1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

90 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 10,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, kết cấu của luận văn trình bày như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về phán quyết của trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- ∞0∞ -

NGUYỄN THỊ THU THẢO

THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- ∞0∞ -

NGUYỄN THỊ THU THẢO

THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số chuyên ngành: 8 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS DƯ NGỌC BÍCH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực

hiện bằng kiến thức lý luận được học và từ thực tiễn công việc tại Cục Thi hành án dân

sự Thành phố Hồ Chí Minh với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Dư Ngọc Bích Luận văn có kế

thừa các quan điểm, các kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học khác đã nghiên cứu

đề tài tương tự Những số liệu và tài liệu sử dụng trong luận văn là chính xác Kết quả

nghiên cứu của luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

khác

T TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành quyển luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của các

thầy, cô giảng viên tại Trường trong suốt thời gian tham gia khóa học Các thầy, cô đã

cung cấp nền tảng lý luận và tư duy pháp lý trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn pháp

luật Xin chân thành cảm ơn thầy Trần Vân Long, giảng viên môn Pháp luật Giải quyết

tranh chấp bằng trọng tài đã cung cấp những tài liệu quý báu và có những ý kiến trao đổi

về trọng tài thương mại và đặc biệt là cô Dư Ngọc Bích, giảng viên môn Tố tụng dân sự

quốc tế đã giúp học viên những kiến thức nền tảng vững chắc hơn về quyền tài phán có

yếu tố nước ngoài để lên kế hoạch và hướng dẫn nghiên cứu khoa học để học viên thực

hiện được công trình này

Tác giả cũng bày tỏ sự biết ơn đến các anh, chị lãnh đạo Văn phòng, lãnh đạo

các Phòng chuyên môn và các Chấp hành viên tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ

Chí Minh đã tạo điều kiện, cung cấp các số liệu và trao đổi ý kiến tham khảo kinh nghiệm

trong quá trình tác nghiệp Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến anh Phạm Huy

Hoàng, là lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và tạo tiền

đề để tác giả tiếp bước nghiên cứu đề tài này trong bối cảnh công tác thi hành án dân sự

hiện nay

Tác giả cũng xin gửi lời tri ân lớn lao đến gia đình mình đã hỗ trợ, động viên,

chia sẻ những khó khăn, trở ngại trong suốt quá trình tham gia học tập khóa học tại

Trường và hoàn thành quyển luận văn này

T TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 6

TÓM TẮT

Kết quả tổ chức thi hành phán quyết của trọng tài (bao gồm phán quyết của trọng tài trong nước và phán quyết của trọng tài nước ngoài) trong thời gian qua tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh là rất hạn chế, tỷ lệ không cao, chưa thực sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên sau khi trọng tài thương mại ra phán quyết

Do đó, cần có sự nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan đến việc thi hành phán quyết, từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật đối với vấn đề này để việc tổ chức thi hành phán quyết được hiệu quả hơn Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích luật viết để tập trung nghiên cứu trình tự thủ tục tổ chức thi hành phán quyết theo pháp luật thi hành án dân sự và pháp luật khác có liên quan và phương pháp tổng hợp, thống kê các số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng kết quả tổ chức thi hành phán quyết của trọng tài tại Thành phố Hồ Chí Minh, nêu bật những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật để từ đó

đề xuất, kiến nghị hoàn thiện một số quy định pháp luật đối với vấn đề này Theo đó, kết cấu của luận văn trình bày như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về phán quyết của trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự; gồm: khái niệm và đặc điểm của phán quyết của trọng tài, cách thức thi hành phán quyết của trọng tài và các điều kiện để thi hành phán quyết của trọng tài cũng như ý nghĩa, vai trò của việc tổ chức thi hành phán quyết của trọng tài của hệ thống thi hành án dân sự Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự hiện nay, ý nghĩa của việc thi hành phán quyết, điều kiện để thi hành phán quyết, thủ tục thi hành phán quyết của trọng tài theo pháp luật thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng thi hành phán quyết của trọng tài thương mại tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh qua các năm, những vướng mắc, khó khăn phát sinh và những đề xuất đối với phán quyết của trọng tài thương mại, kiến nghị hoàn thiện một số quy định pháp luật về trọng tài thương mại, các quy định pháp luật liên quan đến việc tổ chức thi hành phán quyết của trọng tài thương mại nói riêng cũng như bản án, quyết định của Tòa án nói chung

Trang 7

ABSTRACT

The results of organizing the enforcement of domestic and foreign arbitral awards in recent years at the Sub-Department of Civil Judgement Enforcement of Ho Chi Minh City are very limited, the rate is not high, and the legitimate rights and interests of the parties are not really guaranteed after the awards of the commercial arbitration Therefore, it is necessary to have the theoretical research as well as practical application of laws related to the enforcement of the arbitral awards, and propose and recommend the improvement of legal regulations on this issue To do this thesis, the author uses the method of analyzing the written laws to focus on studying the order and procedures for organizing the enforcement of the awards according to the law on enforcement of civil judgments and other relevant laws and the method of synthesis and statistics of data to analyze and evaluate the current situation of the results of organizing the enforcement of arbitral awards in Ho Chi Minh City, highlight difficulties, problems and shortcomings in the regulations of the law from which to propose and recommend the improvement of some legal regulations on this issue Accordingly, the structure of the thesis is presented as follows:

Chapter 1: Concept and characteristics of arbitral awards, manner of enforcement

of arbitral awards and conditions for enforcement of arbitral awards as well as the significance and role of the organization of the enforcement of arbitral awards of the civil judgment enforcement system Enforcement of commercial arbitral awards according to current law on enforcement of civil judgments, significance of enforcement

of awards, conditions for enforcement of awards, and procedures for enforcement of arbitral awards

Chapter 2: Current status of enforcement of commercial arbitral awards at the Sub-Department of Civil Judgement Enforcement of Ho Chi Minh City over the years, problems and difficulties arising, and proposals and recommendations to improve legal regulations on commercial arbitral awards, laws on commercial arbitration, and legal

regulations related to the organization of enforcement of commercial arbitral awards

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1.3 Các phương thức thi hành phán quyết của trọng tài thương mại 10 1.2 Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân

1.2.2 Ý nghĩa của việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp

1.2.3 Điều kiện để thi hành phán quyết của trọng tài thương mại 14 1.2.4 Thủ tục thi hành phán quyết của trọng tài thương mại tại cơ quan thi

1.2.4.3 Các biện pháp cưỡng chế, xử lý tài sản để thi hành án 20

Trang 9

THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

2.2 Những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thi hành phán quyết của trọng tài

2.2.1 Những khó khăn phát sinh từ thực tiễn của phán quyết trọng tài thương

2.2.3 Những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các quy

2.3 Những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật đối với việc thi hành

phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự 52

2.3.3 Đối với quy định pháp luật liên quan việc tổ chức thi hành án dân sự 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

