1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ-CƯƠNG-MÔN-ĐẠI-CƯƠNG-VĂN-HÓA-VIỆT-NAM

31 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 269,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

có thể tham khảo thêm tại câu 2 của https://123docz.net//document/3295212-de-cuong-dai-cuong-van-hoa-viet-nam.htmDo Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, với điều kiện vị tr

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

LUÔN PHẢI TÌM VÍ DỤ NHA MẤY ĐỨA Câu 1: Phân tích sự khác nhau giữa loại hình văn hóa gốc chăn nuôi du mục và văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt Lý giải nguyên nhân của sự khác nhau đó.

Để hình thành nên sự văn minh, tiến bộ như ngày nay, các dân tộc trên thế giới đều xuất phát

từ các loại hình văn hóa gốc như chăn nuôi du mục hoặc nông nghiệp trồng trọt Tuy nhiên,tùy vào môi trường, điều kiện tự nhiên mà mỗi nơi xuất phát từ loại hình văn hóa gốc khácnhau Từ đó cũng hình thành nên các điểm khác biệt giữa hai nền văn hóa gốc này Sự khácbiệt được thể hiện qua những điểm sau đây

Tiêu chí Văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt

=> Văn hóa nông nghiệp trồng trọt

(đặc biệt là trồng lúa nước) nên đồ ăn

là thực vật

Khí hậu lạnh khô, địa hình chủyếu là thảo nguyên (xứ sở củađồng cỏ) thích hợp cho chăn nuôiphát triển

=> Văn hóa chăn nuôi du mục nên

đồ ăn là động vật

Đặc

điểm

Nghề trồng trọt buộc con người sống

định cư, nhà cửa ổn định, vì vậy nên

không thích di chuyển

=> Trọng tĩnh

Sống du cư, nay đây mai đó, lềutạm bợ nên có thói quen thích dichuyển

=> Trọng động

Vì nghề trồng trọt phụ thuộc nhiều

vào thiên nhiên nên cư dân rất tôn thờ,

gắn bó, sùng bái tự nhiên, mong muốn

hòa hợp với thiên nhiên

Vì luôn di chuyển nên cuộc sốngcủa dân du mục không phụ thuộcvào thiên nhiên, nảy sinh tâm lýcoi thường thiên nhiên và có thamvọng chinh phục, chế ngự tựnhiên

Tính cộng đồng cao do cuộc sống

nông nghiệp, phụ thuộc vào tự nhiên,

Vì sống du cư nên tính gắn kếtcộng đồng của dân du mục không

Trang 2

buộc cư dân phải sống định cư, tính

cộng đồng gắn kết, liên kết sức mạnh

cao, đề cao tính cá nhân dẫn đếntâm lý ganh đua, cạnh tranh, hiếuthắng, lối sống độc tôn, độc đoántrong tiếp nhận, cứng rắn trongđối phó

Phương thức sản xuất phụ thuộc vào

nhiều yếu tố tự nhiên nên hình thành

kiểu tư duy tổng hợp biện chứng, coi

trọng kinh nghiệm chủ quan, cảm tính

Nghề chăn nuôi du mục đòi hỏi sựkhẳng định vai trò của cá nhân,đối tượng hàng ngày con ngườitiếp xúc là đàn gia súc với từng cáthể độc lập nên hình thành kiểu tưduy khách quan, lý tính, phân tíchchú trọng vào từng yếu tố, coitrọng khoa học thực nghiệm

Do tư duy tổng hợp biện chứng nên

hình thành thái độ ứng xử hiền hòa,

linh hoạt mềm dẻo, trọng tình

Do kiểu tư duy phân tích nên hìnhthành lối sống hiếu chiến, độc tôn,cứng rắn, trọng lý, ứng xử theonguyên tắc => Thói quen tôntrọng pháp luật vì vậy mà hìnhthành rất sớm ở phương Tây

Thiên về thơ, nhạc trữ tình, thiên văn,

triết học, tâm linh và tôn giáo, thiên về

văn hóa nông thôn

Thiên về khoa học tự nhiên, kĩthuật và văn minh thành thị

Trang 3

Câu 2: Hãy chứng minh rằng Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình? (có thể tham khảo thêm tại câu 2 của https://123docz.net//document/3295212-de-cuong-dai-cuong-van-hoa-viet-nam.htm)

Do Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, với điều kiện vị trí địa lí,

tự nhiên thuận lợi, nằm ở góc tận cùng phía Đông – Nam Châu Á, khí hậu nóng ẩm, mưanhiều, có nhiều con sông lớn như sông Hồng, sông Mekong… nhiều vùng đồng bằng phù samàu mỡ là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp lúa nước nên văn hóa Việt Namthuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình

Người Việt thích cuộc sống định cư, ổn định, không thích sự di chuyển, thay đổi, tìnhcảm gắn bó với quê hương xứ sở, với làng, nước… nên hình thành lối sống tự trị, khép kín,hướng nội

Do cư dân Việt Nam sống bằng nghề nông nghiệp nên rất sùng bái tự nhiên, luônmong muốn mưa thuận gió hòa để có cuộc sống no đủ “Lạy trời, ơn trời…”, có nhiều tínngưỡng, lễ hội sùng bái tự nhiên vì vậy phổ biến ở các tộc người trên khắp mọi miền đấtnước

Cuộc sống định cư tạo cho người Việt có tính gắn kết cộng đồng cao, xem nhẹ vai trò

cá nhân: “Bán anh em xa mua láng giềng gần, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”

