1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Án lệ với hệ thống pháp luật việt nam nghiên cứu khoa học

142 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài: Án lệ không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa là phán quyết và giải quyết của Tòa án

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ VÀ LUẬT

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

ÁN LỆ VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Mã số đề tài:

Thuộc nhóm ngành khoa học: Luật

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ VÀ LUẬT

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

ÁN LỆ VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Mã số đề tài:

Thuộc nhóm ngành khoa học: Luật

Chủ nhiệm đề tài: Trần Viết Hà Giới tính: Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến

Khoa Kinh tế & Luật – Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh đã tạo môi trường

nghiên cứu cũng như hỗ trợ kinh phí để nhóm tác giả có thể hoàn thiện được đề tài

này Đặc biệt nhóm tác giả xin cảm ơn Th.S Trần Thị Mai Phước, người đã tận tình

giúp đỡ, hướng dẫn, định hướng và bổ sung những kiến thức quý báu để giúp nhóm

tác giả trong suốt thời gian qua

Công trình này mang ý nghĩa rất lớn đối với mỗi thành viên tham gia thực hiện

Tác phẩm khoa học đầu tiên trong cuộc đời đánh dấu bước trưởng thành mới, đồng

thời cũng là những trải nghiệm thú vị trong công việc học tập và nghiên cứu Bằng sự

tôn trọng khoa học, với niềm say mê nghiên cứu, nhóm tác giả xin cam kết những hiểu

biết trong bài báo cáo là do nhóm tự giác tìm hiểu, tổng hợp và đề xuất dưới sự giúp

đỡ của giáo viên hướng dẫn

Do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa

học nên bài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong

nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của quý Thầy Cô và bạn đọc

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015

Nhóm tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁN LỆ 4

1.1 Khái niệm án lệ và một số thuật ngữ tương đồng 4

1.1.1 Khái niệm án lệ 4

1.1.2 Một số thuật ngữ tương đồng 6

1.2 Vai trò và đặc điểm của án lệ 8

1.2.1 Vai trò của án lệ 8

1.2.2 Đặc điểm của án lệ 12

1.3 Lịch sử ra đời và thực tiễn áp dụng của án lệ 16

1.3.1 Án lệ trong hệ thống thông luật (Common law) 16

1.3.2 Án lệ trong hệ thống dân luật thành văn (Civil law) 24

1.3.3 Án lệ trong hệ thống pháp luật ở một số nước Châu Á 32

Chương 2 VẤN ĐỀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM 37

2.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước đối với án lệ 37

2.1.1 Quan điểm của Đảng 37

2.1.2 Quan điểm của Nhà nước 38

2.2 Thực tiễn án lệ tại Việt Nam 40

2.2.1 Dấu hiệu tồn tại của án lệ trong pháp luật Việt Nam 40

2.2.2 Lý do nên thừa nhận án lệ đối với pháp luật Việt Nam 46

2.2.3 Mô hình phát triển án lệ phù hợp cho hệ thống pháp luật Việt Nam 56

2.2.4 Một số bản án, quyết định giám đốc thẩm có dấu hiệu tương tự án lệ 59

Chương 3 BÀN VỀ ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN ÁN LỆ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 64

3.1 Bàn về Đề án phát triển án lệ tại Việt Nam 64

3.1.1 Giới thiệu tổng quan về Đề án 64

3.1.2 Đánh giá về một số định hướng của Đề án 65

3.1.3 Những khó khăn khi triển khai Đề án phát triển án lệ 69

Trang 5

3.2 Phân tích một số giải pháp của Đề án phát triển án lệ 72

3.2.1 Thiết lập án lệ của Tòa án nhân dân tối cao 72

3.2.2 Tăng cường sử dụng án lệ trong xét xử 83

3.3 Một số kiến nghị góp phần thực thi Đề án phát triển án lệ 88

3.3.1 Kiến nghị về bình luận, tóm tắt và công bố bản án 88

3.3.2 Cơ chế nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán về tham khảo viện dẫn án lệ trong xét xử để nâng cao trình độ áp dụng pháp luật 92

3.3.3 Nâng cao sự thống nhất trong quyết định giám đốc thẩm 94

3.3.4 Nâng cao tư duy pháp lý về án lệ cho Thẩm phán, Luật gia Việt Nam trong hội nhập quốc tế 95

3.3.5 Kiến nghị trong đào tạo luật 96

3.3.6 Kiến nghị sửa đổi luật 97

3.3.7 Kiến nghị về mặt kỹ thuật 98

PHẦN KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO i

PHỤ LỤC iv

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Quan điểm của Thẩm phán về việc ủng hộ việc sử dụng bản án để giải thích

pháp luật hoặc TANDTC có nhiệm vụ giải thích pháp luật 72

Hình 3.2 Quan điểm của Thẩm phán về công khai bản án 74

Hình 3.3 Mức độ tham khảo bản án, quyết định của Thẩm phán 80

Hình 3.4 Tỷ lệ Thẩm phán tiếp cận các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC 85

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 Civil law : Tên gọi của hệ thống Dân luật thành văn hay còn có

tên gọi khác như hệ thống luật La Mã, hệ thống luật Châu Âu lục địa

2 Comon law : Tên gọi của hệ thống Thông luật hay còn có tên gọi

khác như Luật Anh Mỹ, Luật Anglo Saxon, Luật án

lệ

4 Nghị quyết số 08 : Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ

Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

5 Nghị quyết số 48 : Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ

Chính trị về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng định hướng đến năm 2020

6 Nghị quyết số 49 : Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ

Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020

7 Quyết định số 74 : Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của

Tòa án Nhân dân tối cao về phê duyệt Đề án phát triển án lệ

9 TANDTC : Tòa án Nhân dân tối cao

Trang 8

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Án lệ với hệ thống pháp luật Việt Nam

- Chủ nhiệm đề tài: Trần Viết Hà

- Lớp: DH13/LK03 Khoa: Kinh tế & Luật Năm thứ: 2/4

- Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Mai Phước

2 Mục tiêu đề tài:

Mục tiêu tạo ra một sản phẩm nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các bạn sinh

viên khi học các môn có liên quan đến án lệ Mặt khác, cao hơn đó là mục tiêu đóng

góp những sáng kiến của đề tài vào quá trình thực hiện Đề án phát triển án lệ ở nước

ta Thêm vào đó, đề tài còn hướng đến việc nâng cao nhận thức của người đọc về vị trí

của án lệ và ảnh hưởng của nó đối với hệ thống pháp luật Việt Nam

3 Tính mới và sáng tạo:

Khác với những đề tài nghiên cứu trước đây, với đề tài này nhóm tác giả muốn

kết hợp cả hai vấn đề giữa lý luận và thực tiễn Từ đó, vận dụng những cách áp dụng

án lệ tiến bộ, sáng tạo của một số nước trên thế giới mà đặc biệt là các nước theo

truyền thống dân luật Từ đó, phân tích và đánh giá một số giải pháp triển khai án lệ

được đề cập trong Quyết định số 74 Bên cạnh đó, trên cơ sở những gì đã nghiên cứu

được nhóm tác giả kiến nghị một số giải pháp để góp phần vào việc triển khai Đề án

được hiệu quả

4 Kết quả nghiên cứu:

- Đề tài đã đưa một số kiến nghị nhằm góp phần vào công tác triển khai Đề án phát

triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao

- Là một tài liệu tham khảo cho việc triển khai án lệ tại Việt Nam

- Gợi mở những hướng nghiên cứu cho bộ phận sinh viên đang quan tâm tới vấn đề

phát triển án lệ ở nước ta hiện nay

Trang 9

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và

khả năng áp dụng của đề tài:

Án lệ không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa là phán quyết và giải quyết của Tòa án

với một vụ án cụ thể để thiết lập ra một “tiền lệ” để áp dụng cho những vụ án tương tự

sau này, mà đó là tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử, giúp tiên lượng được trước kết

quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán và người tham gia

tranh tụng Hơn thế nữa, đây sẽ là cách thức hữu hiệu để hạn chế tối đa các vụ việc xét

xử oan sai, lách luật do tiêu cực của những người tiến hành tố tụng

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015

Chủ nhiệm đề tài

Trần Viết Hà

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực

hiện đề tài :

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015

Xác nhận của đơn vị Người hướng dẫn

Trần Thị Mai Phước

Trang 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Sinh ngày: 07 tháng 02 năm 1990

Nơi sinh: Đăk Nông

Lớp: DH13/LK03 Khóa: 2013-2017

Khoa: Kinh tế & Luật

Địa chỉ liên hệ: 53 Lê Thị Hồng – Phường 17 – Gò Vấp – Tp Hồ Chí Minh

Điện thoại: 01218.822.933 Email: ha.ou.2712@gmail.com

- Đoàn viên ưu tú năm học 2014-2015

- Chứng nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Xuân Tình nguyện 2015

- Chứng nhận hoàn thành nhiệm vụ trong Chương trình đồng hành cùng tân sinh

viên năm 2014

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015

Xác nhận của đơn vị Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

Trần Viết Hà

Ảnh 4x6

Trang 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Lê Thị Hồng Nhung

Sinh ngày: 14 tháng 04 năm 1994

Nơi sinh: Gia Lai

Lớp: DH12/LK03 Khóa: 2012-2016

Khoa: Kinh tế & Luật

Địa chỉ liên hệ: 54/25/281 Lý Thường Kiệt – phường 14 – Quận 11

Điện thoại: 0968.975.016 Email: lenhung.lk23@gmail.com

- Chứng nhận tham gia chương trình Đồng hành cùng thí sinh năm 2013

- Chứng nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Xuân Tình nguyện 2013

- Đoàn viên ưu tú năm học 2013-2014

- Đoàn viên ưu tú năm học 2014-2015

- Chứng nhận tham gia chương trình Đồng hành cùng thí sinh năm 2014

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015

Xác nhận của đơn vị Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

Lê Thị Hồng Nhung

Ảnh 4x6

Trang 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Sinh ngày: 16 tháng 11 năm 1994

Nơi sinh: Tiền Giang

Lớp: DH12/LK03 Khóa: 2012-2016

Khoa: Kinh tế & Luật

Địa chỉ liên hệ: 87/42/21 Đường số 27 - Phường 6 - Quận Gò Vấp

Điện thoại: 0169.447.8523 Email: nguyentronglektl03@gmail.com

- Chứng nhận tham gia chương trình Đồng hành cùng thí sinh năm 2013

- Chứng nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Xuân Tình nguyện 2013

* Năm thứ 2:

Ngành học: Luật kinh tế Khoa: Kinh tế & Luật

Kết quả xếp loại học tập: 6.62

Sơ lược thành tích:

- Đoàn viên ưu tú năm học 2014-2015

- Chứng nhận tham gia Chiến dịch Mùa hè xanh năm 2014

- Chứng nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Xuân Tình nguyện 2014

- Chứng nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chiến dịch Xuân Tình nguyện 2015

Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2015

Xác nhận của đơn vị Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

Nguyễn Trọng Lể

Ảnh 4x6

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do, mục đích chọn đề tài

Án lệ là một thuật ngữ không mấy xa lạ trên thế giới, thậm chí đó là nguồn luật chính trong hệ thống pháp luật thông luật (Comon law) Tuy nhiên, ở Việt Nam thì thuật ngữ này vẫn còn khá xa lạ và chưa được sử dụng phổ biến vì bản thân nó chưa được thừa nhận là nguồn luật trong hệ thống pháp luật nước ta