BLDS: Bộ luật Dân sự

BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự

THADS: Thi hành án dân sự

PQCTT: Phán quyết của trọng tài

Trang 11

Tranh chấp thương mại là một hiện tượng song hành với sự gia tăng các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu và trong phạm vi quốc nội Với bản chất của hoạt động thương mại là một quan hệ pháp luật dân sự, đề cao tính tự nguyện, sự tự thỏa thuận giữa các bên, khi xảy ra tranh chấp các bên thường tự thỏa thuận, thương lượng giải quyết với nhau Khi không thể tự giải quyết, một trong các bên có quyền yêu cầu tòa án hoặc trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại là phương thức

giải quyết tranh chấp thay cho Tòa án, thay thế cho thủ tục tư pháp, do các bên lựa chọn và cung cấp sự bảo mật cũng như thủ tục linh hoạt cho các bên mà vẫn giữ

1

Thuật ngữ “thương mại” theo nghĩa rộng bao hàm các vấn đề phát sinh từ tất cả các quan

hệ có bản chất thương mại, dù có quan hệ hợp đồng hay không Các quan hệ có bản chất thương mại bao gồm các giao dịch sau: bất kỳ giao dịch nào về mua bán hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; môi giới; cho thuê; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc nhượng quyền khai thác; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh khác; vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ Chú thích của Điều 1 (1) Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc

tế được thông qua ngày 21/6/1985 bởi Ủy ban của Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc

tế (UNCITRAL) và bản sửa đổi, bổ sung của Luật Mẫu ban hành năm 2006

Trang 12

nguyên bản chất, vai trò xét xử của trọng tài viên2 Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì phán quyết trọng tài sẽ có giá trị như một bản án Đối với các phán quyết của trọng tài quốc tế còn có thể được công nhận và cho thi hành trên phạm vi toàn cầu3 Các hệ quả về tài sản của việc thi hành phán quyết trọng tài giống với các hệ quả của việc thi hành một quyết định của tòa án

Với những yếu tố then chốt vượt trội này, phương thức giải quyết tranh chấp

thương mại bằng trọng tài thương mại đã được các quốc gia, các thương nhân trên thế giới lựa chọn sử dụng từ rất sớm và ngày càng trở nên phổ biến

Trọng tài ở Việt Nam cũng xuất hiện từ lâu4, tồn tại cùng với đời sống kinh

tế xã hội của đất nước và ngày càng củng cố, hoàn thiện và phát triển Tổ chức và hoạt động của trọng tài thương mại hiện nay được thực hiện theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật TTTM), việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại chương X từ Điều 65 đến Điều 67, trình tự thủ tục để thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật THADS) và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, trách nhiệm tổ chức thi hành phán quyết của trọng tài thương mại thuộc về Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Từ ngày 01/10/2019 đến ngày 30/7/2020, bộ phận một cửa Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận 783 hồ sơ yêu cầu thi hành phán quyết của trọng tài (sau đây gọi tắt là PQCTT) với tổng số tiền yêu cầu thi hành án là 299.284.872.907 đồng, trong đó thụ lý mới là 81 vụ với số tiền là 164.627.086.000 đồng nâng tổng số vụ việc phải tổ chức THADS trong kỳ lên thành 180 việc với tổng số tiền phải giải quyết

là 265.494.981.000 đồng Chấp hành viên đã xử lý xong hoàn toàn số tiền là

2

Trọng tài viên được chọn với tư cách cá nhân, vì các bên tin tưởng họ và bằng lòng tiến cử họ; trọng tài viên là người bảo hộ, người thân, người bạn chung hoặc là người thông thái được mong chờ sẽ đưa ra một phán quyết thỏa đáng cho tranh chấp Réne David, 1985, Trọng tài thương mại quốc tế, NXB Economica, tr.29

3 Công ước về việc Công nhận và Thi hành Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được ký tại New York ngày 10/6/1958 (tiền thân là Nghị định thư Geneva về Điều khoản Trọng tài năm 1923 và Công ước về việc thi hành Phán quyết trọng tài ở nước ngoài năm 1927 tiếp nối Nghị định thư Geneva năm 1923)

4

Đỗ Văn Đại &Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia sự

thật, Hà Nội, tr.28.

Trang 13

22.010.726.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 8%5 Kết quả này cho thấy, tỷ lệ xử lý xong là rất khiêm tốn so với yêu cầu thi hành PQCTT từ các bên Có nhiều lý do dẫn đến kết quả này Trong đó có các nguyên nhân như thủ tục thi hành án còn rườm rà nên bị kéo dài thời gian, pháp luật liên quan đến thi hành án còn chồng chéo, không thống nhất, một

số phán quyết khó thi hành, thiếu tính khả thi … Kết quả này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại, đến niềm tin của các bên trong việc lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp

Để giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài thực sự trở thành phương thức giải quyết tối ưu cho các bên đòi hỏi các PQCTT phải được thực thi một cách đầy đủ và kịp thời, do đó, cần có sự nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra một số các kiến nghị, đề xuất hợp lý và hiệu quả để từng bước khắc phục, loại bỏ dần các hạn chế, nguyên nhân giúp cho việc thi hành các PQCTT hiệu quả hơn

Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thi hành phán quyết của

trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự - Thực tiễn tại Thành phố

Hồ Chí Minh” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thi hành PQCTT, trong đó có:

- Công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài thương mại tại Việt

Nam (2005) Nguyễn Trung Tín, NXB Tư pháp, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu

các vấn đề về công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài theo điều ước quốc tế và Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 và các văn bản liên quan khác, đồng thời có đối chiếu đến các quy định pháp luật về trọng tài theo Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 Trong

đó có đề cập đến việc có ít nhất hai cách để thực thi PQCTT, làm cơ sở để tìm hiểu các

vấn đề cụ thể hơn về hai cách thức này ở những công trình nghiên cứu khác

- Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại - Những vấn đề lý

luận và thực tiễn, (2009), Nguyễn Thanh Huy, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật,

5

Số liệu này nằm trong tổng số liệu báo cáo 10 tháng năm công tác 2020 của Cục THADS TP.HCM

Trang 14

Đại học quốc gia Hà Nội Công trình này đề cập đến hệ thống cơ quan THADS là cơ quan tổ chức thi hành các PQCTT cùng với các cơ quan khác gồm Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân hợp thành các thiết chế liên quan đến việc thi hành PQCTT mà không đi sâu vào phân tích về lý luận cũng như thực tiễn của công tác THADS đối với việc thi hành PQCTT

- Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, (2011), Đỗ Văn Đại & Trần

Hoàng Hải, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu công phu, có tính hệ thống về trọng tài thương mại tại Việt Nam, so sánh các quy định của pháp luật về trọng tài từ Pháp lệnh TTTM năm 2003 đến Luật TTTM năm 2010 hiện hành và một số văn bản quốc tế có liên quan đến trọng tài Công trình này ra đời năm 2011, khi chưa có Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 25/7/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật TTTM nên có những nội dung không còn phù hợp, tuy nhiên, vẫn là công trình hữu ích, làm cơ sở cho việc nghiên cứu đầy đủ hơn, toàn diện hơn về TTTM Việt Nam hiện nay