Lối sống trọng tình nghĩa, các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lí, ứng xửnhiều hóa, nhân ái, không thích sức mạnh, bạo lực

Cuộc sống định cư ổn định của nghề nông nghiệp trồng trọt cần đến vai trò chăm lothu vén của người phụ nữ, vai trò của người phụ nữ được tôn trọng và đề cao

Lối tư duy tổng hợp – biện chứng, nặng về kinh nghiệm chủ quan cảm tính cũng thểhiện rõ trong văn hóa nhận thức, ứng xử của người Việt, coi trọng kinh nghiệm chủ quanhơn là cơ sở khách quan và tri thức khoa học Kiểu tư duy thiên về chủ quan, cảm tính kêthợp lối sống trọng tình đã tạo nên thói quen tư duy, ứng xử tùy tiện Lối tư duy tổng hợp –biện chứng cũng là nguyên nhân dẫn đến lối ứng xử mềm dẻo, linh hoạt

Như vậy, loại hình văn hóa Việt Nam được xem là loại hình văn hóa gốc nông nghiệptrồng trọt điển hình, đều được thể hiện rõ nét trong cách tổ chức đời sống phương thức tưduy, lối ứng xử của người Việt và được xem là nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam

Trang 4

Câu 3: Hãy chỉ ra khả năng tận dụng, thích nghi và ứng phó với môi trường tự nhiên của người Việt được thể hiện ở lĩnh vực văn hóa vật chất.

Trong sản xuất vật chất, người Việt tận dụng điều kiện tự nhiên nóng ẩm, mưa nhiều

để phát triển nghề nông trồng lúa nước Quá trình cải tạo và chinh phục tự nhiên, đắp đê, lấnbiển đã tạo nên những vùng đồng bằng để chuyên canh lúa nước Người Việt còn tận dụngđiều kiện tự nhiên để trồng các loại cây cho củ, quả, lá, sợi, để làm các nghề thủ công vàchăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy hải sản

Là nước nông nghiệp nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thực vật ởViệt Nam rất đa dạng, phong phú Bên cạnh đó, nước ta có hệ thống sông ngòi chằng chịt,

do đó thủy sản cũng phong phú không kém Cũng từ đó, trong văn hóa ẩm thực, một bữa ăntruyền thống của người Việt gồm 3 thành phần chính: cơm, rau, cá

Trong văn hóa trang phục, người Việt biết tận dụng các điều kiện tự nhiên chọn cácmàu sắc trang phục phù hợp với môi trường sông nước như màu nâu, màu đen…, sử dụngcác chất liệu may mặc có sẵn trong tự nhiên

Văn hóa ở: Tận dụng điều kiện tự nhiên, có sẵn trong tự nhiên người Việt xây nhàbằng các chất liệu như gỗ, tre, nứa, rơm rạ… Kiến trúc nhà thích ứng với tác động xấu củamôi trường, không gian mở hòa hợp với thiên nhiên Ngoài ra, người dân còn xây dựng nhàtránh hướng gió lấy hướng mặt trời, hay xây dựng nhà cửa gần sông suối để tiện lấy nướcsinh hoạt, trồng trọt

Văn hóa đi lại: do điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhiều sông ngòi…tận dụng sông nướcnên phương tiện đi lại của người Việt chủ yếu là thuyền, ghe, đò, xuồng…

Câu 4: Hãy chỉ ra sự ứng xử với môi trường xã hội của người Việt được thể hiện

ở lĩnh vực văn hóa vật chất (tham khảo thêm tại câu 5: https://123docz.net//document/3295212-de-cuong-dai-cuong-van-hoa-viet-nam.htm)

Sự ứng xử với môi trường xã hội của người Việt ở lĩnh vực văn hóa vật chất được thểhiện qua việc coi trọng nông nghiệp, chính sách khuyến nông tích cực, khuyến khích khaihoang, mở rộng diện tích canh tác, bảo vệ sức kéo trong văn hóa sản xuất vật chất

Trong văn hóa ẩm thực thể hiện ở tính cộng đồng và tính mực thước, bữa ăn củangười Việt là ăn chung nên người Việt rất thích trò chuyện nên qua đó cũng thể hiện thái độứng xử chừng mực trong ăn uống Ngoài ra, trong văn hóa ẩm thực còn thể hiện tính linhhoạt theo mùa, theo vùng miền, cách chế biến và lựa chọn món ăn và trong dụng cụ ăn đó làđôi đũa

Trang 5

Trong sự ứng xử với môi trường xã hội, trang phục của người Việt luôn thể hiện vẻkín đáo, tế nhị.

Kiến trúc nhà ở mang tính cộng đồng, giao thông đi lại chủ yếu bằng đường thủy nênvăn hóa cũng gắn liền với những phương tiện đi lại, coi đó như là nền tảng cho thái độ ứng

xử văn hóa với môi trường xã hội

Câu 5: Hãy chỉ ra mối liên hệ giữa thuyết Âm dương - Ngũ hành với sự hình thành các triết lí sống của người Việt (tham khảo thêm ở câu 6: https://123docz.net//document/3295212-de-cuong-dai-cuong-van-hoa-viet-nam.htm)

Thuyết Ngũ hành cho rằng, các loại vật chất cấu tạo nên vũ trụ luôn tồn tại trong sựvận động và quan hệ với nhau theo hai hướng, hoặc tương sinh hoặc tương khắc

a) Thuyết Âm dương - Ngũ hành: Là một hệ thống quan niệm triết học của người

Trung Hoa cổ đại nhằm khái quát bản chất và qui luật vận hành của vạn vật trong vũ trụ.Nội dung cơ bản của thuyết Âm – dương: Quá trình hình thành vũ trụ:

Thái cực à Lưỡng nghi: Âm / Dương; Đất / Trời; Gái / Trai

Lưỡng nghi sinh tứ tượng: Đất - Trời - Mặt trăng - Mặt trời; Xuân - Hạ - Thu - Đông

Tứ tượng à Bát quái: Càn (trời) – Đoài (đầm) – Ly (lửa) – Chấn (sấm) – Tốn (gió) –Khảm (nước) – Cấn (núi) – Khôn (đất)

Biến hóa thành muôn vàn sự vật, tình huống, trạng thái trong tự nhiên / xã hội

- Qui luật tương tác Âm – Dương:

+ Âm – dương hợp thành mọi sự vật

+ Âm – dương tồn tại trong nhau, không thể tách rời: trong âm có dương, trongdương có âm

+ Âm dương bù trừ nhau để tồn tại

+ Âm dương chuyển hóa: âm cực à dương; dương cực à âm

b) Thuyết Ngũ hành

- Thuyết Âm dương à bản chất tinh thần (định tính) của vũ trụ

- Thuyết Ngũ hành: cấu trúc vật chất (định lượng) của vũ trụ

* Nội dung của thuyết Ngũ hành:

- Vũ trụ được cấu tạo bởi năm loại vật chất cơ bản (5 hành): Kim - Mộc - Thủy - Hỏa

- Thổ

+ Đặc tính cơ bản của mỗi hành: - Thủy (nước): lạnh, hướng xuống; - Hỏa (lửa):nóng, hướng lên; - Mộc (cây): dài, thẳng, sinh sôi; - Kim (kim loại): thanh tĩnh, thu sát; -Thổ (đất): nuôi lớn, hóa dục

Trang 6

- Thuyết Âm dương - Ngũ hành là cơ sở hình thành các triết lí sống của người Việt:+ Triết lí về sự đối xứng, cặp đôi (Âm – Dương)

+ Triết lí sống quân bình (Già néo đứt dây; Đầy quá sẽ đổ…)

+ Triết lí sống lạc quan (Trong rủi có may, trong họa có phúc; Khổ trước sướngsau…)

- Chi phối các hành động thực tiễn:

+ Tính toàn diện (hai mặt) : - Tính vận động, biến đổi (lịch sử, cụ thể): - Tínhquan hệ (tương tác lẫn nhau)

- Ứng dụng trong đời sống văn hóa tâm linh: - Dùng thuyết Âm dương: - Ngũ hành

để coi tử vi, bói toán, chọn đất làm nhà, mai táng, xem việc hôn nhân, kết bạn, hợp tác làm

ăn, …

- Ứng dụng trong y học cổ truyền: Y học phương Đông chẩn đoán và chữa bệnh dựatrên nguyên lý về sự tương tác Âm dương và luật sinh / khắc của Ngũ hành giữa các bộ phậntrong cơ thể người

Câu 6: Hãy trình bày những hiểu biết của anh chị về phật giáo của Việt Nam và vai trò của phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay?

Văn Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ cao thứ hai cả nước (theo số liệu năm 2019)

Từ số liệu trên, có thể thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa tinh thần người Việt

ta là rất lớn

Phật giáo của VN

Khác với Nho giáo, Phật giáo du nhập vào nước ta bằng con đường hòa bình nên đãnhanh chóng bén rễ ngay từ thời Bắc thuộc Vào những thế kỉ đầu thời kì Đại Việt, Phật giáophát triển rất nhanh và đạt tới cực thịnh vào thời Lý – Trần (thế kỉ XI - XIII)

Phật giáo là một trong ba luồng tư tưởng nổi bật của tư tưởng và tôn giáo thời ĐạiViệt và cho đến ngày nay Vào những thế kỉ đầu thời kì Đại Việt, phật giáo phát triển rấtnhanh và đạt tối cực thịnh vào thời Lý – Trần và được xem là quốc giáo với những đặc điềmnổi bật như sau:

Tính nhập thế: Giáo lý của Phật giáo là cứu khổ cứu nạn, phổ độ chúng sinh, luônđồng hành với cuộc sống chúng sinh bằng những việc làm thiết thực, tham gia các hoạt độngXH: nhà chùa mở trường dạy học, tham gia đào tạo tri thức, nhiều nhà sư đồng thời đồngthời là thầy thuốc chữa bệnh cho dân Giáo lý Phật giáo được người Việt cụ thể hóa trongcác mối liên hệ đời thường

Trang 7

Tính tổng hợp là một trong những đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, chi phối đếnthái độ ứng xử với Phật giáo làm nền sắc thái riêng của Phật giáo Việt Nam:

- Dung hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng và truyền thống văn hóa bản địa: dunghợp với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, với tín ngưỡng thờ Mẫu giữa việc thờ Phật với thờ các

vị thần, Thánh, Mẫu, Thành Hoàng, Thổ địa…

- Dung hợp giữa các tông phái Phật giáo

- Dung hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác như nho giáo, đạo giáo và bổ sungcho nhau để cùng hướng về một mục đích vì cuộc sống tốt đẹp cho con người