Lần đầu tiên được tiếp cận với thuật ngữ này qua môn học Lý luận Nhà nước và

Pháp luật, nhóm tác giả cảm thấy rất thú vị và tò mò khi nghe nhắc đến “Đề án phát

triển án lệ ở Việt Nam” Được biết đây là Đề án được Tòa án nhân dân tối cao chính thức thông qua bằng Quyết định số 74/QĐ -TANDTC ngày 31/10/2012 theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Trung ương Đảng năm 2005 Từ đây án lệ đã trở thành một vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm Thế nhưng, đối với đại bộ phận học sinh, sinh viên thì án lệ còn rất xa lạ và mơ hồ Đây chính là nguyên nhân

khiến nhóm tác giả chọn “Án lệ với hệ thống pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên

cứu khoa học đầu tay của mình

Với việc nghiên cứu đề tài này, nhóm tác giả mong muốn tạo ra một sản phẩm nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các bạn sinh viên khi học các môn có liên quan đến án lệ Mặt khác, cao hơn đó là mục tiêu đóng góp những sáng kiến của đề tài vào quá trình thực hiện Đề án phát triển án lệ ở nước ta Thêm vào đó đề tài còn hướng đến việc nâng cao nhận thức của người đọc về vị trí của án lệ và ảnh hưởng của nó đối với

hệ thống pháp luật Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu

Mặc dù đối với dư luận xã hội Việt Nam nói chung, án lệ vẫn còn rất xa lạ và mơ

hồ nhưng trong khoa học pháp lý thì đây là một “vùng đất” khá “màu mỡ” cho các đề tài nghiên cứu Trước hết, vấn đề lý luận cơ bản và khái quát về án lệ được đề cập đến

trong các giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật dành cho hệ đại học, trung cấp

và trong các giáo trình của các môn khoa học pháp lý chuyên ngành.Đi sâu hơn thì án

lệ được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu như: Pháp luật Thực tiễn và Án

lệ (Đinh Văn Quế), Thể chế Tư pháp trong Nhà nước Pháp quyền (Nguyễn Đăng

Dung), Khái niệm và những nguyên tắc của Tiền lệ pháp– hình thức pháp luật đặc thù

Trang 14

trong hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (Phan Nhật Thanh),… Còn nếu như nghiên cứu về

“Án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam” thì có thể nói có các công trình như: “Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam” (Nguyễn Văn Nam) hay đề tài nghiên cứu khoa

học sinh viên: “Sự cần thiết phải áp dụng án lệ tại Việt Nam” (Hoàng Thị Hằng,

Nguyễn Thị Thu Trang – Trường Đại học Kinh tế Luật Tp Hồ Chí Minh), … Bên cạnh đó, những vấn đề ít nhiều liên quan đến việc triển khai án lệ trong thực tế thì được đề cập đến trong rất nhiều công trình nghiên cứu có tính chất chuyên biệt, đơn cử

như: “Án lệ trong pháp luật thực định Việt Nam” của Đỗ Văn Đại, Đỗ Văn Kha, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 12/2008; “Án lệ và án mẫu những khả năng áp dụng ở

nước ta hiện nay” của Cao Việt Thắng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10/2011;

“Bàn về cách xây dựng án lệ” của Ngô Cường, Tạp chí Tòa án nhân dân số 12/2012;

Khác với những đề tài nghiên cứu trước đây, với đề tài này nhóm tác giả muốn kết hợp cả hai vấn đề giữa lý luận và thực tiễn Từ đó, vận dụng những cách áp dụng

án lệ tiến bộ, sáng tạo của một số nước trên thế giới mà đặc biệt là các nước theo truyền thống dân luật Từ đó, phân tích và đánh giá một số giải pháp triển khai án lệ được đề cập trong Quyết định số 74 Bên cạnh đó, nhóm tác giả kiến nghị một số giải pháp để góp phần vào việc triển khai Đề án được hiệu quả

3 Phạm vi nghiên cứu

Án lệ là một vấn đề có nội dung khá rộng và phức tạp nên không thể trình bày được tất cả kiến thức về nó trong một công trình nghiên cứu, nhất là một công trình nghiên cứu khoa học cấp trường của sinh viên Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lý luận chung bao gồm: giải thích thuật ngữ, vai trò, đặc điểm cũng như lịch sử ra đời và áp dụng án lệ ở một số nước nổi bật của truyền thống thông luật

và dân luật thành văn

Về thực tiễn, đề tài đi sâu nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam trên cơ

sở một số giải pháp được đề cập trong Quyết định số 74 Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng liên hệ tới việc áp dụng án lệ của một số hệ thống pháp luật trên thế giới được đề cập trong phần lý luận của đề tài Từ đó, đóng góp một số giải pháp vào quá trình triển khai Đề án phát triển án lệ

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở quan điểm duy vật và phép biện chứng

và các phương pháp, thao tác nghiên cứu khác, như so sánh, phân tích, tổng hợp, mô hình hóa,

5 Kết cấu đề tài

Đề tài được chia làm 3 phần bao gồm: Phần Mở đầu, Phần Nội dung, Phần Kết luận Trong đó Phần Nội dung được chia thành 3 chương :

- Chương 1 Cơ sở lý luận chung về án lệ

- Chương 2 Vấn đề áp dụng án lệ tại Việt Nam

- Chương 3 Bàn về Đề án phát triển án lệ và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ÁN LỆ

1.1 Khái niệm án lệ và một số thuật ngữ tương đồng

1.1.1 Khái niệm án lệ

Dù đã có một lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới nhưng cho đến nay việc đưa

ra một định nghĩa thống nhất về “án lệ” vẫn tồn tại nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau Để hiểu như thế nào là án lệ, áp dụng và sử dụng chúng như thế nào thì có thể nói không có điều luật trong hệ thống pháp luật một nước nào trên thế giới quy định cụ thể Các khái niệm về án lệ chủ yếu xuất hiện trong Từ điển luật học một số nước và chúng có xu hướng thay đổi, hoàn thiện dần theo thời gian

Theo từ điển luật học Anh1, án lệ là “bản án hoặc quyết định được nêu ra để

chứng minh cho những quyết định trong một vụ việc gần như tương tự sau đó” Ở Anh

- một nước điển hình của truyền thống thông luật (Common law), khái niệm án lệ được

hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, án lệ (Precedent) liên quan đến việc sử

dụng các quyết định, bản án của các vụ án đã được xét xử trước đó như là những tuyên

bố có quyền uy trong pháp luật để làm cơ sở cho giải quyết các vụ việc sau đó Theo nghĩa hẹp, án lệ đòi hỏi Thẩm phán trong mỗi tòa án cụ thể phải tôn trọng và tuân theo các bản án đã tuyên của các tòa án cấp trên theo nguyên tắc bắt buộc

Cũng là một nước nổi bật của truyền thống thông luật, Mỹ định nghĩa: “án lệ là

một quyết định xét xử mà ở đó tạo ta một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết pháp lý”2 Từ định nghĩa này, ta có

thể hiểu “(i) án lệ là việc làm luật của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc

mới trong xét xử; (ii) vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này”

Đối với Pháp, một nước điển hình cho truyền thống dân luật thành văn (Civil law)

thuật ngữ jurisprudence có nghĩa là các đường lối xét xử của tòa án và có thể hiểu

Trang 17

thuật ngữ này tương tự án lệ (Precedent) trong tiếng Anh Thuật ngữ jurisprudence đã được Carbonnier định nghĩa là “một giải pháp pháp luật do tòa án tạo ra đối với

những câu hỏi của pháp luật”3 Xét về khía cạnh lịch sử thì ý tưởng về án lệ có thể

được thấy trong quan điểm của Aristole “Các vụ việc giống nhau thì cần phải được xét

xử như nhau”4 Quan điểm này đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự tồn tại của học thuyết về án lệ trong cả truyền thống dân luật và thông luật Tuy nhiên, học thuyết về

án lệ được thể hiện trong truyền thống thông luật lại khác truyền thống dân luật ở chỗ

án lệ là nguồn luật chính thức trong pháp luật thông luật nhưng nó lại là nguồn luật thứ cấp trong pháp luật dân luật Đây chính là lý do tại sao có nhiều quan điểm khác nhau đối với án lệ ở các nước có hệ thống pháp luật thuộc hai truyền thống pháp luật nói trên

Đối với Việt Nam, Từ điển Luật học định nghĩa “Án lệ là bản án đã tuyên hoặc

một sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự”5 Một số quan điểm cho

rằng “án lệ là toàn bộ những phán quyết hoặc đường lối giải thích và vận dụng pháp

luật của tòa án về một vấn đề pháp lý nhất định, lâu ngày tạo thành một tiền lệ, tức là quy tắc làm mẫu mực cho các Thẩm phán noi theo trong việc xét xử các trường hợp tương tự”6 hay “án lệ là quy tắc pháp lý tạo nên do sự lặp đi lặp lại của nhiều án văn

về quan điểm pháp lý nhất định”7 Quan điểm khác cho rằng án lệ hay hệ thống án lệ

“là chế độ trong đó Thẩm phán tiến hành xét xử không mâu thuẫn với quan điểm pháp

lý được thể hiện trong phần xét xử của Tòa án cấp cao nhất của một nước đối với các

3 Dẫn theo Nguyễn Văn Nam (2012), “Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh,

Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam”, Nxb.Công an Nhân dân, tr.217

4 Gale Group, The Dictionary Of The History Of Ideas (2003), Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.217

5 Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb.Tư pháp và Nxb.Từ điển bách khoa, tr.13

6 Triệu Mạnh Tuấn (2000), Pháp luật và dân sự đại cương, Nxb.Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh, tr.92

7 Trần Văn Liêm , Dân luật – quyển 1 Dân luật nhập môn, Nxb.Miền Nam Việt Nam, Dẫn theo Tài liệu hội nghị

triển khai Đề án phát triển án lệ của TANDTC năm 2013, tr.5

8 Tòa án nhân dân tối cao, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản , Nghiên cứu chung Việt-Nhật về phát triển án lệ tại Việt Nam, Nxb.Thanh niên, tr.8

Trang 18

định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách TANDTC thông qua, trở thành án lệ có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể” 9