- Giáo trình Nghiệp vụ Thi hành án dân sự (2018), Học viện Tư pháp, NXB

Tư pháp, Hà Nội Đây là công trình phục vụ cho việc đào tạo nguồn chức danh Chấp hành viên – người có thẩm quyền tổ chức thi hành PQCTT tại Việt Nam, theo pháp luật về THADS và một số quy định pháp luật khác có liên quan

Các công trình này nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung về cơ cấu tổ chức

và hoạt động của trọng tài và của cơ quan THADS, vấn đề thi hành PQCTT ít được đề cập tới hoặc được đề cập dưới góc độ chung nhất, mang tính nguyên tắc, chưa mang tính cụ thể, thực tiễn

- Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam từ

thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Phạm Huy Hoàng, Luận văn thạc sĩ luật

học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Công trình này nghiên cứu chủ yếu tập trung

về THADS và thi hành PQCTT theo Luật THADS năm 2008, tuy nhiên sau đó, Luật THADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 24/11/2014, do đó, một số nội

Trang 15

dung về pháp luật THADS không còn phù hợp với tình hình thực tế có nhiều thay đổi hiện nay Về cơ bản, từ năm 2015 đến nay chưa có một công trình nào tiếp tục nghiên cứu một cách cơ bản và toàn diện vấn đề thi hành PQCTT tại Thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về trọng tài, PQCTT theo Luật TTTM năm 2010 và hệ thống các quy định pháp luật về THADS theo Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, phân tích thực tiễn thi hành PQCTT tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, làm rõ những nguyên nhân vướng mắc, khó khăn từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về THADS và TTTM để việc thi hành các PQCTT được thuận lợi, hiệu quả hơn

Câu hỏi nghiên cứu:

- Pháp luật quy định gì về Phán quyết của trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự?

- Quy định của pháp luật hiện nay về trọng tài thương mại và thi hành án dân sự có những hạn chế, bất cập như thế nào đối với việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại?

- Việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao? Có những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến kết quả thi hành phán quyết? Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án dân sự đối với các phán quyết của trọng tài thương mại có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm: phán quyết của trọng tài thương mại Việt Nam và phán quyết của trọng tài thương mại nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Trang 16

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thi hành phán quyết của trọng tài tại Thành phố Hồ Chí Minh là chủ yếu

Về thời gian: Số liệu nghiên cứu được lấy theo năm công tác của hệ thống thi hành án từ năm công tác 2016 đến tháng 7 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích luật viết: phương pháp này dùng để phân tích luật thực định về trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự tại Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp, thống kê: phương pháp này được sử dụng để tập hợp, đánh giá hiệu quả thi hành phán quyết của trọng tài trên cơ sở các số liệu thu thập được qua các năm tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành hai chương bao gồm:

Chương 1: Khái quát về Phán quyết của trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái quát về phán quyết của trọng tài thương mại

1.1.1 Khái niệm phán quyết của trọng tài thương mại

Trọng tài từ xa xưa đã được biết đến như một biện pháp để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia6 và trọng tài được coi là biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế lâu đời nhất Từ thế kỷ thứ VII (B.C), người Hy Lạp cổ đại đã sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh, theo đó, nếu hai bên có tranh chấp và định chọn người xét

xử thì họ có quyền chỉ định người mà họ ưa thích để làm việc này, họ phải tôn trọng ý kiến của người đó và không được thưa kiện trước tòa7

Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc8

đề cập đến hai biện pháp tài phán, đó

là trọng tài và Tòa án Điểm chung của hai biện pháp này là kết quả đạt được sẽ có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp bất kể một hay cả hai bên có cảm thấy hài lòng hay không9 Điều này đánh dấu một bước chuyển từ phương thức giải quyết tranh chấp

mà giải pháp đạt được theo thỏa thuận chủ yếu dựa trên sức mạnh10 (các biện pháp phi

6

Những ghi chép cổ xưa cho thấy phương pháp này đã được sử dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia,

hay đúng hơn là giữa các thành phố quốc gia, thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại Trường Đại học Luật Hà Nội

(2018), Giáo trình Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 152

7 Nguyễn Thanh Huy (2009), Cơ chế thi hành quyết định của trọng tài thương mại – Những vấn đề lý luận và

thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

8

Hiến chương Liên Hiệp Quốc, được thông qua vào ngày 25-26/6/1945 tại Nhà hát Opera San Francisco, có hiệu lực vào ngày 24/10/1945, khi Liên Hiệp Quốc bắt đầu hoạt động

https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%C3%AAn_Hi%E1%BB%87p_Qu%E1%BB%91c, truy cập ngày 13/4/2020

9 Tuy nhiên, trong trường hợp trọng tài, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận trước về giá trị của phán quyết, theo

đó phán quyết có thể bị xem xét lại bởi một cơ quan khác

10 Dưới góc nhìn kinh tế sử quan của Karl Marx, sự biến thiên của lịch sử kinh tế xã hội loài người chịu sự tác động chủ yếu của kinh tế, thể hiện ở Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội Thời Cổ đại và Trung đại các quốc gia chủ yếu sử dụng sức mạnh để đạt được lợi ích kinh tế Chính tham vọng kinh tế đã khiến người Hy Lạp đánh chiếm eo biển Dardanelles để buôn bán và được huyền sử ghi chép lại dưới tên: Cuộc chiến thành Troie; chính nhờ kho vàng của Cleopatre mà nền tài chính của Auguste mới hồi sinh Thời Thượng cổ, La Mã tấn công Ba Tư, rồi thời Trung cổ, Thập tự quân qua đánh chiếm Jerusalem cũng là để kiểm soát các con đường thương mại sang phương Đông Hậu quả của sự thất bại Thập tự chinh là người châu Âu đã tìm ra con đường

Trang 18

tài phán) sang phương thức giải quyết tranh chấp có tính nguyên tắc hơn với căn cứ chính cho giải pháp là luật pháp11

Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

do các bên tranh chấp thỏa thuận đưa tranh chấp ra trước một trọng tài vụ việc hoặc Trung tâm trọng tài để giải quyết và được tiến hành theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật TTTM12 Với quy định này, bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp được pháp luật ghi nhận như Tòa án, thương lượng hay hòa giải, các bên tranh chấp còn có thể lựa chọn hình thức Trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh

Hoạt động quan trọng nhất của trọng tài là ra các quyết định giải quyết tranh chấp Nếu Bản án là kết quả của quá trình tố tụng giải quyết một tranh chấp tại Tòa án thì kết quả của quá trình tố tụng tại TTTM là Phán quyết