Vai trò của phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay

Ngay từ đầu, người Việt đã có tín ngưỡng dân gian riêng của mình Người Việt coiÔng Trời như là 1 đấng tối cao, ở trên cao, thấu rõ mọi nỗi khổ của con người, giúp họ đạtđược ước nguyện, trừng trị kẻ ác,… Quan niệm này khiến cư dân Việt dễ tiếp nhận thuyếtnhân quả, luân hồi của đạo Phật Từ đó, Phật giáo đã bén rễ sâu vào truyền thống tín ngưỡng

và văn hóa dân gian của quần chúng, khẳng định sự hiện diện qua hàng ngàn ngôi chùa trênkhắp mọi miền đất nước Với người dân Việt, giáo lý phật giáo đã thấm sâu vào triết lí sống,ngôi chùa là nơi giáo dục đạo đức và lòng hướng thiện, nơi an cư của tâm hồn là trung tâmsinh hoạt cộng đồng và cũng là nơi ẩn chứa các giá trị văn hóa truyền thống đã có lịch sử từlâu “Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống ngàn năm của tổ tiên”

Và đến ngày nay, trong số các tôn giáo có mặt ở Việt Nam, Phật giáo vẫn là tôn giáolớn nhất, có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi nhất Theo viện nghiên cứu tôn giáo thì hiện nayViệt Nam có khoảng 7 đến 8 triệu tín đồ Phật giáo, chiếm đến 10% dân số Hiện nay, sốlượng người đi chùa ngày càng đông, có niềm tin vào thuyết nhân quả, luân hồi Ăn chayvào các ngày rằm, mồng một, có treo ảnh phật và bàn thờ Phật trong nhà Qua đó ta thấyđược vai trò của Phật giáo trong đời sống văn áo tinh thần của người Việt từ xưa đến nay

Câu 7: Hãy trình bày những hiểu biết của anh/ chị về Nho giáo ở Việt Nam và vai trò của Nho giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay.

Đáp án kiếm được trên mạng:

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc và đến thế kỉ XV, Nho giáo đượcxem là đạt đến cực thịnh khi nhà Lê tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo Các triều đạiphong kiến Đại Việt lấy Nho giáo làm nền tảng để xây dựng hệ tư tưởng, đạo đức, giáo dục,pháp luật, qua đó để xây dựng mô hình nhân cách con người Tuy nhiên do sự phân phối củavăn hóa bản địa nên Nho giáo Trung Hoa đã được người Việt tiếp nhận và vận dụng mộtcách sáng tạo và linh hoạt:

Trang 8

Nếu Nho giáo Trung Hoa đặc biệt coi trọng tư tưởng trung quân, quyền lực của nhàvua được đế cao tuyệt đối thì Nho giáo Việt Nam tuy vẫn đề cao tư tưởng này nhưng khôngcực đoan đến mức phải hy sinh tính mạng vì vua, quan niệm trung quan của người Việt gắnliền với ái quốc, trong nhiều trường hợp nước còn được đề cao hơn vua Người Việt đề caotinh thần yêu nước, thương dân, lấy dân làm gốc.

Các khái niệm cơ bản của Nho giáo như nhân, nghĩa đã bị khúc xạ qua lăng kính củangười Việt, nó không chỉ là một khái niện hạn hẹp về đạo đứcmà nó còn trở thành một lýtưởng xã hội cao đẹp vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân – “Việc nhân nghĩa cốt

ở yên dân” trong Cáo bình Ngô của Nuyễn Trãi

Tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo khi vào Việt Nam cũng nhẹ bớt đi bởitruyền thống trọng phụ nữa có trong văn hóa bản địa

Mặc dù, không thể phủ nhận một thực tế rằng trong gần 10 thế kỉ xây dựng và củng

cố nhà nước phong kiến nho giáo đã trở thành nền tảng tư tưởng chi phối về mọi mặt của đờisống xã hội Việt Nam, thấy được vai trò của Nho giáo trong đời sống tư tưởng và văn hóatinh thần của người Việt:

- Là nền tảng tư tưởng chính trị để tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ sở pháp lý để quản

lý, duy trì dự ổn định của xã hội dựa trên các mối quan hệ cộng đồng xã hội và gia đình theoquan niệm tam cương, ngũ thường

- Xây dựng nền tảng đạo đức, củng cố các mối quan hệ gia đình theo thứ bậc, kỹcương của giáo lý nho giáo, xác lập chuẩn mực đạo đức để xây dựng mô hình nhân conngười Việt Nam truyền thống với các tiêu chí: đạt đức, đạt đạo

- Ngoài ra, nho giáo đã chi phối trực tiếp và toàn diện hệ thống giáo dục, thi cử truyềnthống, từ mục đích đến nội dung và phương pháp giáo duc

Tìm hiểu:

A Nho giáo ở Việt Nam:

Việt Nam là một nước bé nhỏ bên cạnh một nước vĩ đại Trung Hoa, dân VN lại kémvăn minh, nên VN bị Trung hoa đô hộ 4 lần kéo dài đến hơn 1000 năm

Trong khoảng thời gian bị đô hộ đó, người Tàu có ý đồng hóa dân VN với dân Tàu,biến VN thành một châu quận của nước Tàu Người Tàu đã di dân sang VN, làm ăn buônbán với người VN, cưới gả với người VN, truyền qua VN các phong tục tập quán của Tàu,các nghề nghiệp và các tín ngưỡng Tuy nhiên, người VN có một tinh thần dân tộc rất mạnh,luôn luôn quật khởi chống lại sự đồng hóa của người Tàu VN lại có tinh thần cầu tiến, luôn

Trang 9

luôn học hỏi cái hay của người để được khôn ngoan và tiến bộ cho bằng người Tàu, để đủsức bảo tồn nói giống VN.