1.1.2 Một số thuật ngữ tương đồng

Quyết định số 74 đã nêu rất rõ về khái niệm và tiêu chí để một quyết định trở thành án lệ Tuy nhiên, về mặt lý luận chúng ta vẫn cần phân biệt án lệ với các khái niệm tương tự như tiền lệ án, thực tiễn tòa án, tiền lệ pháp, thông luật và những khái niệm có mối liên hệ mật thiết khác như luật tương tự, tập quán pháp Trong đó,

i Tiền lệ án (hay thực tiễn tòa án) là những khái niệm mà có quan điểm cho rằng

đây là cách gọi khác của án lệ trong tư pháp quốc tế Tuy nhiên, chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng khái niệm này không mang tính pháp lý và có nội hàm rộng hơn khái niệm án lệ, bao gồm tất cả những bản án đã có của Tòa án và tất cả những hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án10

ii Tiền lệ pháp thường được dùng tương đương với án lệ Chính vì thế đã có

những sự nhầm lẫn qua lại giữa hai khái niệm này Tuy nhiên, nếu xét về mặt lý luận thì hai khái niệm này độc lập với nhau và việc sử dụng chúng cũng không hoàn toàn giống nhau Nếu chúng ta muốn nhắc đến một hình thức pháp luật (là sự biểu hiện bên

ngoài của pháp luật, cách thức mà giai cấp thống trị nâng ý chí của mình thành luật),

xem xét nó trong mối tương quan với tập quán pháp, văn bản pháp luật và mức độ phổ

biến rộng rãi thì dùng thuật ngữ tiền lệ pháp Nếu chúng ta chỉ muốn nói đến những

bản án cụ thể của Tòa án được dùng cho những vụ việc có tình tiết tương tự về sau thì

sử dụng thuật ngữ án lệ Theo cách hiểu như vậy thì án lệ có ở bất cứ quốc gia nào và

bất cứ hệ thống pháp luật nào, còn đối với tiền lệ pháp thì chỉ là hình thức pháp luật được dùng ở các nước có truyền thống thông luật

iii Thông luật, thì về mặt thuật ngữ, án lệ có mối quan hệ mật thiết với khái niệm

này Thông luật là tên của một truyền thống pháp luật (hay hệ thống pháp luật), thường

chỉ hệ thống luật Anh – Mỹ hay còn được biết đến với các tên gọi khác như: Hệ thống Anglo-Saxon, hệ thống luật án lệ Trong thông luật còn bao gồm cả luật tập quán (tục lệ) và án lệ Còn đối với án lệ chỉ bao gồm văn bản, quyết định của Tòa án được áp

9 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 về phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân

tối cao”

10 Nguyễn Văn Cường – Phó viện trưởng Viện khoa học xét xử - TANDTC “Khái quát chung về lý luận và thực

tiễn của việc triển khai án lệ vào công tác xét xử của tòa án Việt Nam”

Trang 19

dụng để giải quyết các vụ việc tương tự về sau Nếu chúng ta xem xét một truyền thống pháp luật, hoặc xem xét lịch sử phát triển của truyền thống pháp luật đó thì ưu

tiên sử dụng thuật ngữ thông luật

iv Tập quán pháp, để hiểu được khái niệm này thì ta cần đặt nó và khái niệm án lệ

trong một cái nhìn tổng thể chung về hình thức pháp luật Theo Từ điển luật học của Việt Nam thì: “Hình thức pháp luật là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể

hiện ý chí của mình thành các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc Có ba hình thức pháp luật là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm pháp luật (1) Pháp luật tập quán (tập quán pháp) là những tập quán được được nhà nước thừa nhận

và đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước; (2) Án lệ pháp luật là hình thức pháp luật hình thành từ hoạt động xét xử của Tòa án, các bản án mẫu sau khi được một hội đồng Thẩm phán có thẩm quyền thừa nhận sẽ trở thành khuôn mẫu áp dụng cho các

vụ việc tương tự về sau; (3) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định trong đó có chứa các quy tắc xử

sự mang tính bắt buộc chung, được nhà Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản hoặc cần thiết”11 Và nếu xem xét khái niệm

nguồn của pháp luật với tư cách là nơi chứa đựng các quy tắc pháp luật cần thiết cho

xử sự của chủ thể hay là nơi chứa đựng quy phạm pháp luật, thì nguồn của pháp luật đồng nghĩa với khái niệm hình thức pháp luật12 Với quan niệm như trên thì ta có thể nói khái niệm tiền lệ pháp và tập quán pháp được phân biệt một cách rõ ràng

v Luật tương tự hay Áp dụng pháp luật tương tự “là hoạt động giải quyết các vụ

việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó”13

Như vậy khái niệm này độc lập với khái niệm án lệ nhưng có những trường hợp khái niệm án lệ được hiểu theo hướng là việc đưa ra nguyên tắc, nền tảng cho những vụ việc tương tự về sau, hoặc là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn làm căn cứ áp dụng để quyết định cho các vụ việc tương tự xảy ra trong tương lai Khi hiểu án lệ theo

hướng này thì có thể thấy nét tương đồng của khái niệm án lệ với luật tương tự hay áp

dụng pháp luật tương tự, nhưng cách hiểu này có thể chưa chính xác về mặt thuật ngữ

11 Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư Pháp, Nxb.Từ điển bách khoa – Nxb.Tư pháp, tr.363

12 Từ điển Luật học, sđd, tr.563

13 Nguyễn Thị Hồi (2009), “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,

Đại học luật Hà Nội, tr.27

Trang 20

Đối với các chuyên gia pháp lý ở Việt Nam, có quan niệm cho rằng Báo cáo của TANDTC về tổng kết kinh nghiệm xét xử là một hình thức án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam14 Những báo cáo này là tập hợp các báo cáo chuyên ngành về kinh nghiệm xét xử và thực tiễn tòa án được tòa chuyên trách của TANDTC15 ban hành mỗi năm Xét về mặt bản chất, các Báo cáo tổng kết công tác ngành Toàn án Nhân dân thường chứa đựng các đường lối xét xử các vụ án, đây là nét tương đồng với khái niệm

án lệ Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng hiểu như vậy sẽ bất hợp lý, báo cáo này không phải là án lệ, bởi vì án lệ đầu tiên và trước hết phải là quyết định của Tòa án

Hơn nữa, sử dụng án lệ sẽ không phù hợp với nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 9, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014)”16

1.2 Vai trò và đặc điểm của án lệ

1.2.1 Vai trò của án lệ

i Vai trò án lệ trong xét xử của Tòa án

Dù là nguồn chính thức trong truyền thống thông luật hay chỉ là nguồn luật thứ cấp trong truyền thống dân luật thì án lệ vẫn đóng một vai trò quan trọng đối với các Thẩm phán, Công tố viên, Luật sư và đương sự khi tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng Nó được thể hiện cụ thể:

* Thứ nhất, án lệ giải thích và vận dụng pháp luật: Án lệ đóng một vai trò quan

trọng trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo truyền thống thông luật Các phán quyết của Tòa án trở thành án lệ sẽ là nguyên tắc xử sự chung, chuẩn mực cho các Thẩm phán khi áp dụng pháp luật Khi các Thẩm phán xét xử một vụ việc mà nó tương

tự sẽ áp dụng theo những phán quyết trở thành án lệ để giải quyết vụ việc, việc vận dụng xét xử này được nhà nước công nhận hợp pháp và phù hợp với pháp luật Còn đối với các quốc gia pháp luật theo truyền thống pháp luật thực định dân luật thành

14 Trần Thanh Tùng (27/9/2010) “Án lệ và những điều chưa biết”, Báo Pháp luật Online,

nhung-dieu-chua-biet-171022.html

http://phapluattp.vn/Ph%C3%A1p%20lu%E1%BA%ADt%20ch%E1%BB%A7%20nh%E1%BA%ADt/an-le-15 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì cơ cấu của Tòa án nhân dân tối cao có bao gồm bộ phận các tòa chuyên trách (Điểm b, Khoản 2, Điều 18), nhưng với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về cơ cấu của Tòa án nhân dân tối cao không bao gồm bộ phận các phân tòa chuyên trách (Điều 21), bộ phận các phân tòa này được quy định nằm trong cơ cấu của Tòa án nhân dân cấp cao (Điều 30)

16 Nguyễn Văn Cường – Phó viện trưởng Viện khoa học xét xử - TANDTC (2013) “Khái quát chung về lý luận

và thực tiễn của việc triển khai án lệ vào công tác xét xử của tòa án Việt Nam”, tài liệu hội thảo Triển khai Đề

án phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao, tr.4

Trang 21

văn, pháp luật được chứa đựng cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Thông

thường việc giải thích pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan ban hành hoặc cơ quan được chỉ định cụ thể trong đạo luật về hoạt động lập pháp hoặc lập quy Tuy nhiên, không phải mọi vướng mắc về cách hiểu một điều luật cũng được cơ quan có thẩm quyền giải thích đầy đủ và kịp thời Trong trường hợp đó, thông thường cách hiểu một điều luật trong án lệ sẽ được coi là cách hiểu có ý nghĩa thực tế nhất vì nó là cách hiểu được thể hiện trong một phán quyết có hiệu lực pháp luật và nó đang được nhà nước bảo đảm thi hành bằng cưỡng chế nhà nước Trong điều kiện này thì án lệ được coi là chuẩn mực trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án và để đương sự cùng luật sư

sử dụng bảo vệ quyền lợi của mình hoặc thân chủ mình

* Thứ hai, án lệ bổ sung cho sự khiếm khuyết của pháp luật: Ta thấy rằng các

nguyên tắc xử sự chung, dù là ở truyền thống pháp luật common law hay truyền thống pháp luật civil law, thì pháp luật luôn có một sự lạc hậu và chậm chạp nhất định Vì thông luật chỉ hiện diện khi các xử sự đã trở thành thông lệ, luật thành văn cũng thể hiện khi các mối quan hệ xã hội đã diễn ra tới mức cần phải có luật để điều chỉnh Đồng thời, không phải lúc nào các sự việc xuất hiện thì luật cũng kịp thời điều chỉnh

bổ sung Do vậy, đối với những vấn đề mới phát sinh trong cuộc sống, những vấn đề chưa được luật lường và dự liệu hết thì cần có quy phạm điều chỉnh Lúc này án lệ phát huy vai trò là một công cụ hữu hiệu để bổ sung cho sự chậm chạp này của pháp luật

* Thứ ba, án lệ bảo đảm cho việc áp dụng thống nhất pháp luật: một bản án chỉ

có hiệu lực đối với một vụ việc cụ thể được xác định trong bản án đó, và dĩ nhiên đối với những vụ án khác nhau sẽ có phán quyết của tòa án đưa ra sẽ khác nhau Nhưng nếu những vụ việc tương tự về mặt tình tiết mà mỗi tòa án lại đưa ra quyết định theo một kiểu thì sẽ rất bất hợp lý và khó có thể chấp nhận được Mặt khác, theo nguyên tắc pháp luật phải được hiểu và áp dụng một cách thống nhất Tuy nhiên, nhiều từ ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật chỉ mang tính định tính, còn khá trừu tượng điều đó dẫn đến không thể làm rõ nội dung của văn bản pháp luật Vì vậy, để làm rõ nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật, có thể các nhà làm luật chọn giải pháp ban hành một văn bản quy phạm khác để giải thích làm rõ cho nội dung chưa rõ ràng còn trừu tượng Nhưng ta cũng biết rằng, đã là văn bản quy phạm pháp luật thì khó có thể quy định được cụ thể cho từng trường hợp Giải quyết trường hợp này ta thấy án lệ

Trang 22

đóng vai trò rất hữu hiệu khi bản án, quyết định của Tòa án đã trở thành án lệ thì khi xét xử các vụ án tương tự về sau các Thẩm phán có thể dễ dàng thấy được phán quyết như thế nào là phù hợp với quy định của pháp luật Nếu như tất cả các phán quyết của tòa án đều tuân thủ theo án lệ thì pháp luật sẽ được áp dụng một cách thống nhất