Phán quyết của trọng tài là hình thức văn bản thể hiện quyết định cuối cùng của trọng tài chứa đựng sự phán xử của trọng tài đối với vụ việc tranh chấp

Không có một định nghĩa chung của thuật ngữ “quyết định trọng tài” được chấp nhận ở tất cả các nước Thậm chí không một định nghĩa nào được tìm thấy trong các công ước quốc tế có liên quan đến trọng tài Công ước New York năm 1958 Điều I.2 ghi nhận rằng: “Thuật ngữ: quyết định trọng tài sẽ không chỉ bao gồm các quyết định được đưa ra bởi các trọng tài viên được chỉ định cho mỗi vụ mà còn bao gồm cả các quyết định được đưa ra bởi các tổ chức trọng tài thường xuyên mà các bên đã đệ trình tranh chấp lên”

Theo quy tắc trọng tài của UNCITRAL: “quyết định của trọng tài sẽ được lập thành văn bản, sẽ là văn bản cuối cùng và có hiệu lực ràng buộc với các bên Các bên có trách nhiệm thi hành quyết định của trọng tài một cách không chậm trễ”

để đưa ra một quyết định có đầy đủ lập luận và dựa trên luật pháp Trường ĐH Luật Hà Nội, (2018), Giáo trình

Pháp luật về Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, NXB Tư pháp, tr 151 và các trang tiếp theo

12 Khoản 1 Điều 3 Luật TTTM năm 2010

Trang 19

Tòa án Tối cao Pháp đã đưa ra định nghĩa như sau về phán quyết: “Phán quyết là những quyết định được lập bởi các trọng tài viên mà giải quyết một cách dứt điểm toàn bộ hoặc từng phần tranh chấp được đệ trình đến các trọng tài viên về nội dung, thẩm quyền hoặc các vấn đề tố tụng và từ đó kết thúc quá trình tố tụng”.13

Khoản 10 Điều 3 Luật TTTM định nghĩa: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”

Như vậy, theo Luật TTTM, phán quyết là quyết định cuối cùng về nội dung đơn kiện sau khi hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, lấy lời khai nhân chứng, nghe các bên trình bày, tranh luận của các trọng tài viên và bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số

Với quy định nêu trên, khi hội đồng trọng tài ra phán quyết thì “tố tụng trọng tài chấm dứt” Điều đó có nghĩa là những gì được quyết định trong phán quyết này được coi là đã xét xử nên sẽ không xét xử lần nữa đối với vụ việc tranh chấp14

Từ những phân tích nêu trên tác giả đưa ra định nghĩa về PQCTT như sau:

Phán quyết của trọng tài là quyết định cuối cùng trong đó xác định, giải quyết mọi vấn đề đối với tranh chấp được các bên đưa ra, có giá trị chung thẩm và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ra phán quyết

1.1.2 Đặc điểm của phán quyết trọng tài thương mại

Từ định nghĩa nêu trên, PQCTT có một số đặc điểm sau đây:

Phán quyết trọng tài là một hình thức thể hiện quyền tài phán của một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, song phán quyết của trọng tài có giá trị thi hành như một bản án, quyết định của Tòa án, buộc các bên phải thực hiện và nếu bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành PQCTT tương tự như bản án, quyết định của Tòa án, không có sự phân biệt

Trang 20

Phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, nghĩa là chỉ một cấp xét xử, không phải trải qua thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm như bản án, quyết định của Tòa án Phán quyết là kết quả cuối cùng của việc xét xử đối với nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài, trừ trường hợp Tòa án hủy phán quyết theo quy định của pháp luật

Phán quyết của trọng tài không bắt buộc phải tuyên công khai

Phán quyết của trọng tài theo Quy tắc tố tụng riêng của từng tổ chức trọng tài, không bắt buộc theo một trình tự tố tụng thống nhất PQCTT được thể hiện bằng văn bản, có nội dung linh hoạt tùy thuộc vào từng trọng tài trên cơ sở bảo đảm một số nội dung cơ bản theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài được tuyên trên cơ sở pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật do các bên lựa chọn nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Với việc Việt Nam gia nhập Công ước NewYork vào năm 1995, hiện nay các phán quyết của trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam cũng có giá trị thi hành như phán quyết của trọng tài trong nước sau khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam về việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Như vậy, Phán quyết trọng tài có hai đặc điểm nổi bật Thứ nhất, phán quyết giải quyết toàn bộ tranh chấp; Thứ hai, phán quyết ra đời đồng nghĩa với việc kết thúc quá trình tố tụng tại trọng tài, chuyển qua một hoạt động khác, đó chính là hoạt động thi hành phán quyết

1.1.3 Các phương thức thi hành phán quyết của trọng tài thương mại

Thi hành PQCTT là hành vi tự nguyện thực hiện phán quyết của các bên tranh chấp hoặc hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc các bên tranh chấp phải thực hiện phán quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Trang 21

Hoạt động thi hành phán quyết có đặc điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp, bảo vệ một cách hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, khiến các điều khoản trong phán quyết được thực thi trên thực tế

Sau khi PQCTT được đưa ra, nó có thể thực hiện trên thực tế ít nhất bằng hai cách, tùy thuộc vào thái độ tự giác, khả năng của các bên, đặc biệt là bên phải thi hành: tự nguyện thực hiện hoặc bị cưỡng chế thực hiện

Hiện nay, việc tự nguyện thi hành PQCTT được Nhà nước khuyến khích15 Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành và cũng không có yêu cầu tòa án hủy phán quyết16 thì bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài Khi đó, PQCTT được thi hành theo quy định của pháp luật về THADS17

Trong THADS, trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật THADS18 hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế19

Như vậy, khi người phải thi hành không tự nguyện thi hành PQCTT mà các biện pháp gây sức ép khó áp dụng hoặc không hiệu quả thì bên có quyền yêu cầu sử dụng quyền lực nhà nước để cưỡng chế thi hành phán quyết thông qua cơ quan THADS Hoạt động cưỡng chế của cơ quan THADS mang tính quyền lực nhà nước và bắt buộc các bên thực hiện

1.2 Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay

1.2.1 Khái quát về thi hành án dân sự

Khái niệm về thi hành án

Trang 22

Theo từ điển tiếng Việt, "thi hành" có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều

đã được chính thức quyết định20 Như vậy, hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay là hoạt động tổ chức thi hành trên thực tế các bản án, quyết định21 do cơ quan,

tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục do luật định nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và nhà nước

Đặc điểm của hoạt động THADS

Thi hành án là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử Bản án, quyết định của Tòa án, PQCTT đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ và là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Vì vậy, THADS gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp

vì xét xử, giải quyết tranh chấp và THADS là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

THADS mang tính tài sản đậm nét Phần lớn các bản án, quyết định dân sự, các PQCTT được đưa ra thi hành làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt các vấn đề về tài sản như chia thừa kế, trả nợ, giao trả nhà, đất, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…;