Về phương diện tín ngưỡng tôn giáo, người Tàu truyền qua VN ba nền tôn giáo (Tamgiáo): Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo Người VN thu nạp và tôn sùng 3 nền tôn giáo đó,đồng thời lại dung hợp 3 tôn giáo ấy thành một tín ngưỡng có sắc thái riêng biệt của ngườiVN

Riêng về Nho giáo, người Tàu truyền qua VN sớm hơn Phật giáo và Lão giáo, quacác vị quan sang làm Thái Thú cai trị Việt Nam

Theo Sử Ký, vào thế kỷ thứ 1, đời nhà Tây Hán bên Tàu, Thái Thú cai trị Giao Chỉ(nước VN) là Tích Quang, hết lòng lo việc khai hóa dân Giao Chỉ, dạy dân điều Lễ Nghĩa,làm lễ Cưới Hỏi trong việc vợ chồng Dân Giao Chỉ rất mang ơn và kính trọng

Đến đầu thế kỷ thứ 3, VN vẫn còn nội thuộc nhà Tây Hán, Giao Chỉ được đổi lại làGiao Châu, và Thái Thú cai trị là Sĩ Nhiếp Sĩ Nhiếp trị dân rất có phép tắc, chăm lo việc dạydân học chữ Nho và các kinh sách của Nho giáo, tạo thành một nền đạo đức luân lý cho dân

VN Người VN cảm mộ cái công đức đó, tôn Sĩ Nhiếp là Sĩ Vương và tôn là Học Tổ củaVN

Trong hơn 1000 năm đô hộ của người Tàu, người VN chịu sự cai trị và giáo hóa củangười Tàu, nên sự học vấn, luân lý, phong tục, tín ngưỡng, đều hoàn toàn theo người Tàu.Tuy vậy, người Tàu không đồng hóa được người VN vì người VN có một đức tin mạnh mẽ

về nguồn gốc thiêng liêng của nòi giống dân tộc mình là con Rồng cháu Tiên, nên luôn luônquật khởi chống lại sự đô hộ của người Tàu

(phần dưới đọc tham khảo)

10.1 Nho giáo VN dưới thời: Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành và nhà Lý

Trong các triều đại này, Tam giáo đều được thịnh hành cả Nho giáo theo cái học củanhà Đường, và cái học của Nho giáo là cái học Khoa cử để tuyển lựa nhân tài

Đến đời vua Lý Thánh Tông (1034-1072), Văn Miếu được lập ra để thờ Đức Khổng

Tử, Châu Công Đán và Thất thập nhị Hiền

Lý Nhân Tông (1072-1127) mở khoa thi Tam Trường (1075) để tuyển người văn họcNho giáo ra làm quan, ông Lê văn Thịnh đỗ đầu Sau đó, vua Nhân Tông lập Quốc Tử Giám,

Trang 10

là nhà dạy học, đào tạo nhân tài; mở Hàn Lâm Viện, có Nho gia là Mạc Hiển Tích làm HànLâm Học Sĩ.

Nho giáo đời Nhà Lý thạnh hơn các triều đại trước, và nhờ vậy, sản xuất được nhiều

vị hiền lương, trung nghĩa, tiết tháo Những người Nho học có danh tiếng lớn dưới thời nhà

Lý là Lý Đạo Thành, Trương Bá Ngọc, Tô Hiến Thành Những vị này, tuy không phải lànhững học giả chuyên nghề luận đạo làm văn, nhưng biết dùng cái tinh hoa của Nho học màthi thố trong việc làm, xứng đáng là những danh Nho

10.2 Nho giáo VN dưới thời nhà Trần, nhà Hồ

Đến đời nhà Trần, Nho giáo thịnh hơn trước, có nhiều nhà Nho chân chính như: MạcĐỉnh Chi, Trương Hán Siêu, Chu văn An, Lê văn Hưu, Nguyễn Phi Khanh, Hàn Thuyên, …Đặc biệt trong thời nhà Trần, ngoài Nho học còn có Lão học và Phật học cũng rất được tôntrọng Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Tam giáo, chọn những người tài giỏi về Nho học,hay Lão học, Phật học Ai theo cái học nào mà tinh thâm đạo lý thì được vua dùng, khôngnhất thiết phải là Nho học Như thế, Tam giáo bấy giờ được xem trọng như nhau

Nhà Hồ soán ngôi nhà Trần Nhà Minh bên Tàu có cớ đem quân sang đánh chiếm và

đô hộ nước ta, đặt ra các học quan, đem cái học của Tống Nho dạy cho dân, lấy Ngũ Kinh,

Tứ Thư của họ Trình, họ Chu đã chú thích mà dạy Cái học của Trình của Chu càng ngàycàng thịnh

10.3 Nho giáo dưới thời nhà Lê, nhà Mạc

Vua Lê Thái Tổ (1428-1433) hết lòng mở mang việc học, đặt riêng các Học quan để

lo việc giáo hóa Vua bắt các quan từ Tứ phẩm trở xuống phải đi thi Minh Kinh, nghĩa làquan văn thì phải thi Kinh Sử, quan võ thì phải thi Võ Kinh

Đến đời Lê Thánh Tôn (1460-1497), văn học nước ta cực thạnh Những người thi đậuTiến Sĩ được khắc tên lên bia đá dựng trong Văn Miếu Những danh Nho thời nhà Lê là:Nguyễn Trãi, Lương thế Vinh, Lương đắc Bằng, và thời Lê Trung Hưng là: Phùng khắcKhoan, Lương hữu Khánh, Phạm đình Trọng