* Thứ tư, án lệ tạo tiền đề cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật:

mặc dù án lệ là phán quyết của Tòa án về một vấn đề cụ thể, nhưng khi nó trở thành khuôn mẫu phổ biến, phù hợp với ý chí của Nhà nước, thì lúc này án lệ có thể trở thành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các vụ việc Ví dụ: Khi án lệ đã trở thành cách hành xử chung, thì Hội đồng Thẩm phán có thể đưa án lệ này vào nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán để bắt buộc áp dụng toàn ngành

ii Vai trò của án lệ trong luật quốc tế

Tuy rằng án lệ không có giá trị pháp lý bắt buộc như hai nguồn luật cơ bản của luật quốc tế là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế nhưng nó vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và có giá trị thực tiễn cao trong khoa học pháp lý

* Án lệ là cơ sở thực tế có tính thuyết phục cao nhằm xác định các tiêu chuẩn pháp lý chung, đặc biệt khi không có sự thống nhất về một vấn đề nào đó của luật quốc tế Vai trò quan trọng của án lệ được thể hiện ở những khía cạnh cơ bản sau:

- Thứ nhất, thông qua án lệ, những nội dung cơ bản của các nguyên tắc và quy

phạm luật quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế được làm rõ Các phán quyết của Tòa án quốc tế lại có giá trị khẳng định những quy phạm pháp luật quốc tế

đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế (bao gồm cả những dự thảo điều ước quốc tế) và những tập quán quốc tế tồn tại vào thời điểm ban hành phán quyết Chẳng hạn như Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế trong vụ hoạt động quân sự chống lại Nicaragua (Nicaragua kiện Mỹ năm 1986) là một ví dụ Tòa đã xem xét và lập luận những hành vi của Mỹ đã vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế nêu ra tại Điều 2.4 Hiến chương LHQ trong việc thực hiện các hành vi giúp đỡ các nhóm phiến loạn tấn công, xâm nhập lãnh thổ Nicaragua Tòa cũng đã bác bỏ lập luận của Mỹ trong việc thực hiện “quyền tự vệ tập thể” với lý do Nicaragoa đã có thái độ thù địch với các nước láng giềng là Honduras và El Sanvador Đồng thời, hành vi ủng hộ, giúp đỡ tài chính, huấn luyện và trang bị cho tổ chức Contras được Tòa xác định là sự vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc

Trang 23

nội bộ của một quốc gia có chủ quyền Trên cơ sở những lập luận đó, Tòa đã kết luận

Mỹ đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và xử cho Nicaragua thắng kiện17

- Thứ hai, án lệ có ý nghĩa khẳng định sự tồn tại một vấn đề cơ bản ở những lĩnh vực trong khoa học luật quốc tế mà hiện nay quá trình pháp điển hóa còn đang tiếp diễn, chẳng hạn như vấn đề trách nhiệm pháp lý quốc tế Trong vụ kiện nhà máy Chorzow (Chorzow Factory Case - Đức và Ba lan (1928), Tòa án Thường trực Quốc tế

đã kết luận: “Một nguyên tắc của luật quốc tế được thừa nhận rộng rãi là bất kỳ một sự

vi phạm đối với một nghĩa vụ quốc tế nào đều sẽ dẫn đến việc bồi thường”18 Tòa án Quốc tế trong các bản án của mình đã công nhận trách nhiệm bảo đảm sự cân bằng về sinh thái của trái đất là một lợi ích thiết yếu của mọi quốc gia và mục đích của chúng chính là sự bảo vệ cộng đồng quốc tế nói chung

- Thứ ba, các án lệ khi được viện dẫn có ý nghĩa quan trọng làm sáng tỏ nội hàm của một khái niệm pháp lý trong luật quốc tế Đây có thể được coi là một vai trò cơ bản và rõ rệt nhất của các án lệ Ví dụ trong phán quyết về vụ Las Palmas, khái niệm

chủ quyền lãnh thổ được định nghĩa là sự “… bao hàm đặc quyền thể hiện các hoạt

động của một quốc gia Quyền này có một nghĩa vụ tương ứng: nghĩa vụ của các quốc gia bảo vệ trong phạm vi lãnh thổ đó đối với quyền của các quốc gia khác, cụ thể là quyền đối với sự toàn vẹn và bất khả xâm phạm trong chiến tranh và hòa bình, cùng với các quyền mà mỗi quốc gia có thể viện dẫn đối với công dân của mình ở lãnh thổ nước ngoài ”19 Tòa án Công lý quốc tế trong vụ Nottebohm đã chỉ ra bản chất của

mối quan hệ quốc tịch khi xem quốc tịch là “mối liên hệ pháp lý có nền tảng là sự gắn

bó thực tế về xã hội, một mối liên kết thực sự của đời sống và tình cảm, cùng với sự tồn tại của các quyền và nghĩa vụ tương hỗ Nó (quốc tịch) tạo ra sự công nhận về pháp lý thực tế rằng cá nhân có được quốc tịch, một cách trực tiếp bởi luật pháp hoặc hành vi của các cơ quan công quyền, có sự gắn kết với dân cư của quốc gia cấp quốc tịch một cách chặt chẽ hơn là đối với dân cư của một quốc gia nào khác”20

17 Trần Thành Long, “Vai trò của án lệ đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế và sự cần thiết của việc sử

dụng án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy luật quốc tế ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 4/2012, tr.59

18 Factory at Chorzow (Germany v Poland) (1927) PCIJ series A No.9, Dẫn theo Trần Thành Long, sđd, tr.59

19 Island of Palmas, RIAA II 829, 839, Dẫn theo Trần Thành Long, sđd, tr.62

20 Nottebohm, ICJ Report (1955) p 4, Dẫn theo Trần Thành Long, sđd, tr.57

Trang 24

* Trên cơ sở khẳng định sự đúng đắn và hợp lý, các án lệ có vai trò là cơ sở vật chất làm nền tảng xây dựng các quy phạm mới của luật quốc tế kể cả việc hình thành các quy phạm luật quốc tế dưới dạng tập quán Ví dụ, quy phạm tập quán của luật môi

trường quốc tế “không một quốc gia nào có quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình dẫn đến việc gây thiệt hại bởi việc gây ô nhiễm do khói bay sang

hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia khác”, được nêu ra trong vụ Trail Smelter (Mỹ và

Canada) của Tòa án Trọng tài Nguyên tắc đó sau này đã trở thành cơ sở pháp lý cho những điều ước quốc tế về môi trường, chẳng hạn như Nghị định thư Kyoto của Công ước khung của Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu năm 199721

Vai trò của án lệ được thể hiện khá rõ nét trong những vụ tranh chấp về lãnh thổ

và luật biển Trong vụ ngư trường Anh - Na Uy, một loạt các vấn đề được giải quyết trong phán quyết của Tòa án đã được công nhận và sau đó được ghi nhận trong Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 về đường cơ sở thẳng, vùng nước lịch sử Ngoài

ra, các án lệ có giá trị thực tiễn trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế tại Tòa án quốc tế (được viện dẫn trong phần lập luận của Tòa và luận điểm của các bên về vụ tranh chấp) Chúng thường là nguồn viện dẫn quan trọng của các quốc gia trong việc đưa ra các lập luận, các phân tích ý kiến của mình và bác bỏ quan điểm, lập trường của bên tranh chấp

1.2.2 Đặc điểm của án lệ

Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật ở các nước thuộc truyền thống pháp luật Common law Đặc điểm, tính chất của nó được xác định bởi các phương pháp được sử dụng để tạo ra án lệ và văn hóa pháp lí đặc biệt với những đòi hỏi, nguyên tắc áp dụng án lệ Một số đặc điểm nổi bật của án lệ bao gồm:

i Án lệ do tòa án tạo ra trong quá trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc hay luật do Thẩm phán ban hành Trong khi

đó, nguồn luật văn bản chủ yếu được tạo ra bằng con đường nghị viện ban hành Những lập luận cho việc lý giải tại sao lại trao thẩm quyền làm luật cho tòa án hay nghị viện đều có những lý lẽ hợp lý riêng Các luật gia của hệ thống dân luật cho rằng, pháp luật không nên tạo ra từ các phán quyết của các Thẩm phán bởi họ không đủ thời gian để đưa ra các quy định chung mang tính công minh Như vậy, các quy phạm pháp

21 Dẫn theo Trần Thành Long, sđd, tr.61.

Trang 25

luật phải là sản phẩm của tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, đạo đức chứ không phải là các quyết định nhất thời của các Thẩm phán Pháp luật nên được tạo ra bằng trí tuệ tập thể, cần phải có sự thận trọng và công việc này thích hợp cho nghị viện Như vậy, có thể nói tòa án ở các quốc gia này chỉ là người áp dụng pháp luật chứ không phải là người sáng tạo pháp luật Trong khi

đó, các luật gia của hệ thống thông luật cho rằng luật được tạo ra bằng con đường nghị viện sẽ không mang tính thức tiễn cao, khó thay đổi, mang tính khái quát cao và trừu tượng

ii Việc sử dụng án lệ phải dựa trên nguyên tắc “Stare decisis”: nghĩa là phải

tuân theo các phán quyết đã có (án lệ bắt buộc) đã có từ trước Theo nguyên tắc này, một phán quyết của Tòa án ngoài ý nghĩa là cách giải quyết một vụ án cụ thể, còn có ý nghĩa thiết lập ra một tiền lệ để áp dụng cho những vụ án tương tự sau này Với nguyên tắc này sẽ tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp; điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì

sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc

iii Án lệ có thể bị thay đổi và bị bãi bỏ: có thể thấy được đối với các nước thông

luật thì sự thay đổi và bãi bỏ án lệ cũng như sự thiết lập án lệ mới thể hiện cho lịch sử phát triển của pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể Khi án lệ bị thay đổi, bãi bỏ cũng là những biểu hiện cho sự phản ứng linh hoạt của tòa án với những sự thay đổi của pháp luật trước những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội thay đổi Bởi có những án lệ đã tồn tại đến hàng trăm năm, những sự việc, sự vụ đã không còn phù hợp để có thể áp dụng xét xử cho các sự việc hiện tại, chính điều nay làm cho các án lệ này trở nên lỗi thời, hoặc sai lầm và cần được thay thế bởi các án lệ khác phù hợp hơn Việc thay đổi, bãi

bỏ này thường được thực hiện theo hai cách: cách thứ nhất là, bị bãi bỏ bởi chính tòa

án đã tạo ra nó hoặc một tòa cấp cao hơn; thứ hai là bị bãi bỏ bởi một luật do cơ quan

lập pháp thông qua

iv Án lệ được hình thành phải mang tính mới: nghĩa là quy tắc chưa có truớc đó

Một số người nghĩ rằng, vì án lệ được tạo ra bằng con đường tòa án thông qua các vụ việc nên sẽ rất nhiều và mang tính hỗn độn Thông thường, khi có một việc tranh chấp

tại tòa thì các Thẩm phán cũng như các luật sư sẽ quan tâm đến hai vấn đề: (1) Vấn đề

sự kiện ; (2) Vấn đề pháp lý Đối với các vụ việc đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác

Trang 26

định chất pháp lý của sự kiện và đã có quy định trong văn bản pháp luật hay tiền lệ

trước đó để áp dụng, tòa án không tạo ra án lệ khi giải quyết các vụ việc này Rất ít các

vụ việc liên quan đến vấn đề pháp lý cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có quy tắc

tiền lệ Lúc này tòa án mới tạo ra án lệ để giải quyết những vụ việc này

Ví dụ, trong vụ Donoghue v Stevenson 193222 Vào năm 1928, cô Donoghue và bạn của cô đến quán cà phê ở Paisley Bạn của Donoghue đã mua lon nước gừng đục, sau đó chủ quán mở nắp chai và rót vào ly Sau khi uống Cô Donoghue đã phát hiện trong ly có một cái đinh sét Sau đó, cô Donoghue đã bị sốc thần kinh và đau dạ dày

Vì vậy, cô ấy đã kiện nhà sản xuất với lý do đã thiếu trách nhiệm đối với người tiêu dùng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Vấn đề pháp lý ở đây là có một hợp đồng pháp

lý phát sinh giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng hay không và người tiêu dùng có quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với nhà sản xuất hay không Theo lý thuyết về hợp đồng truyền thống của thông luật thì không thừa nhận quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng vì nhà sản xuất không ký hợp đồng với người tiêu dùng Tuy nhiên, cuối cùng Thượng Nghị viện Anh đã đưa ra phán quyết buộc nhà sản xuất phải bồi thường cho cô Donoghue theo luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Từ đây đã hình thành nên quy tắc “ratio” về nghĩa vụ của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng

v Việc áp dụng án lệ có liên quan đến các yếu tố kỹ thuật pháp lý: Sở dĩ gọi là

các yếu tố kỹ thuật pháp lý vì nó là những yêu cầu không thể thiếu được khi nhận diện

và áp dụng án lệ trong các nước thông luật Những yếu tố này gồm: (1) Trong những bản án quyết định của tòa án (được coi là án lệ) thì phần nào coi là giá trị án lệ bắt

buộc, bởi không phải toàn bộ bản án đều có giá trị bắt buộc, chỉ phần Ratio decidendi (lý do đưa ra quyết định) có giá trị bắt buộc còn phần Obiter (luận cứ phụ) không bắt

buộc phải tuân theo; (2) Việc phân biệt án lệ trong áp dụng đối với vụ việc cụ thể; (3) Giá trị án lệ gắn với thứ bậc của Tòa án tạo ra nó; (4) Cách viện dẫn án lệ trong bản án; (5) Sự lập luận hợp lý của Thẩm phán trong án lệ; (6) Cách đọc và phân tích nội dung của án lệ; (7) Những ý kiến bất đồng được công bố trong án lệ; (8) Trong mối quan hệ với luật thành văn thì luật thành văn có hiệu lực cao hơn án lệ

22 Dẫn theo Đỗ Thành Trung, “Án lệ một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí khoa học pháp lý, Số 4/2012,

tr.66

Trang 27

Những hiểu biết mang tính khái quát, bề ngoài, đại khái có thể tạo ra những sự nhận xét không thật đầy đủ về những điểm tích cực và hạn chế của việc áp dụng và sử dụng án lệ trong Thông luật Chẳng hạn các luật gia của các nước Dân luật thành văn

có thể cho rằng việc áp dụng án lệ sẽ tạo ra sự tùy tiện trong xét xử đối với các Tòa án của các nước Thông luật Điều này có thể xảy ra đối với các Thẩm phán ở các nước Thông luật khi họ bỏ qua sự lưu ý và ràng buộc bởi các án lệ Tuy nhiên, thật không thể dễ để các Thẩm phán Thông luật, nhất là các Thẩm phán của các Tòa án sơ thẩm

có thể tự do lựa chọn các giải pháp pháp luật cho vụ việc mà họ xét xử khi họ không căn cứ vào luật và các án lệ liên quan.23

vi Kỹ thuật xây dựng và vận hành là dựa vào yếu tố tương tự: Xuất phát từ tư

tưởng công bằng của nhà triết học Aristote là “Các trường hợp giống nhau phải được

xử lý như nhau”24, các luật gia thông luật sử dụng triệt để cách thức này để xây dựng

và áp dụng án lệ Bằng phương pháp suy luận tương tự, có nghĩa là lấy tính giống nhau làm tiêu chuẩn đó là kỹ thuật tư duy đặc thù của thông luật khi tạo ra một án lệ Một

quy tắc án lệ gọi là ratio được hình thành dựa trên ba yếu tố: (1) Các tình tiết của vụ

việc; (2) Lý lẽ hay lập luận; (3) Quyết định của tòa án Khi tòa án giải quyết vụ việc

lần đầu thì chỉ tạo ra hình mẫu hay phác thảo nên một quy tắc, lúc này nó chưa hẳn đã

là một quy tắc hoàn hảo để giải quyết các sự việc Theo thời gian, các quy tắc này tiếp tục được áp dụng để giải quyết cho các vụ việc tương tự về sau Theo đó, quy tắc ấy cũng dần hoàn thiện hơn và trở thành án lệ Các Thẩm phán sau này khi giải quyết một

vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết vụ việc hiện tại, nếu không tuơng tự thì không áp dụng

Ví dụ, trong vụ Grant v Australia Knitting Mills năm 193625 Nguyên đơn đã mua quần áo của công ty Australia Knitting Mills từ người bán lẻ và khi mặc vào đã bị dị ứng da do hóa chất có trong quần áo gây ra Nguyên đơn đã yêu cầu nhà sản xuất phải bồi thường và yêu cầu áp dụng quy tắc tiền lệ của vụ việc cô Donoghue Các Thẩm

23 Chánh án Trương Hòa Bình (Chủ nhiệm đề tài), “Triển khai án lệ vào công tác xét xử của Tòa án Việt Nam”,

Đề tài nghiên cứu của Tòa án Nhân dân tối cao, tr.57

24 Dẫn theo Đỗ Thành Trung, “Án lệ một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí khoa học pháp lý, Số 4/2012,

tr.65

25 Dẫn theo Đỗ Thành Trung, sđd, tr.66

Trang 28

phán của hội đồng xét xử của Ủy ban tư pháp của Vương quốc Anh đã đưa ra những lý

lẽ riêng của mình và tranh luận rất quyết liệt để xác minh vụ việc này giống hay khác với vụ Donoghue v Steveson 1932 Chẳng hạn Thẩm phán Greene lập luận dựa vào thuật ngữ kiểm soát để phân biệt vụ việc này với vụ việc Donoghue v Steveson Sản phẩm mà cô Donoghue sử dụng là lon nước gừng đục, là hàng không thể và không có khả năng phát hiện khiếm khuyết của sản phẩm, điều này dẫn đến trách nhiệm của nhà sản xuất là tất yếu Trong khi đó, sản phẩm trong vụ Grant v Australia Kntiting Mills

là quần áo, khách hàng có thể phát hiện những khiếm khuyết của sản phẩm hoặc có những biện pháp an toàn khác khi sử dụng như giặt khi mặc vào Vụ việc Donoghue v Steveson trong quá trình tranh luận, có lẽ đã đưa ra quy tắc liên quan đến trách nhiệm của nhà sản xuất có thể bị nghi ngờ là đi quá xa hay là tính khái quát của quy tắc này quá cao

vii Án lệ thể hiện tính khách quan, thực tiễn cao và công bằng: Một số người

cho rằng, án lệ được tạo ra bởi một vài Thẩm phán trong hội đồng xét xử khi xử lý một

vụ việc cụ thể nên có thể dẫn đến tình trạng chủ quan, tùy tiện trong việc tạo ra án lệ Thật ra, nhận định này mới chỉ nhìn bề ngoài về nguồn luật án lệ và hiểu không đúng

về bản chất, tinh thần của án lệ Vì theo quy tắc án lệ không phải hình thành từ một bản án cụ thể, mà nó được hình thành qua hàng loạt vụ việc tương tự về sau Bản án đầu tiên chỉ là hình mẫu phác thảo lên một quy tắc án lệ Nó phải kết quả của quá trình đưa ra lý lẽ và tranh luận lâu dài được thể hiện thông qua sự tranh luận giữa bên nguyên và bên bị trong vụ việc, giữa các Thẩm phán trong hội đồng xét xử, giữa các Thẩm phán sau với các Thẩm phán trước đó Án lệ mang tính thực tiễn cao bởi nó dựa vào thực tiễn, tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế chứ không phải giải quyết vấn đề bằng các lý thuyết trừu tượng chung

1.3 Lịch sử ra đời và thực tiễn áp dụng của án lệ

1.3.1 Án lệ trong hệ thống thông luật (Common law)

Thuật ngữ hệ thống thông luật (Common law system) là một thuật ngữ chung đề cập tới những hệ thống pháp luật trong đó bao gồm hệ thống pháp luật của nước Anh

và những hệ thống pháp luật đã bị ảnh hưởng một cách rõ nét bởi pháp luật nước Anh như Mỹ, Canada, Úc, Newzealand,

Trang 29

Đối với hệ thống thông luật, phải thừa nhận rằng tư tưởng về án lệ rất được các nhà luật học quan tâm Tác giả Gerald J.Postema đã miêu tả án lệ như là mạch máu của hệ thống pháp luật (life blood of a legal system)26 Quan điểm này đã nhận được

sự ủng hộ của hầu hết các nhà luật trong hệ thống thông luật Trong hệ thống thông luật án lệ đã xâm nhập đến hầu hết các lĩnh vực pháp luật và trở thành bộ phận không thể thiếu trong pháp luật của các nước thuộc truyền thống thông luật Tuy nhiên, lý luận về án lệ của các nước này lại được nhìn nhận dưới quan điểm không hoàn toàn giống nhau Điều này được lý giải bởi việc áp dụng không thống nhất án lệ và các quan điểm liên quan đến án lệ Để tìm hiểu rõ hơn, nhóm tác giả sẽ khái quát về việc

áp dụng án lệ trong pháp luật Anh, Mĩ - là hai nước nổi bật của truyền thống thông luật

để đưa ra cái nhìn khách quan nhất

i Án lệ trong hệ thống pháp luật Anh

* Lịch sử hình thành

Truyền thống pháp luật thông luật ở nước Anh bắt đầu được hình thành một cách

rõ rệt bởi sự lên ngôi của vua Edward I năm 1272 Tòa án của nhà Vua có vai trò trong việc tạo ra thông luật ở khắp nước Anh Thông luật gắn với tập quán thừa nhận Thẩm phán có quyền sáng tạo ra pháp luật ở Anh Ngày nay, thông luật vẫn được duy trì mạnh mẽ và bao quát hầu hết các lĩnh vực pháp luật ở Anh Về nguyên tắc, vị trí của luật thành văn (văn bản quy phạm pháp luật do Nghị viện ban hành) có giá trị cao hơn các án lệ

Thông luật ở Anh được xây dựng dựa trên những nguồn luật sau:

- Án lệ (tiền lệ);