THADS mang tính độc lập – đặc trưng của hoạt động tư pháp Mô hình tổ chức của cơ quan THADS hiện nay đã tách ra khỏi các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương như Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp về tổ chức và quản lý, bao gồm Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư phoáp; Cục THADS cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục THADS

và các Chi cục THADS quận, huyện trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh22 Như vậy, hiện nay cơ quan THADS và Chấp hành viên độc lập, không cá nhân, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình THADS

20

Từ điển tiếng Việt (1994), NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 903

21 Điều 1 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014: Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh3 có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định)

22 Điều 13 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trang 23

1.2.2 Ý nghĩa của việc thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự

Ở Việt Nam, trước ngày 01/7/2003, đối tượng THADS chỉ bao gồm bản án, quyết định dân sự của Tòa án, không có quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài

Từ ngày 01/7/2003, đối tượng THADS bao gồm cả quyết định giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại Việt Nam23

Cơ quan có trách nhiệm tổ chức “thi hành … phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại ”24 là hệ thống cơ quan THADS25, người có trách nhiệm tổ chức THADS là Chấp hành viên “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này Chấp hành viên

do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm”26

Ý nghĩa của việc thi hành các bản án, quyết định dân sự nói chung, các PQCTT nói riêng cũng như vai trò của hệ thống THADS được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, vị trí thượng tôn của pháp luật trên nguyên tắc chỉ có thể đạt được

khi pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh và được các tổ chức, cá nhân tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để Pháp luật nghiêm minh là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, qua đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào lẽ phải, lẽ công bằng, sự tiến bộ Thi hành bản án, PQCTT là khâu cuối

Điều 13 Luật THADS 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014: Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự

Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:

1 Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:

a) Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;

b) Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng

2 Cơ quan thi hành án dân sự:

a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);

b) Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành

án dân sự cấp huyện);

c) Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu) Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.

26 Khoản 1, Khoản 2 Điều 17 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trang 24

của quá trình tố tụng, nhằm hiện thực hóa những bản án của Tòa án, các PQCTT vào thực tiễn cuộc sống vì kết quả của việc tổ chức THADS sẽ làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ về tài sản trên thực tế của các bên; qua đó, đảm bảo công lý được thực thi, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và ổn định

Thứ hai, trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, các tranh chấp dân sự,

kinh tế, thương mại ngày càng gia tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp hơn thì hoạt động THADS không những góp phần trực tiếp, tích cực vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh

tế, xã hội của đất nước và từng địa phương

1.2.3 Điều kiện để thi hành phán quyết của trọng tài thương mại

Việc tổ chức thi hành PQCTT được thực hiện như việc tổ chức thi hành bản

án, quyết định của Tòa án Điều kiện thi hành PQCTT cũng tương tự như điều kiện thi hành bản án, quyết định của Tòa án

 Phán quyết, quyết định của trọng tài có hiệu lực pháp luật

Phán quyết của trọng tài trong nước có hiệu lực kể từ ngày ban hành phán quyết, quyết định27, không cần thủ tục công nhận mà được chuyển thẳng cho cơ quan THADS nơi ra phán quyết như một bản án của Tòa án Việt Nam

Để cơ quan THADS tiếp nhận yêu cầu thi hành phán quyết, thụ lý yêu cầu thi hành phán quyết thì PQCTT phải đảm bảo các điều kiện:

Đã hết thời hạn thi hành phán quyết (thời hạn được xác định tại từng phán quyết); Đúng thẩm quyền của cơ quan THADS nơi trọng tài ra phán quyết28; Các bên đương sự không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài29

Phán quyết phải được đăng ký tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết đối với phán quyết của trọng tài vụ việc (thời hạn đăng ký là 01 năm kể từ ngày phán quyết được ban hành)30

27

Điều 61; Điều 66 Luật TTTM năm 2010

28

Điều 8 Luật TTTM năm 2010

29 Khoản 5, Điều 61 Luật TTTM năm 2010

Trang 25

Khi tiếp nhận phán quyết được gửi kèm theo yêu cầu thi hành án thì phán quyết phải đảm bảo về hình thức, nội dung theo quy định31, cụ thể: phải đầy đủ về số trang, được đánh số từ 01 đến trang cuối cùng; có dấu giáp lai Tại phần cuối của quyết định phải có chữ ký của Hội đồng trọng tài và được đóng dấu của nơi ban hành hoặc chữ ký của trọng tài viên Ở trang cuối tại phần nơi nhận của phán quyết, phía sau tư cách tham gia tố tụng của người nhận ghi thêm cụm từ để thi hành hoặc đóng dấu để thi hành ở trang đầu Đây chính là phán quyết được cấp cho đương sự để thi hành theo quy định tại Điều 27 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

Đối với Phán quyết của trọng tài nước ngoài: Phán quyết của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành quyết định, phán quyết của Trọng tài nước ngoài32 Do đó, để thi hành phán quyết này, đương sự phải cung cấp các văn bản sau:

Quyết định có hiệu lực pháp luật (sơ thẩm và phúc thẩm nếu có) của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài

Phán quyết của Trọng tài nước ngoài và các tài liệu liên quan đến phán quyết

Bản dịch tiếng Việt hợp lệ của phán quyết, cụ thể là bản dịch được công

chứng, chứng thực hoặc hợp pháp hóa lãnh sự

 Có yêu cầu thi hành án của đương sự

Theo quy định tại Điều 31 Luật THADS, người được thi hành án, người phải thi hành án hoặc người được ủy quyền yêu cầu thi hành án có thể thực hiện quyền yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây: Trực tiếp nộp đơn yêu cầu thi hành bằng văn bản tại cơ quan THADS; Trực tiếp trình bày yêu cầu thi hành án bằng lời nói; Gửi đơn yêu cầu thi hành án qua đường bưu điện đến cơ quan THADS

30 Điều 62 Luật TTTM năm 2010

31 Điều 61 Luật TTTM năm 2010

32 Khoản 3 Điều 427; Khoản 1, Khoản 2 Điều 442; Khoản 1, Khoản 2 Điều 461 BLTTDS năm 2015

Trang 26

Như vậy, đương sự có quyền lựa chọn một trong ba hình thức yêu cầu thi hành án đã nêu trên, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình mà không bị áp đặt bởi điều kiện cụ thể nào

Thực tế, đương sự thường lựa chọn hình thức gửi đơn qua đường bưu điện hoặc trực tiếp nộp đơn yêu cầu bằng văn bản Trong những năm gần đây, cơ quan THADS triển khai, thực hiện hỗ trợ trực tuyến nhằm hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện thuận lợi quyền yêu cầu THADS Mặc dù đây là hình thức thuận lợi cho đương sự, nhưng cho đến nay, phần lớn đương sự, kể cả đương sự có điều kiện để tiếp cận hình thức yêu cầu thi hành án trực tuyến, như các tổ chức tín dụng cũng rất ít khi lựa chọn sử dụng, tận dụng hình thức này, mà chủ yếu vẫn lựa chọn hình thức yêu cầu thi hành án truyền thống là gửi đơn, nộp đơn yêu cầu thi hành án trực tiếp cho cơ quan THADS, vì họ cho rằng thực hiện bằng hình thức này sẽ được tiếp nhận, hướng dẫn cụ thể rõ ràng, toàn diện hơn