Đặc biệt trong thời nhà Mạc, trước Lê Trung Hưng, xuất hiện một đại danh Nho làNguyễn bỉnh Khiêm, tinh thông Lý số và Dịch Kinh, làm cho người Tàu phải kính phục

Trong thời nhà Lê nói chung, Nho giáo rất thạnh, nhưng các Nho gia chỉ chú trọng cáihọc khoa cử, vụ lấy văn chương cầu sự đỗ đạt ra làm quan, chớ không có ai đạt được chỗuyên thâm của Nho giáo, tìm được đạo lý cao siêu mà đề xướng các học thuyết có giá trị nhưbên Tàu Đó là chỗ yếu kém của Nho học nước ta

Trang 11

10.4 Nho giáo dưới thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long

Trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Nho học ít được các vua chúa quan tâm, mà chỉ

lo việc võ bị để đánh nhau Sự học hành thi cử đại khái giống như thời nhà Lê, luôn luôn lấyNho học làm trọng Một việc quan trọng là Chúa Trịnh Giang ra lịnh in sách Trước đây, cácsách Nho như Ngũ Kinh, Tứ Thư đều mua từ bên Tàu, nay Chúa Trịnh Giang ra lịnh khắcbản in tại Thăng Long và phát ra mọi nơi

Ở Bắc Hà có các danh Nho như: Lê Quí Đôn, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Du Ở phía Nam,Chúa Nguyễn bận lo việc mở mang bờ cõi xuống phương Nam nên ít quan tâm đến Nho học,làm cho Nho học ở phía Nam kém xa phía Bắc, nhưng cũng sản xuất được một vài danh Nhotài kiêm văn võ như: Đào duy Từ, Nguyễn hữu Dật, Nguyễn hữu Tiến, Nguyễn hữu Hào vớitruyện Song Tinh Bất Dạ

Thời nhà Tây Sơn (1788-1802) kéo dài 14 năm, bị chiến tranh liên miên, nên Nhohọc không được chú trọng Có một sự kiện đặc biệt, vua Quang Trung ra lệnh chính thứcdùng chữ Nôm trong văn tự, để gây thành một tinh thần dân tộc mạnh mẽ của người VN.Một nền văn học chữ Nôm đã được các Nho gia ủng hộ từ trước nhưng không được các vuachính thức công nhận và phát huy, mãi đến đời vua Quang Trung mới được mở ra thay thếnền văn học chữ Hán

Chữ Nôm đã được Hàn Thuyên chế ra từ đời nhà Trần, hình thức giống như chữ Hán,nhưng đọc thành tiếng nước Nam Điều này chứng tỏ ý thức dân tộc của người VN muốnthoát khỏi sự lệ thuộc hoàn toàn vào văn tự Trung quốc Những tác phẩm chữ Nôm rất cógiá trị tiêu biểu nền văn học VN như: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Truyện Hoa Tiên củaNguyễn huy Tự, Truyện Song Tinh Bất Dạ của Nguyễn hữu Hào, vv Trong thời kỳ này

có những bậc Nho học uyên thâm, khí tiết cao thượng, ẩn dật chốn sơn lâm, không chịu ralàm quan, như các ông: Ngô thế Lân, Đặng thái Phương, Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử),đặc biệt ông Đặng thái Phương đem sách Chu Dịch ra diễn Nôm theo lối văn vần, gọi là ChuDịch Quốc Âm quyết

Vua Gia Long đánh đuổi Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn, rất chú trọng việc học Vuacho lập Văn miếu ở các Doanh, các Trấn để thờ Đức Khổng Tử, tỏ lòng tôn trọng Nho học,

mở trường Quốc Tử Giám để dạy Nho học Văn chương chữ Nôm rất thịnh, nhưng nhà vuavẫn dùng chữ Hán làm chính

Các vua triều Nguyễn rất tôn trọng Nho học, sửa sang việc thi cử để chọn nhữngngười Nho học tài giỏi ra giúp nước Nhiều Nho sĩ nổi tiếng như: Lý văn Phức, Nguyễn

Trang 12

công Trứ, Phan huy Chú, Nguyễn Khuyến, vv Vua Gia Long phục quốc thành công nhờ sựviện trợ của nước Pháp ở Âu Châu, nên phải cho các Giáo sĩ người Pháp vào VN truyền đạoThiên Chúa Thiên Chúa giáo đã làm cho Nho học lung lay mạnh mẽ Vua Minh Mạng nói:

“Đạo phương Tây là Tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục, nên phảinghiêm cấm để khiến cho dân theo Chính đạo.”