- Văn bản quy phạm pháp luật;

- Lẽ phải;

- Một số nguồn luật khác: học thuyết tư tưởng…

Nguồn luật án lệ ra đời từ bao giờ là một câu hỏi mà câu trả lời không có một đoạn kết chính xác và làm hài lòng cho tất cả.Với người Anh, họ sẽ cho rằng nước Anh là “quê hương”, là nơi ra đời của án lệ Điều này có thể được các luật gia, các nhà

26Gerald J.Postema, Some Roots Of Our Nation Of Precedent, In “Precedent In Law”, Edited by Laurence

Goldstein, Clarendon Press – Oford, 1987 p.10-15, Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.39

Trang 30

nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật ở Anh, và các nước theo truyền thống thông luật giải thích với lý do:

- Truyền thống pháp luật Anh là truyền thống của Thông luật - pháp luật được hình

thành chủ yếu bằng con đường xét xử;

- Thông luật ở Anh được hình thành từ rất sớm, từ năm 1066;

- Pháp luật Anh đã được lan truyền khắp thế giới chủ yếu bằng con đường mở rộng

thuộc địa của Đế quốc Anh và bằng con đường tự tiếp nhận, từ đó đã hình thành trên thế giới hệ thống pháp luật thông luật;

- Lý do quan trọng nữa là nước Anh là quốc gia sử dụng án lệ điển hình nhất

Đây chỉ là lập luận của một số nhà luật học nước Anh Nếu chúng ta nghiên cứu chính trong pháp luật Anh và xem đến tận cùng của vấn đề, có thể thấy rằng, hầu hết các sử gia đều nhất trí rằng truyền thống xét xử theo án lệ đã ra đời từ những cuộc tranh luận của các Thẩm phán Anh từ thế kỷ XII Với mục đích tăng uy tín của tòa án Hoàng gia để góp phần giải quyết thấu đáo các đơn khiếu nại từ địa phương, rất nhiều Thẩm phán của tòa án Hoàng gia, đại diện cho nhà vua để đi xét xử tại các địa phương trên khắp nước Anh Ban đầu, các Thẩm phán lưu động này xét xử theo luật pháp và tập quán riêng của địa phương nơi xảy ra vụ án, thay vì theo pháp luật của Hoàng gia.Vào mùa đông, các Thẩm phán tạm ngừng công việc xét xử và trở về London tại các cung điện của thành phố này, họ thảo luận với nhau về các vụ án đã và đang được xét xử Một điểm bất hợp lý nhanh chóng được phát hiện: Do xét xử theo tập quán và luật pháp của địa phương, cùng một vụ việc nhưng đến các địa phương khác nhau thì các Thẩm phán giải quyết khác nhau Chính vì thế vô hình, điều này tạo ra sự bất bình đẳng giữa người dân ở các địa phương Hiểu được sự bất hợp lý này, các Thẩm phán dần dần phân tích và chọn lọc ra các vụ án được xét xử dựa trên những lập luận hợp lý,

có tính thuyết phục cao để làm khuôn mẫu xét xử cho các vụ án tương tự về sau này, không phân biệt địa phương Điều này được duy trì trong một thời gian dài và dần trở thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của các Thẩm phán Anh Cách áp dụng này dần trở thành luật chung được thừa nhận và áp dụng trên toàn Vương quốc

Anh và được coi là án lệ

Trang 31

* Áp dụng án lệ

Trong hệ thống pháp luật nước Anh, Thượng Nghị viện đóng vai trò là tòa án tối cao cho đến trước khi nó bị thay thế bởi Tòa án tối cao Vương Quốc Anh (thành lập

ngày 01 tháng 10 năm 2009) Do tòa án mới thành lập cho nên thực tiễn áp dụng án lệ

của Tòa án cao nhất nước Anh vẫn được thể hiện qua hoạt động xét xử của Thượng

Nghị Viện, theo nguyên tắc Stare decisis, tất cả tòa án cấp dưới phải tuân theo các

quyết định của Thượng Nghị Viện khi áp dụng thông luật Không những thế để đảm

bảo cho nguyên tắc Stare decisis, Thượng Nghị viện phải tuân thủ các án lệ mà chính

nó tạo ra Ví dụ trong vụ London Tramways v London Country [1898] Ac 375,

Thượng Nghị viên lúc này đã tuyên bố rằng “Thượng Nghị viện bị ràng buộc bởi án lệ

của chính nó”, chính điều này ta dễ nhận thấy học thuyết án lệ ở Anh đã dần mất đi

tính mềm dẻo và cứng nhắc hơn khi mới hình thành

Quan điểm cho rằng pháp luật phải thay đổi để theo kịp với thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, quá cứng nhắc sẽ dẫn đến bất công Năm 1966, Thẩm phán Lord

Gardiner L.C đã nhân danh Thượng Nghị viện đưa ra tuyên bố “Để bổ sung thực tiễn

pháp luật Thượng Nghị viện sẽ không bị ràng buộc khỏi án lệ của chính nó khi có lý

do làm như vậy”27 Tuyên bố này được xem như một mốc đánh dấu sự phát triển của hoạt động xét xử của Thượng Nghị viện Điều này đem lại một hy vọng cho sự thay đổi tính cứng nhắc trong học thuyết án lệ ở Anh nhưng thực tiễn xét xử đã cho thấy Thượng nghị viện rất hiếm khi làm theo tuyên bố cải cách việc áp dụng án lệ năm

1966 Số liệu thống kê cho thấy rằng từ năm 1966 đến năm 1987, Thượng Nghị viện chỉ mới có 7 lần bãi bỏ các án lệ của chính nó28 Ta thấy rõ là con số này quá nhỏ số với khối lượng vụ việc mà Thượng Nghị viện đã xét xử

Đối với hệ thống Tòa án phúc thẩm ở nước Anh thì việc áp dụng học thuyết tuân

theo án lệ “Stare decisis” thể hiện ở hai vấn đề: thứ nhất, mối quan hệ giữa Tòa án

phúc thẩm với Thượng Nghị viện; thứ hai, là quan hệ giữa Tòa án phúc thẩm với án lệ

do chính nó tạo ra, cụ thể:

- Đối với mối quan hệ thứ nhất, chúng ta biết rằng trong hệ thống thứ bậc tòa án

của nước Anh thì Tòa phúc thẩm là tòa cấp dưới của Thượng Nghị viện Vì thế, về nguyên tắc Tòa phúc thẩm phải tuân theo án lệ của Thượng Nghị viện (hiện nay là Tòa

27The Practice Statement (Judicial precedent) [1996] 1W L.R.1234, Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.130

28 Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.135

Trang 32

án tối cao Vương quốc Anh) Nếu quyết định của Tòa phúc thẩm không thống nhất với

án lệ của tòa án cấp cao hơn (Thượng nghị viện), thì Tòa án phúc thẩm phải tuân theo

án lệ của tòa án cấp cao hơn nó Tuy nhiên, không phải lúc nào cùng sẽ tuân thủ tuyệt đối các án lệ do Thượng nghị viện tạo ra Ví dụ trong vụ Rroome v Cassell [1971] 2

QB 354, Tòa án phúc thẩm đã không tuân theo án lệ của Thượng nghị viện tạo ra trước

đó là án lệ Rookes v Barnard [1964] AC 1129, lý do được Tòa án phúc thẩm đưa ra là

“Thượng nghị viện đã sai lầm trong vụ Rookes v Barnard [1964] AC 1129 tại trang 1221-31” Quyết định này về sau cũng đã bị Thượng Nghị viện thay đổi Nhưng với

tuyên bố này đã tạo ra dấu mốc cho thấy được rằng Tòa án phúc thẩm không tuyệt đối

bị ràng buộc bởi án lệ của Thượng Nghị viện

- Đối với mối quan hệ thứ hai, nguyên tắc tuân theo án lệ Stare decisis cũng buộc

Tòa án phúc thẩm phải tuân theo án lệ của chính nó trừ một số trường hợp ngoại lệ cụ thể như sau:

+ Khi có sự xung đột giữa hai quyết định hiện tại và trước đó của Tòa phúc thẩm, trong trường hợp này quyết định gần nhất sẽ được tôn trọng;

+ Tòa phúc thẩm dân sự sẽ không cần tuân thủ các quyết định đã bị bãi bỏ bởi Tòa án tối cao;

+ Tòa phúc thẩm dân sự không phải tuân theo những quyết định của chính nó khi

có căn cứ cho rằng các quyết định đó có sự sai lầm về pháp luật

Mức độ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc stare decisis của các tòa án ở Anh không chỉ

thể hiện ở sự không muốn phủ nhận những phán quyết trong quá khứ của chính mình

mà phổ biến hơn, điều này thể hiện ở sự miễn cưỡng của họ trong việc phân biệt tình tiết vụ việc hiện tại với những tình tiết của vụ việc trong quá khứ hoặc trong việc chỉ

ra và khai thác sự tối nghĩa trong lập luận của Thẩm phán ở phán quyết trước đây Phương pháp chung mà các Thẩm phán thường sử dụng là đi tìm án lệ để áp dụng, và nếu không có án lệ liên quan thì người Thẩm phán sẽ vận dụng những án lệ gần gũi với vụ việc đang giải quyết Ngày nay quyết định của tòa vẫn bị giới hạn nghiêm ngặt trong kết quả của các phán quyết trong quá khứ cho nên các quyết định này phát triển chậm chạp và chỉ trong giới hạn quy định

Trang 33

* Công bố án lệ

Dù thế nào chăng nữa, nước Anh cho đến nay luôn được coi là một hình mẫu điển hình cho việc áp dụng cũng như coi án lệ là một nguồn pháp luật chủ chốt Sau hơn 9 thế kỉ tồn tại và phát triển, từ năm 1066 đến năm 1980 nước Anh đã công bố 350.000

án lệ Con số trên là rất áp đảo so với 3000 đạo luật được Nghị viện Anh ban hành từ năm 1235 đến nay29 Việc công bố án lệ sẽ được thực hiện qua các báo cáo pháp luật

và nó được xem như một nguồn chính thống, việc công bố các quyết định của Tòa án được thực hiện từ thế kỷ XIII khi thông luật tương đối phát triển Nó đã trở thành phương tiện không thể thiếu trong việc phổ biến án lệ đến với những người muốn tìm

hiểu và sử dụng pháp luật Trong văn hóa pháp lý Anh “mục đích của các báo cáo

pháp luật là để công bố pháp luật Trong đó các bản án sẽ được thể hiện cái bên trong

vụ án, nội dung của quá trình kiện tụng, sự kiện, tranh tụng của luật sư và quyết định của tòa án đối với mỗi vụ án”30 Những báo cáo pháp luật đầu tiên xuất hiện vào

những năm 1282 có tên là Year Books, gắn liền với việc công bố các quyết định quan trọng của tòa án Trải qua một thời kì phát triển lâu dài cùng với khoa học kĩ thuật, các Year Books ngày nay chỉ còn mang giá trị lịch sử Thay vào đó, từ cuối những năm

1990 cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các bản án đã được công bố miễn phí qua phương tiện internet trên các trang web của các tòa án ở Anh bao gồm điển

hình một số trang như The Court Service (www.courtservice.gov.uk), the Privy Council (www.privycouncil.independent.gov.uk), the United Kingdom Supreme Court