Khi nhận được hồ sơ yêu cầu thi hành án của đương sự, cơ quan THADS căn cứ các quy định của pháp luật tố tụng33

và THADS để xác định PQCTT đó có đủ điều kiện để được tổ chức thi hành theo thủ tục THADS hay không Trường hợp nếu đơn yêu cầu thi hành án chưa đầy đủ thông tin theo yêu cầu tại khoản 3 Điều 31 Luật THADS thì cơ quan THADS sẽ thông báo cho đương sự biết để bổ sung Trường hợp nếu xét thấy có căn cứ từ chối nhận đơn theo quy định của pháp luật34 thì cơ quan THADS sẽ ra thông báo từ chối yêu cầu thi hành án Ngược lại, nếu hồ sơ yêu cầu thi hành án đủ điều kiện để thụ lý, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn

33

Từ Điều 482 đến Điều 488 BLTTDS năm 2015

34 Điều 31 Luật THADS 2008, sửa đổi, bổ sung 2014

“Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây: a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

b) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

c) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án”

Trang 27

yêu cầu, Thủ trưởng cơ quan THADS cấp tỉnh sẽ ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu35 và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành

1.2.4 Thủ tục thi hành phán quyết của trọng tài thương mại tại cơ quan thi hành án dân sự

Quá trình tổ chức thi hành PQCTT nói riêng, bản án, quyết định nói chung trải qua ba giai đoạn: Thụ lý thi hành án, tổ chức thi hành án và thẩm tra, lưu trữ hồ sơ

thi hành án Thụ lý thi hành án là giai đoạn đầu tiên để ra quyết định thi hành án

1.2.4.1 Ra quyết định thi hành án

Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ban hành để đưa ra thi hành một hoặc nhiều phần của những bản án, quyết định dân sự, PQCTT được thi hành theo thủ tục THADS Quyết định này làm căn cứ cho Chấp hành viên lập hồ sơ thi hành án và tổ chức việc thi hành án, nhằm đảm bảo lợi ích của người được thi hành án, của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án

Tất cả PQCTT đều thuộc về phạm vi ra quyết định thi hành án theo yêu cầu Thời hiệu để yêu cầu thi hành PQCTT là thời hạn mà người được thi hành

án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án theo quy định của Luật THADS36 Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật37

Nếu yêu cầu thi hành án của đương sự đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan THADS từ chối yêu cầu thi hành án38

Về nguyên tắc, thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định thi hành án theo yêu cầu thi hành án khi còn thời hiệu yêu cầu thi hành án và đúng thẩm quyền, trừ

35

Điều 36 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

36 Khoản 5 Điều 3 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

37 Điều 30 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

38 Khoản 5 Điều 31 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

Trang 28

trường hợp bất khả kháng hoặc tùy theo từng trường hợp để xử lý theo quy định39

.Như vậy, việc ban hành quyết định thi hành án là khâu cuối cùng của việc thụ lý thi hành án

Cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành PQCTT là cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết40

Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài là cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng41

Sau khi có quyết định thi hành án và hết thời hạn 10 ngày tự nguyện thi hành án của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm thực hiện thủ tục xác minh điều kiện thi hành án42

Trên cơ sở kết quả xác minh, trong trường hợp người phải thi hành án chưa

có tài sản, thu nhập hoặc không xác định được địa chỉ của người phải thi hành án (còn gọi là chưa có điều kiện thi hành án43) thì cơ quan THADS ra quyết định về việc chưa

có điều kiện thi hành án và đăng tải trên trang thông tin điện tử Trường hợp người phải

39 Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 4 Nghị đinh số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

40

Khoản 1 Điều 8 Luật TTTM 2010, Điều 35 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

41 Khoản 2 Điều 8 Luật TTTM 2010

42 Điều 44 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Điều 3 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC- VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Toàn án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao

43 Điều 44a Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án

1 Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;

c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng

2 Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.

Trang 29

thi hành án có điều kiện thi hành án44 thì Chấp hành viên áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

1.2.4.2 Các biện pháp bảo đảm thi hành án

Việc Chấp hành viên lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm nào, biện pháp cưỡng chế nào phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả xác minh như đã nêu trên

Luật THADS quy định về ba biện pháp bảo đảm gồm:

a) Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ45 Biện pháp này chỉ áp dụng đối

với tài sản là tiền trong tài khoản, hoặc tài sản đang ở nơi gửi giữ

b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ46 Biện pháp này thường được áp dụng đối với tài

sản là động sản và khi áp dụng biện pháp bảo đảm này Chấp hành viên thực hiện hành

vi thu giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản47 Đây

là biện pháp được áp dụng phổ biến đối với tài sản là bất động sản và động sản

Nguyên tắc áp dụng: Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương

sự48

Như vậy, chỉ cần có căn cứ cho rằng tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp này Những biện pháp này đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng hạn chế quyền sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, thay đổi hiện trạng hoặc phá hủy tài sản Ngay khi nhận được quyết định của Chấp hành viên, các cơ quan chức năng, tổ chức, cá nhân

có liên quan phải thực hiện các hành vi theo đúng nội dung của quyết định

Sau khi đã áp dụng các biện pháp này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án

44 Khoản 6 Điều 3 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014: Có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi

hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa

vụ thi hành án

45 Điều 67 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

46 Điều 68 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

47

Điều 69 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

48 Khoản 1 Điều 66 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014

Trang 30

Những quy định này thể hiện rõ tính quyền lực nhà nước của cơ quan THADS, tính độc lập của Chấp hành viên và tính tài sản trong quá trình tổ chức THADS

1.2.4.3 Các biện pháp cƣỡng chế, xử lý tài sản để thi hành án

Cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền thi hành án, mà cụ thể là do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định49

Việc cưỡng chế thi hành PQCTT cũng tương tự như cưỡng chế thi hành bản

án, quyết định của Tòa án

Để các bản án, quyết định của Tòa án nói chung và PQCTT nói riêng thi hành trên thực tếmà vẫn tôn trọng quyền tự quyết của mọi công dân, tổ chức, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS luôn lựa chọn biện pháp vận động thuyết phục người phải thi hánh án tự nguyện thi hành Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, buộc Chấp hành viên phải tổ chức cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong THADS phải tuân thủ những điều kiện, nguyên tắc chung và đúng căn cứ pháp luật

Điều kiện áp dụng: Cưỡng chế THA được áp dụng trong trường hợp người

phải thi hành án có điều kiện thi hành án50 mà không tự nguyện thi hành51, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA

