đầu theo quy định của Điều 19 CISG, là hợp lý Do đó công ty H.D có quyền
từ chối chào hàng của công ty M.C.S
Đối với việc M.C.S không tôn trọng quy định tại Điều 35 CISG, giao cho công ty H.D một lượng lớn hàng hóa không phù hợp ở cả 2 hợp đồng, mặc dù M.C.S có thiện chí hợp tác đối với việc khắc phục hàng hóa không phù hợp của đơn hàng thứ hai, tuy nhiên những điều khoản mà M.C.S đưa ra vào ngày 19/11/2003 là những điều khoản mà H.D không thể chấp nhận được Do vậy, H.D có căn cứ hợp lí để hủy hai đơn đặt hàng này và yêu cầu công ty M.C.S bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 26 và điều 49 của CISG
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại của công ty H.D đối với chi phí sản xuất
1800 chiếc áo bơi ở đơn đặt hàng đầu tiên là 16.290 EURO, theo quan điểm của chúng em, M.C.S có căn cứ để bác bỏ yêu cầu này vì công ty H.D đã không thực
hiện các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất theo quy định tại Điều 77 CISG,
lập luận bác bỏ của M.C.S về vấn đề này là hợp lý Cụ thể là đến ngày 26/9, khi TUNISIA mới sản xuất được 860 chiếc áo bơi, nếu H.D dừng ngay việc sản xuất
từ ngày 26/9 thay vì sau đó 3 ngày thì đã giảm được tổn thất Do sự chậm trễ trong việc hạn chế tổn thất khi phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa nên
mức bồi thường thiệt hại mà công ty H.D nhận được sẽ bị giảm xuống bằng với
mức thực tế nếu kịp thời ngăn chặn thiệt hại Ngoài ra, giá sản xuất áo bơi mà công ty H.D đưa ra (9,05 EURO/áo) là chưa hợp lý do chi phí nhân công trung