(www.supremecourt.uk), song song đó là các báo cáo pháp luật xuất bản chính thức

được tài trợ bởi nhà nước như: Law reports, Weekly law reports, All England law

29 Dẫn theo Nhóm tác giả “Án lệ với Pháp luật Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa cấp trường năm 2010,

Đại học Luật Hà Nội tr.19

30 Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.129

Trang 34

định cư đầu tiên của người Anh ở Mỹ xảy ra vào năm 1607 tại Jame Town, Virginia, sau đó là sự hình thành 13 bang thuộc địa của người Anh tại Mỹ, chế độ này kéo dài gần 200 năm cho đến năm 1770 chính quyền thuộc địa Mỹ đã đánh lại quân đội Anh

và tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh ngày 4 tháng 7 năm 1776, trở thành Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

* Áp dụng án lệ

Thứ nhất, việc áp dụng án lệ ở Mỹ linh hoạt và mềm dẻo hơn ở Anh mặc dù hai

quốc gia này có chung nguồn gốc và đều thuộc hệ thống thông luật Trong truyền thống pháp luật Mỹ, án lệ đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình duy trì thuộc địa của người Anh ở Mỹ vào đầu thế kỷ XVII Hệ thống pháp luật Mỹ cũng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi thông luật Anh Tuy nhiên, sau khi Hiến pháp ra đời đã không có một sự tiếp nhận chính thức nào từ thông luật Anh vào Mỹ Nói đến sự khác biệt ở việc áp dụng án lệ ở hệ thống pháp luật Mỹ đối với hệ thống pháp luật Anh thì nổi bật

hơn hết đó chính là sự mềm dẻo trong tuân theo nguyên tắc tuân theo án lệ stare

decicis Ví dụ trong vụ: Hertz v Woodman 218 U.S.205 [1910] tòa án Mỹ đã tuyên bố

“Nguyên tắc của việc tuân thủ án lệ (stare decicis) mặc dù có xu hướng tạo tính ổn định và thống nhất của pháp luật, nhưng nguyên tắc này không cứng nhắc”31 Án lệ ở

Mỹ thường xuyên được các tòa án trích dẫn nhưng trong các bản án cũng dành rất nhiều chỗ cho quan điểm của Thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc

mà tòa án coi trọng So với tòa án Anh, Thẩm phán Mỹ rõ ràng đề cập nhiều hơn tới hệ quả thực tiễn của một phán quyết Có nhiều lý do lịch sử và thực tiễn lý giải cho sự khác nhau này ở Mỹ với Anh:

- Một phần do sự thiếu tin tưởng vào án lệ của người Mỹ từ thưở ban đầu, chủ

yếu là vì án lệ đó có nguồn gốc từ Anh, xứ sở không được người Mỹ đặt thiện cảm sau khi chiến tranh giành độc lập;

- Do thái độ của người Mỹ đối với những phán quyết trong quá khứ đã bị tác

động bởi những thay đổi nhanh chóng trên quy mô lớn và xu thế phát triển kinh tế - xã hội rất đặc trưng của một đất nước mới hình thành

Thứ hai, án lệ ở Mỹ bị ảnh hưởng bởi cấu trúc của hệ thống Tòa án Mỹ Mỹ là

một đất nước gồm nhiều bang và không có hệ thống tòa án đơn nhất Hiện tại Mỹ có

31 Hertz v Woodman 218 U.S.205 [1910], Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.142

Trang 35

50 bang có chủ quyền, mỗi bang đều có hệ thống tòa án độc lập của riêng mình Chính điều này đã làm cho việc áp dụng án lệ ở Mỹ cũng có một số nguyên tắc nhất định:

- Đối với tòa cấp cao hơn có thẩm quyền trực tiếp tòa cấp dưới phải tôn trọng

những tiền lệ và án lệ truyền xuống từ tòa cấp cao hơn có thẩm quyền đối với những

vụ án của tòa cấp dưới Ở đây là các tòa cấp dưới bị ràng buộc chặt chẽ Như vậy, tòa

sơ thẩm trong hệ thống liên bang và bang (những tòa có thẩm quyền theo lãnh thổ cụ thể - giải quyết theo vị trí địa lý) sẽ bị ràng buộc bởi những án lệ được tạo bởi tòa phúc thẩm và tòa tối cao trong chính hệ thống tòa theo lãnh thổ địa lý của họ Tương tự như vậy các phúc thẩm trong hệ thống liên bang và bang bị ràng buộc bởi những án lệ được tạo ra tòa tối cao Việc áp dụng theo thứ bậc như vậy được gọi là nguyên tắc

stare decisis theo chiều dọc

- Đối với tòa cấp cao hơn không có thẩm quyền trực tiếp, tòa cấp dưới sẽ không

bị giới hạn, ràng buộc bởi những án lệ của tòa cấp cao hơn không có thẩm quyền đối với lãnh thổ và vụ án của họ Như vậy, tòa sơ thẩm trong hệ thống liên bang không nhất thiết bị ràng buộc bởi bởi các án lệ do tòa phúc thẩm của khu vực liên bang khác tạo ra

- Đối với tòa án cấp dưới trong phạm vi thẩm quyền thì tòa án cấp trên sẽ không

bao giờ bị ràng buộc bởi các án lệ của tòa án cấp dưới mà mình có thẩm quyền Nghĩa

là trong hệ thống tòa án liên bang và tòa án bang, tòa tối cao và tòa phúc thẩm không

bị ràng buộc bởi các án lệ của tòa sơ thẩm cấp dưới do mình quản lý

Ở tất cả các bang, phán quyết của Tòa án tối cao của Mỹ về nguyên tắc có giá trị ràng buộc với tất cả tòa án khác Có nghĩa là bất cứ vấn đề nào được đưa ra giải quyết

ở một bang cũng có thể có vô số các án lệ ở các bang khác Mặc dù án lệ của mỗi bang không nhất thiết ràng buộc những bang còn lại nhưng rất có thể có ảnh hưởng lẫn nhau

do các bang có quan điểm khác nhau về vấn đề cần giải quyết Như vậy nguyên tắc

tuân theo án lệ stare decesis dường như hoạt động tuy có sự mềm dẻo nhưng lại không

mấy hiệu quả ở Mỹ khi hẩu hết các phán quyết của các bang có thể xung đột với nhau, không có sự đồng nhất và không tòa án nào chịu sự ràng buộc của nhau Đặc biệt Tòa

án tối cao Mỹ đã thẳng thắn khẳng định rằng kết quả xét xử một vụ việc có thể dựa trên chính sách chung nhiều hơn là dựa vào án lệ và rằng quán quyết của tòa án thay

Trang 36

đổi tùy theo quan điểm cá nhân của người Thẩm phán về vấn đề và thời điểm giải quyết vụ việc đó

* Công bố án lệ

Việc công bố các án lệ được các tòa án trong hệ thống tòa án liên bang, tòa án tối cao các tiểu bang của Mỹ thông qua internet Với công nghệ tiên tiến Mỹ hiện nay đã phát triển những thông tin về luật pháp thông qua nó Các Thẩm phán, thư ký, cán bộ tòa án, công chức nhà nước, công tố viên, luật sư, học giả luật, giảng viên và thành viên của các đơn vị cùng cộng tác xuất bản Nhưng đáng tiếc lại có một sự mâu thuẫn

cố hữu giữa quyền được tiếp cận nguồn thông tin pháp luật và tính chất sở hữu của các

dịch vụ pháp luật, mà những cơ sở dữ liệu trực tuyến như Lexis (www.lexis.com),

Westlaw (www.westlaw.com), Restatements of law, Corpus Juris Secundum đều có bản quyền và phải bỏ tiền mua Điều này gây khó khăn cho việc tiếp cận các bản án lệ tại Mỹ

1.3.2 Án lệ trong hệ thống dân luật thành văn (Civil law)

Hệ thống dân luật thành văn hay còn gọi là hệ thống Civil law, nó được xem như

hệ thống pháp luật của các nước có sự pháp điển pháp luật thành các bộ luật Điều này

có nghĩa là hệ thống pháp luật này bị ảnh hưởng bởi các bộ luật và các luật do nghị viện ban hành là những nguồn pháp luật chính thức

Không giống với hệ thống thông luật, hệ thống dân luật không chấp nhận nguyên tắc tuân theo án lệ (stare decisis) trong hoạt động xét xử của tòa án Đây là đặc điểm

rất quan trọng để giải thích vì sao các Thẩm phán ở các nước dân luật thành văn không

phải tuân thủ nguyên tắc tuân theo án lệ (stare decisis) Trừ khi thực tiễn pháp luật

trong văn hóa của nước họ hình thành những xu hướng tuân theo án lệ Chúng ta có thể thấy rằng ở Pháp và Đức hay nhiều nước dân luật khác, trong vòng nhiều thập kỷ qua trong nhiều lĩnh vực pháp luật của họ, án lệ đã trở thành nguồn luật quan trọng

nhưng nguyên tắc tuân theo án lệ (stare decisis) vẫn không hề tồn tại Hay nói cách

khác, thực sự không tồn tại một tập quán rõ rệt trong pháp luật Pháp, Đức và các nước dân luật khác để bắt buộc họ phải tuân theo án lệ Vì vậy, án lệ nhìn chung được thừa nhận là một nguồn luật có giá trị không bắt buộc trong hệ thống dân luật mà nó chỉ có giá trị tham khảo, định hướng cho hoạt động xét xử của Thẩm phán

Trang 37

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận bề ngoài và phiến diện rằng án lệ không có vai trò gì trong hệ thống pháp luật dân luật thành văn bởi vì án lệ chỉ là nguồn luật thứ cấp, không chính thức thì sẽ là một nhận xét sai lầm Trong những nghiên cứu về án lệ lý luận và thực tiễn dưới góc độ so sánh do D.N MacCormick và R.S.Summer đã cùng với những nhà nghiên cứu của 10 nước trên thế giới (trong đó bao gồm nhiều nhà nghiên cứu của các nước có truyền thống pháp luật dân luật) đã chỉ ra xu hướng tất yếu hình thành án lệ trong các nước qua việc tòa án thực hiện chức năng giải thích pháp luật32 Thực vậy xu hướng pháp điển hóa các bộ luật đồ sộ trong các nước dân luật với những nguyên tắc pháp luật rất chung chung và các quy phạm mang tính khái quát hóa cao đã buộc tòa án phải giải thích pháp luật trong các vụ việc cụ thể Đây cũng chính là con đường cơ bản để án lệ được hình thành trong thực tiễn pháp luật ở các nước thuộc hệ thống civil law Nhóm tác giả sẽ khái quát việc sử dụng án lệ ở hai nước Pháp và Đức là những nước điển hình của hệ thống thông luật để đưa đến cái nhìn khách quan nhất về vấn đề này

Dân sự Pháp 1804 đã quy định “Cấm các Thẩm phán đặt ra những quy định chung có

tính chất quy chế để tuyên án đối với những vụ kiện được giao xét xử” Điều luật này

đã gián tiếp cấm việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của các Thẩm phán ở Pháp