49

Học viện Tư pháp (2018), Giáo trình Nghiệp vụ Thi hành án dân sự tập 1, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 194.,

50 Khoản 6 Điều 3 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014: Có điều kiện thi hành án là có tài sản, thu nhập để

thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án

51 Tự nguyện THA được hiểu theo nghĩa rộng gồm cả việc đương sự (người được thi hành án và người phải thi hành án) tự nguyện THA trong thời gian tự nguyện THA và việc đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc THA nhưng việc thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người thứ ba, không trái với thực tế và không trốn tránh phí THA (Điều 6 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014, Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

Trang 31

Nguyên tắc áp dụng: Không tổ chức cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến

6 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật hiện hành

và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định52 Cưỡng chế tài sản của người phải THA tương ứng với nghĩa vụ của người phải THA và các chi phí cần thiết53

Căn cứ cưỡng chế thi hành án: Bản án, quyết định; Quyết định thi hành án;

quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án54

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án gồm có:

1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án

5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ

6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định55

Trong phạm vi luận văn này, tác giả đề cập đến ba biện pháp cưỡng chế thường áp dụng là: (a) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (b) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ và (c) Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định tương ứng với hai nhóm nghĩa vụ thi hành án là

52 Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

53 Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự

54

Điều 70 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

55 Điều 71 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014

Trang 32

nghĩa vụ trả tiền (nghĩa vụ liên quan đến tài sản) và buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định (nghĩa vụ không liên quan đến tài sản)

a Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Đây là biện pháp đầu tiên mà Chấp hành viên phải cân nhắc để lựa chọn áp dụng vì chỉ khi nào không đủ điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế này thì Chấp hành viên mới lựa chọn biện pháp khác Biện pháp cưỡng chế này trên thực tế dễ thực hiện hơn các biện pháp cưỡng chế khác do không cần phải huy động lực lượng để cưỡng chế thi hành án nên việc thực hiện cũng đơn giản và dễ dàng Đặc biệt, khi tổ chức thi hành, nếu số tiền thu được không đủ thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế khác Nếu người phải thi hành án có nhiều tài khoản hay nhiều tài sản khác nhau thì Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp khấu trừ với các tài khoản khác nhau, tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án

Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án được quy định cụ thể tại Điều 76, Điều 79 và các Điều 80,

81, 82, 83 Luật THADS

Nguyên tắc áp dụng

Hết thời gian tự nguyện thi hành án56 Thời gian tự nguyện thi hành án là khoảng thời gian sắp xếp, chuẩn bị khoản tiền để thanh toán cho bên được thi hành án theo quyết định thi hành án và cũng là khoảng thời gian người phải thi hành án tự lựa chọn, cân nhắc các cách thức, biện pháp thi hành án (tự nguyện thi hành án hay sẽ bị cưỡng chế thi hành án)

Áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, tức là Chấp hành viên tính toán vừa đủ, chính xác nghĩa vụ phải thi hành theo bản án và các chi phí cưỡng chế cần thiết để thực hiện cưỡng chế

56

Khoản 1 Điều 45 Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014: Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án

Trang 33

Điều kiện áp dụng

Ngoài điều kiện chung về cưỡng chế nêu trên, đối với biện pháp cưỡng chế này còn có điều kiện và nguyên tắc áp dụng riêng Đó là người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền, được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, PQCTT (đây là loại việc chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số vụ việc thụ lý tại các cơ quan THADS) Người phải thi hành án có tài sản hoặc quyền về tài sản để thi hành án dưới dạng tiền mặt hoặc có tiền trong tài khoản mở tại ngân hàng, kho bạc nhà nước hay tổ chức tín dụng hoặc có giấy tờ có giá57

Trình tự thực hiện

Đối với tài khoản: Sau khi Chấp hành viên đã xác minh thông tin về tài khoản của người phải thi hành án như số tài khoản, nơi mở tài khoản, số dư trong tài khoản…, đã có cơ sở xác định tài khoản và số dư khả dụng trong tài khoản là của người phải thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa tài khoản với số tiền tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án và các chi phí; sau đó, tiến hành tống đạt quyết định này ngay cho Ngân hàng hoặc nơi mở tài khoản và các đương sự Hết thời hạn tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên ban hành quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA yêu cầu Ngân hàng chuyển số tiền đã phong tỏa vào tài khoản của cơ quan THADS Sau khi tiền về tài khoản của cơ quan THADS, Chấp hành viên xây dựng bảng phân phối tiền thi hành án báo cáo với thủ trưởng cơ quan THADS

để giải quyết việc phân phối số tiền trên theo quy định

Đối với giấy tờ có giá: quá trình xác minh, Chấp hành viên xác định chủng loại giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, Chứng chỉ tiền gửi…), giá trị bao nhiêu…đồng thời ra văn bản yêu cầu người phải thi hành án, người thứ ba đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án không được dịch chuyển các giấy tờ có giá đó Hết thời hạn

57

Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa

vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác

Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định số

163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006: Giấy tờ có giá bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, Séc, Chứng chỉ quỹ và Giấy tờ có giá khác

Trang 34

tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án và thực hiện thông báo quyết định cưỡng chế theo các quy định tại Điều 38, 39, 40, 41, 42, 43 Luật THADS bằng hình thức tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết văn bản theo quy định Sau đó, Chấp hành viên làm việc và yêu cầu người đang giữ giấy tờ có giá giao nộp giấy tờ này cho cơ quan THADS và tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định về định giá và bán đấu giá tài sản thi hành án

b Biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ

Biện pháp này chỉ áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền

được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc PQCTT hoặc phải nộp phí thi hành án

Thứ hai, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án: là những người mà

Chấp hành viên đã xác minh, khẳng định được người đó có tài sản (trừ tài sản là tiền thì không áp dụng biện pháp này) Tài sản của người phải thi hành án có thể là bất động sản hoặc động sản và kể cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, vốn góp… Tài sản này có thể đang do người phải thi hành án quản lý, sử dụng và cũng có thể đang do người thứ ba quản lý, sử dụng Đặc biệt, đối với việc kê biên quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 110 Luật THADS thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc các trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai58

Trang 35

Như vậy, quyền sử dụng đất không thỏa mãn quy định thì Chấp hành viên không được kê biên để thi hành án Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền thì không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất59 Như vậy, Chấp hành viên cũng không được kê biên quyền sử dụng đất trong trường hợp này

Thứ ba, hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không

tự nguyện thi hành hoặc chưa hết thời gian tự nguyện nhưng cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án Tuy nhiên, việc chứng minh người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án để ra quyết định cưỡng chế trong thời hạn tự nguyện thi hành án là một việc rất khó khăn, nên Chấp hành viên

ưu tiên áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án

Nguyên tắc áp dụng

Thứ nhất, kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với nghĩa vụ

của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết60 Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp nói chung và quyền tài sản nói riêng của người phải thi hành

án đồng thời ngăn chặn sự “lạm quyền” của Chấp hành viên trong việc kê biên tài sản của người phải thi hành án

góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và

194 của Luật này

3 Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào

sổ địa chính

59 Khoản 6 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật Đất đai năm 2014

60

Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ quy định: “Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng các

biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án

và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản; tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án hoặc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định này”.