Việc cấm đạo Thiên Chúa bắt đầu từ thời vua Minh Mạng Đây chính là nguyên do đểngười Pháp xâm chiếm nước ta, đặt nền thống trị lên dân tộc ta gần một thế kỷ Thiên Chúagiáo và Triết học Tây phương du nhập vào VN làm cho Nho giáo mất hẳn độc tôn trong xãhội VN

10.5 Nho giáo dưới thời Pháp thuộc và Sự suy tàn của Nho giáo VN

Tầng lớp Nho sĩ đang lãnh đạo xã hội VN, khi phải đương đầu với nền văn hóa ÂuTây, thấy người ta hùng mạnh văn minh, còn mình thì yếu hèn hủ lậu, nên tưởng lầm cáinguyên nhân gây ra sự hùng mạnh kia là do máy móc cùng đầu óc khoa học cơ giới Thế rồimột số sĩ phu chủ trương rũ sạch quá khứ, bài bác Đạo học cổ truyền, cho đó là nguyên nhângây ra yếu hèn và thất bại Họ chủ trương hoàn toàn theo Tân học

Người Pháp đem đạo Thiên Chúa truyền bá trong nước VN, dành cho người theo đạonhiều quyền lợi vật chất Các Giáo sĩ Thiên Chúa giáo, vì nhu cầu truyền đạo, nên phiên âmtiếng VN bằng cách dùng các mẫu tự của chữ Pháp để tạo thành chữ quốc ngữ ngày nay Đó

là công trình của 2 Giáo sĩ: Alexandre de Rhode (Đắc Lộ) và Pigneau de Béhaine (Bá ĐaLộc)

Chữ quốc ngữ rất dễ học hơn chữ Hán hay chữ Nôm, nên được phái Tân học ủng hộtriệt để và dần dần thay thế hoàn toàn chữ Hán trong việc giáo dục

Năm 1918, triều đình Huế, dưới sự bảo hộ của nước Pháp, đã ra lệnh bãi bỏ việc thi

cử bằng chữ Hán Nhờ vậy, chữ quốc ngữ mới trở nên quan trọng và thiết yếu cho sự tiếnhóa của VN Chữ Hán là một lợi khí của Nho giáo, mà ngày nay đã bị bãi bỏ thì Nho họccũng không còn được trọng dụng và tồn tại nữa Cái học từ chương, xa rời thực tế của Nhogiáo thực sự chấm dứt, nhường chỗ cho Tân học với chữ quốc ngữ

Tóm lại, đường lối học thuật và tư tưởng của Nho giáo VN từng thời kỳ đều biến đổigiống như Nho giáo Trung hoa Những Nho gia VN cho rằng những tư tưởng mà ThánhHiền đã nói trong các Kinh, Thư, Truyện đều đầy đủ hết cả, không còn ai biết hơn đượcnữa, nên Nho gia chỉ chăm chăm học cho làu thuộc những điều ấy và cố gắng đem ra thựchành Do đó, không có Nho gia nào đạt được cái uyên thâm cao viễn của Nho giáo mà phát

Trang 13

minh ra một học thuyết mới mẻ nào Nho giáo VN chỉ nằm trong phạm vi Hình Nhi Hạ học

mà thôi

1440.html )

(nguồn:https://hahoangkiem.com/van-hoa-xa-hoi/tim-hieu-ve-nho-giao-khong-giao-B Vai trò của Nho giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt xưa và nay:

Những tác động tích cực chủ yếu của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam

Tính từ khi bắt đầu du nhập cho đến lúc suy vong, Nho giáo đã có lịch sử 1900 nămtruyền bá ở Việt Nam Thời Bắc thuộc, trong những thế kỷ đầu công nguyên, các quan cai trịngười Hán như Tích Quang (1 - 5), Nhâm Diên (29 - 33), Sĩ Nhiếp (187 - 226), Đỗ Tuệ Độ(đầu thế kỷ V) đã ra sức truyền bá Nho giáo ở Giao Châu Cũng trong thời kỳ này, các đoànngười Hán di thực và tị nạn nối tiếp nhau kéo xuống Giao Châu, mang theo văn hóa Hán.Tuy nhiên, đây là thời kỳ mà văn hóa Việt - Mường đã đạt tới những thành tựu đỉnh cao, cósức mạnh văn hóa nội tại, và có khả năng chọn lọc, chuyển hóa những yếu tố văn hóa mới

du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hóa nội tại của mình Trong khi đó, Nho giáo là công

cụ củng cố thể chế nhà nước của quân xâm lược Vì vậy, trải qua cả nghìn năm, Nho giáovẫn không thâm nhập được vào văn hóa Việt - Mường Cư dân Việt - Mường vẫn bảo tồnđược văn hóa tộc người, ý thức tộc người, ý chí quật cường và nhu cầu đấu tranh vì độc lập

Trang 14

tôn giáo chính thống điều chỉnh hành vi và đạo đức như trước nữa Sự đột khởi của phongtrào Duy Tân - Đông Du (1905 - 1908) đã đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan tài củaNho giáo ở Việt Nam.

Điểm sơ qua như vậy, có thể thấy rằng, giai cấp phong kiến Việt Nam thượng tônNho giáo không chỉ do nhu cầu xây dựng quốc gia, mà còn vì và chủ yếu là vì Nho giáo cóích đối với việc cai trị nhân dân Vì vậy, tuy có lúc thăng lúc trầm, nhưng bao giờ Nho giáocũng là chiếc phao chống đắm của các triều đại phong kiến Việt Nam, kể từ khi vua LýThánh Tông dựng Văn Miếu ở Thăng Long năm 1070, cho đến khi triều đình Huế ký Hòaước Quý Mùi (năm 1883) giao chủ quyền quốc gia cho Pháp

Do sự truyền bá chủ động và kiên trì của giai cấp phong kiến, trong thời trung đại,Nho giáo đã thẩm thấu vào một một bộ phận của chủ thể văn hóa Việt Nam là giai cấp quýtộc, quan lại và tầng lớp nho sĩ, quan viên Nho giáo cũng bén rễ vào một bộ phận văn hóatinh thần của xã hội, làm hình thành dòng văn hóa quan phương chính thống bên cạnh cáchoạt động văn hóa tinh thần của dân gian Bằng cách đó, văn hóa tinh thần của Việt Nam đã

bị Hán hóa một phần Cũng bằng cách đó, Nho giáo đã được Việt hóa một phần trong quátrình thâm nhập vào văn hóa Việt Nam