Vì vậy, các Thẩm phán Pháp đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc áp dụng những quy định mang tính chất khái quát và nguyên tắc trong Bộ luật Dân sự 1804 Các học giả Pháp đã chỉ ra, bên cạnh những ưu việt mà pháp điển hoá đem lại như tính thống nhất, bao quát, tính dễ tiếp cận, pháp điển các bộ luật còn bộc lộ các hạn chế cố hữu như: tính không khả thi do các qui định mang tính chung chung, không rõ; tính lạc hậu do

32 Dẫn theo Nguyễn Văn Nam, sđd, tr.57

Trang 38

không được cập nhật Bản chất và lợi ích của việc thừa nhận án lệ đã được nghiên cứu rất nhiều trong luật học của nước Pháp kể từ khi Bộ luật Dân sự 1804 ra đời Portalis

là một luật gia có công tham gia xây dựng Bộ luật Dân sự 1804 đã cho rằng “cần phải

có án lệ vì luật không thể giải quyết hết mọi vấn đề của Bộ luật Dân sự”33

* Áp dụng án lệ

Phân tích rõ hơn nhận định của Portalis ta có thể thấy tuy Pháp là một nước thuộc

hệ thống dân luật thành văn nhưng văn bản quy phạm ở Pháp thường chỉ đưa ra khái

niệm ở “dạng khung” (không rõ ràng, chưa cụ thể) và tòa án địa phương có thể áp

dụng hay không áp dụng khái niệm này vào một hoàn cảnh cụ thể Nhằm thống nhất

áp dụng pháp luật cho hoàn cảnh cụ thể (xảy ra tương tự trước các Tòa án địa phương khác nhau), Tòa án tối cao Pháp thường phải can thiệp theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra quyết định của mình nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên tòa lãnh thổ Pháp, tạo tâm lý an toàn cho người dân Những phán quyết này thực chất tạo ra án lệ của Tòa

án tối cao Pháp

Xin dẫn một ví dụ: Theo Bộ luật Dân sự Pháp, Điều 6 quy định giao dịch dân sự

“không được trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục” Quy định này đã tồn

tại từ năm 1804 (đến nay là hơn hai trăm năm) nhưng không có bất kỳ văn bản nào

giải thích hay định nghĩa khái niệm thuần phong mỹ tục 34 đây chính là khái niệm dạng

khung, chính điều nay đã làm cho thực tế áp dụng các khái niệm dạng khung này ở

mỗi cấp xét xử sẽ khác nhau khó thống nhất được cách hiểu Trong điều kiện như vậy, vai trò của Tòa án Tối cao Pháp và cụ thể là Thẩm phán đã góp phần giải thích pháp luật và đưa ra quyết định thống nhất đã góp phần không nhỏ bổ sung những kẽ hở của pháp luật

Ngoài những văn bản đưa ra khái niệm “dạng khung” thì hàng năm, Nghị viện và Chính phủ Pháp ban hành rất nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề xã hội Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng chưa được văn bản điều chỉnh Đối với những hoàn cảnh như vậy Tòa án tối cao Pháp thường xuyên can thiệp và thiết lập các án lệ thông qua các quyết định

33 Jacques Nunez, “Thẩm phán và Bộ luật Dân sự Pháp” trong Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ luật Dân sự

Pháp, Nhà Pháp luật Việt Pháp, Hà Nội, tháng 11, 2004, tr.87

34 Đỗ Văn Đại, “Án lệ của Tòa án Tối cao – kinh nghiệm của Pháp đối với sự phát triển án lệ tại Việt Nam”, Tạp

chí Tòa án nhân dân, Số 13/2011

Trang 39

giám đốc thẩm của mình Ví dụ: Theo Điều 3 Bộ luật Dân sự Pháp “những bất động

sản, ngay cả khi được chiếm hữu bởi người nước ngoài, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Pháp” Đây là quy định duy nhất về xung đột pháp luật về tài sản trong tư pháp

quốc tế được Bộ luật Dân sự Pháp ghi nhận Đối với xung đột pháp luật về thừa kế động sản cũng như về sở hữu động sản Bộ luật Dân sự Pháp không có quy định, trong khi đó, việc xác định pháp luật điều chỉnh thừa kế động sản có yếu tố nước ngoài thường được đặt trong thực tế Trước nhu cầu của thực tế và do không có văn bản cụ thể Tòa án tối cao Pháp đã lập ra một án lệ theo hướng giải quyết vấn đề thừa kế động sản được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại di sản có nơi cư trú cuối cùng và nếu Tòa án địa phương không theo hướng giải quyết này thì bản án sẽ bị hủy

Ví dụ: liên quan đến một tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Tòa thượng thẩm Chambery ngày 04/03/2008 đã áp dụng pháp luật Iran đối với một số động sản của

người để lại di sản có nơi cư trú tại Pháp (tại Esvian-les-Bains) Tuy nhiên, phán quyết này đã bị Tòa án tối cao Pháp hủy, tòa tuyên rằng “Tòa thượng thẩm đã vi phạm Điều

3 Bộ luật Dân sự Pháp khi áp dụng pháp luật Iran vì tài sản động sản được coi là tồn tại ở nơi mở thừa kế là Esvian-les-Bains nên pháp luật điều chỉnh là pháp luật Pháp”35 Xét về góc độ ngôn từ thì việc viện dẫn Điều 3 trong quyết định trên là

không chính xác, vì điều luật này hoàn toàn không có từ ngữ nào liên quan đến thừa kế động sản Nhưng việc nêu Điều 3 sẽ làm tăng tính thuyết phục của án lệ mà Tòa án tối cao muốn phát triển, viện dẫn giúp cho giải pháp của Tòa án tối cao Pháp có “điểm tựa”, người đọc sẽ có cảm giác Tòa án tối cao không sáng tạo ra quy định và hướng giải quyết quyết của Tòa án tối cao là có cơ sở văn bản Với việc viện dẫn cơ sở văn bản như vậy xét từ góc độ lý luận không có gì là bất hợp lý Tòa án tối cao cho thấy

giải pháp của họ nếu không có căn vào “ngôn từ” (cái thể hiện bên ngoài) của điều luật thì cũng căn cứ vào “tinh thần” (cái tiềm ẩn bên trong) của điều luật

Vai trò của án lệ trong pháp luật nước Pháp thay đổi theo từng lĩnh vực pháp luật Đây có thể được coi là đặc trưng của án lệ ở Pháp Không giống như lĩnh vực luật dân

sự, luật hành chính của Pháp không được pháp điển hoá Thực tiễn cho thấy, luật hành chính ở Pháp được phát triển trên cơ sở án lệ Từ đó, nhận thấy án lệ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển ngành luật hành chính hơn bất cứ ngành luật nào trong hệ thống

35 Dẫn theo Đỗ Văn Đại, “Án lệ của Tòa án Tối cao – kinh nghiệm của Pháp đối với sự phát triển án lệ tại Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 13/2011

Trang 40

pháp luật của Pháp Với tư cách là toà án cấp cao nhất trong ngạch toà hành chính, Tham chính viện đã đưa ra rất nhiều quyết định được coi là những án lệ của luật hành chính Khi không có văn bản pháp luật điều chỉnh những vấn đề cụ thể, các toà hành chính ở Pháp đã tự đặt ra những quy tắc, giải pháp đối với các tranh chấp hành chính trước tòa Các cơ quan hành chính nhà nước luôn tôn trọng các quyết định của Tham chính viện và coi đó như là nguồn của luật hành chính Thực tế pháp luật hành chính ở

Pháp thừa nhận “mặc dù ngày càng có sự gia tăng các văn bản quy phạm luật hành

chính, nhưng án lệ vẫn là nguồn quan trọng của luật hành chính”36 Mặc dù án lệ được thừa nhận và là nguồn của luật hành chính, nhưng nó không có giá trị bắt buộc

Án lệ trong luật hành chính được sử dụng rất linh hoạt để nó thích hợp với sự phát triển của các quan hệ pháp luật hành chính Trong mối quan hệ giữa các văn bản quy phạm pháp luật hành chính và án lệ, thì văn bản luật bao giờ cũng có hiệu lực cao hơn Nhưng trong một số rất ít trường hợp, các án lệ hành chính lại có hiệu lực cao hơn Ví

dụ, Tham chính viện đã tạo ra án lệ nổi tiếng trong bản án Koné ngày 03/07/1996 về

vấn đề “Nhà nước phải từ chối dẫn độ người nước ngoài trong trường hợp việc dẫn

độ được yêu cầu vì mục đích chính trị”37

* Công bố án lệ

Tương tự như ở Anh và Mỹ, hàng năm các án lệ ở Pháp được tổng hợp lại Tuy nhiên, không phải tất cả các án lệ đều được công bố mà chỉ những án lệ có giá trị định hướng, hướng dẫn xét xử đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực dân

sự, thương mại và hình sự mới được Tòa án Tối cao Pháp lựa chọn và cho công bố

trong hệ thống các báo cáo pháp luật của tòa án có tên là “Bulletins de la Cour de

Cassation” Kể từ năm 2000, Tòa án tối cáo Pháp cũng đã bắt đầu thực hiện việc công

bố án lệ trên wesbite của mình (www.courdecassation.fr)38 Các nhà xuất bản tư nhân cũng đóng một vai trò quan trọng việc phát triển án lệ ở Pháp Bởi vì không giống cách công bố các án lệ trong báo cáo chính thức của nhà nước, các nhà xuất bản tư

nhân công bố các án lệ của Tòa án Tối cao kèm theo lời bình luận (notes d'arrêts), tóm

tắt và giải thích nó Như vậy có thể nói việc bình luận chuyên nghiệp các bản án ở Pháp trong các tập án lệ được xuất bản bởi các nhà xuất bản tư nhân là một phương

36 Marine Lombard, Gilles Dumont, “Pháp Luật Hành Chính Của Cộng Hòa Pháp”, Nxb.Tư Pháp, tr.63

37 Marine Lombard, Gilles Dumont, sđd, tr.52

38 Trường Đại học luật Hà Nội (2012), Giáo trình luật học so sánh, Nxb.Công an Nhân dân, tr.140

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Quan điểm của Thẩm phán về việc ủng hộ việc sử dụng bản án để giải - Án lệ với hệ thống pháp luật việt nam nghiên cứu khoa học
Hình 3.1 Quan điểm của Thẩm phán về việc ủng hộ việc sử dụng bản án để giải (Trang 84)
Hình 3.2 Quan điểm của Thẩm phán về công khai bản án - Án lệ với hệ thống pháp luật việt nam nghiên cứu khoa học
Hình 3.2 Quan điểm của Thẩm phán về công khai bản án (Trang 86)
Hình 3.3 Mức độ tham khảo bản án, quyết định của Thẩm phán - Án lệ với hệ thống pháp luật việt nam nghiên cứu khoa học
Hình 3.3 Mức độ tham khảo bản án, quyết định của Thẩm phán (Trang 92)
Hình 3.4 Tỷ lệ Thẩm phán tiếp cận các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC - Án lệ với hệ thống pháp luật việt nam nghiên cứu khoa học
Hình 3.4 Tỷ lệ Thẩm phán tiếp cận các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w