Trang 36

Thứ hai, Chấp hành viên không được kê biên những tài sản mà pháp luật

quy định không được kê biên61

Thứ ba, Chấp hành viên chỉ được tổ chức kê biên vào thời gian pháp luật

quy định

Trình tự thực hiện

- Ra quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án;

- Thông báo quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản theo quy định;

- Thực hiện cưỡng chế kê biên và lập biên bản kê biên theo Khoản 2 Điều

88 và thực hiện giao bảo quản tài sản kê biên theo Điều 58 Luật THADS

- Định giá tài sản kê biên, định giá lại tài sản kê biên và bán tài sản kê biên theo Điều 98, 99, 100 và Điều 101 Luật THADS và các quy định pháp luật khác liên quan

- Giải tỏa kê biên tài sản62

61 Điều 87 Luật THADS Những tài sản không được kê biên:

“1 Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức

2 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:

a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;

b) Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;

c) Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;

d) Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;

đ) Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;

e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình

3 Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: a) Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;

b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;

c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm

môi trường”

62

Điều 105 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014, việc giải tỏa này được thực hiện trong bốn trường hợp sau:

“a) Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của

Trang 37

c Biện pháp buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định

Điều kiện áp dụng

Biện pháp này được áp dụng đối với nhóm nghĩa vụ không liên quan đến tài sản, đó là những nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nhất định Chấp hành viên chỉ áp dụng biện pháp này khi bản án, quyết định hoặc PQCTT tuyên người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ là hành vi nhất định Áp dụng khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án và khi người phải thi hành án

có điều kiện thi hành án Ví dụ: buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm theo Hợp đồng phân phối, buộc phải thực hiện các thủ tục hoàn công theo hợp đồng xây dựng, buộc xin lỗi công khai…

Trình tự thực hiện

Chấp hành viên xác minh khả năng, thái độ của người phải thi hành án, ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 118, 119 Luật THADS, tống đạt quyết định cưỡng chế theo quy định Người phải thi hành án không thực hiện theo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc đề xuất cấp trên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và ấn định thời hạn thi hành quyết định xử phạt hành chính là 05 ngày làm việc Trường hợp nghĩa vụ có thể giao cho người khác thực hiện thay, không nhất thiết phải chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án thực hiện, nếu họ không thực hiện thì yêu cầu người có điều kiện thực hiện công việc buộc phải làm Trường hợp nghĩa vụ về công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện, thường là nghĩa vụ gắn với nhân thân người phải thi hành

án, nếu họ không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án

1.2.4.4 Kết thúc việc thi hành án

Trang 38

Quá trình THADS được coi là đương nhiên kết thúc trong những trường hợp sau63:

Có xác nhận của cơ quan THADS về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình Bên phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ và bên được thi hành án đã nhận được quyền, lợi ích của họ theo quyết định thi hành án Xác nhận kết quả thi hành án nghĩa là xác nhận trên cơ sở những tài liệu có trong hồ sơ thi hành án, chứng minh đương sự đã thực hiện xong hoàn toàn các quyền, nghĩa vụ được tuyên trong PQCTT, trong bản án, quyết định Khi có yêu cầu của đương sự cơ quan THADS cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc64

Có quyết định đình chỉ thi hành án65 Có thể là quyết định đình chỉ toàn bộ nội dung quyết định thi hành án hoặc một phần quyền và nghĩa vụ theo quyết định thi hành án

Việc thi hành án được coi là kết thúc hoàn toàn khi hồ sơ thi hành án được duyệt bởi thủ trưởng cơ quan THADS và được đưa vào lưu trữ66 Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên đối với việc thi hành án, lưu giữ tất cả các tài liệu đã thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ67

63

Điều 52 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014

64

Điều 53 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014

65 Điều 50 Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014

66 Xem Phụ lục Sơ đồ Quy trình Tổ chức thi hành án (Ban hành theo Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự)

67 Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 được sửa đổi, bổ sung Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, tác giả trình bày những vấn đề lý luận về phán quyết của trọng tài thương mại và thi hành phán quyết của trọng tài thương mại theo pháp luật THADS Bao gồm: Khái quát về phán quyết của trọng tài thương mại, cách thức thi hành PQCTT và các điều kiện để thi hành PQCTT cũng như ý nghĩa, vai trò của việc tổ chức thi hành PQCTT của hệ thống THADS

Thông qua việc phân tích, đánh giá một số quy định chủ yếu của Luật THADS và các văn bản hướng dẫn về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm gồm Phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản và các biện pháp cưỡng chế chủ yếu gồm Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định cho thấy hệ thống THADS là công cụ mang tính quyền lực nhà nước mạnh nhất để thực thi trên thực tế triệt để các PQCTT nói riêng cũng như các bản án, quyết định của Tòa án nói chung

Việc nghiên cứu những vấn đề về phán quyết của trọng tài thương mại và pháp luật về THADS ở chương này sẽ làm tiền đề cho những đề xuất, kiến nghị xuất phát từ thực tiễn tổ chức THADS đối với PQCTT tại Thành phố Hồ Chí Minh trong chương tiếp theo

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

2.1 Thực trạng thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

Từ tháng 01 năm 2020 đến nay, đại dịch covid-19 xảy ra ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia trên thế giới, hiện nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp Nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng nền kinh tế Việt Nam

có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang chịu nhiều tác động, ảnh hướng nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản suất, kinh doanh, dịch vụ; đã tác động trực tiếp đến các ngành xuất, nhập khẩu, y tế, giáo dục, lao động, việc làm…; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô GDP quý I/2020 cả nước chỉ tăng 3,82%, là mức thấp nhất trong 10 năm gần đây, ảnh hưởng mạnh đến tâm lý và đời sống nhân dân (Kết luận số 77-KL/TW của Bộ Chính trị), sự chịu đựng của người dân, doanh nghiệp đã quá mức… Cơ quan THADS phải thực hiện nhiệm vụ kép, vừa thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ, vừa phòng, chống dịch covid-19

Bên cạnh đó, nhiều văn bản thể chế pháp lý liên quan đến THADS được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện trong đó quan trọng nhất là Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho Chấp hành viên tác nghiệp

Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị THADS có số lượng việc

và tiền phải thi hành án lớn nhất nước với số việc chiếm 13% và giá trị chiếm 39% trên tổng số việc và tổng giá trị phải thi hành của toàn quốc, trong khi đó, tổng số biên chế của Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh và 24 Chi cục THADS quận, huyện chỉ chiếm 6,9% trên tổng biên chế của hệ thống THADS cả nước Cục THADS Thành phố

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w