Do tác động từ Nho giáo nên sự phân hóa xã hội ở Việt Nam thêm sâu sắc, chủ thểvăn hóa Việt Nam bị chia đôi; hình thành tầng lớp nho sĩ, giai cấp quý tộc, quan lại theohình mẫu Nho giáo, tồn tại bên cạnh các giai cấp, tầng lớp sẵn có của xã hội Việt Nam xưa(nông dân, thợ thủ công, thương nhân) Tầng lớp nho sĩ và quan lại ấy có trách nhiệm kinhbang tế thế, trị quốc an dân, và tùy theo thời thế mà chọn lựa cách ứng xử, xuất và xử, hành

và tàng Còn các giai cấp, tầng lớp lao động thì có trách nhiệm bảo đảm nhu cầu vật chất chocác giai cấp, tầng lớp bên trên và cho bản thân mình

Lịch sử Việt Nam có rất nhiều nhà nho có phẩm hạnh, khí tiết cao cả, như Mạc ĐĩnhChi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Võ Trường Toản, Ngô Tùng Châu,Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản,Trần Tiễn Thành, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huy Đức, Nguyễn Thức

Tự, Khiếu Năng Tĩnh, Trần Đình Phong, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Đặng NguyênCẩn, Ngô Đức Kế, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Những nhà nhonày, dù lúc bình thời hay khi vận nước gian nan, vẫn tỏ rõ khí tiết và phẩm hạnh, đồng thời

có thái độ và hành động vì nước, vì dân

Trang 15

Trong các hoạt động văn hóa, Nho giáo tác động chủ yếu vào các hoạt động văn hóatinh thần Trong văn hóa tổ chức cộng đồng, ở cấp độ gia đình, Nho giáo phối hợp với vănhóa Hán làm hình thành chế độ gia đình phụ hệ đi đôi với nam quyền cực đoan, tồn tại songhành với truyền thống trọng nam đi đôi với trọng nữ của văn hóa dân gian Trong gia đình,gia tộc, quốc gia, Nho giáo trực tiếp làm hình thành chế độ tông pháp, trao quyền thừa kế,thừa tự cho con trai trưởng chính dòng, song hành với tập quán trao quyền thừa kế, thừa tựcho con trai út của dân gian Trên bình diện quốc gia, Nho giáo là cơ sở làm hình thành tổchức nhà nước của Đại Việt, bao gồm hệ thống hành chính, tổ chức quân sự, quan chế,lương bổng mô phỏng Trung Hoa, tồn tại song hành với tổ chức cộng đồng cấp làng quê rađời từ thời Văn Lang - Âu Lạc.

Về tín ngưỡng, nhà nho Việt Nam coi Nho giáo như là tôn giáo; gạt bỏ, bài xích cáctôn giáo khác ngoại trừ những nội dung được Nho giáo chấp nhận và khuyến khích, nhưlòng tin vào thiên mệnh, việc tế lễ, việc thờ cúng tổ tiên Vì vậy, trong Nho giáo là tôn giáocủa đàn ông người Việt, bên cạnh các tôn giáo dành cho các bà các cô như đạo Phật, đạoMẫu

Về phong tục, sự tác động của Nho giáo và văn hóa Hán đã làm Hán hóa một phầncác phong tục vòng đời, đặc biệt là phong tục hôn nhân, phong tục tang ma Trong thời trungđại, các phong tục này đều lấy hình mẫu của Nho giáo và văn hóa Hán làm chuẩn mực.Chính vì vậy mà cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều người viết sách mô tả các phong tục vànghi thức ấy trong văn hóa Việt Nam hiện đại như thể chúng là bản sao của phong tục TrungHoa trung đại! Thật ra, bên cạnh các phong tục hôn nhân, phong tục tang ma theo hình mẫucủa Nho giáo và văn hóa Hán trước đây, người Việt ở các vùng miền khác nhau và các tôngiáo ở Việt Nam đều có cách thức riêng để thực hiện các phong tục ấy

Trong giáo dục, Nho giáo là cơ sở hình thành hệ thống giáo dục chính thống của ViệtNam trung đại ở bốn cấp kinh đô - tỉnh/đạo - phủ - huyện/châu, và chế độ thi tuyển gồm bốncấp khảo hạch - thi Hương - thi Hội - thi Đình, để đào tạo ra quan lại nhà nước, quan viênlàng xã Hệ thống giáo dục chính thống này tồn tại song hành với mạng lưới giáo dục dângian trong gia đình, làng xóm, làng nghề, nhằm giáo dục cách ứng xử với gia đình, cha mẹ,ông bà, tổ tiên, họ hàng, làng xóm, thần linh Trong lịch sử 844 năm khoa cử Hán học ởViệt Nam (1075 - 1919), nền giáo dục Nho giáo đã tạo ra hàng nghìn ông Nghè, ông Cử, ông

Tú mà trong số đó nhiều người đã nổi lên thành nhà văn hóa hay nhà khoa học, như nhà sửhọc Lê Văn Hưu, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, nhà sử học Ngô Sĩ Liên, TrạngLường Lương Thế Vinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan,nhà bác học Lê Quý Đôn, thi hào Nguyễn Du, nhà bác học Phan Huy Chú…

Ngày đăng: 13/01/2022, 03:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w