TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG DÙNG MÔ HÌNH JONES Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
DÙNG MÔ HÌNH JONES ĐIỀU CHỈNH
ĐỂ PHÁT HIỆN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
TẠI VIỆT NAM
<Mã số đề tài>
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kế Toán
TP.Hồ Chí Minh, 03 - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG NCKH CẤP TRƯỜNG DÙNG MÔ HÌNH JONES ĐIỀU CHỈNH ĐỂ PHÁT HIỆN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
<Mã số đề tài>
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kế toán
1 Sinh viên thực hiện: LÊ LƯU THẢO CHÂU Nữ Nhóm trưởng
Trang 3Mẫu SV-06 Thông tin kết quả nghiên cứu của đề tài
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Dùng mô hình Jones điều chỉnh để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của
các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam”
- Nhóm sinh viên thực hiện:
1 Sinh viên thực hiện: Lê Lưu Thảo Châu Nữ Nhóm trưởng Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: DH13KT06 Năm thứ: 3 /Số năm đào tạo: 4 Ngành học: KIỂM TOÁN
Nhóm chọn đề tài “Dùng mô hình Jones điều chỉnh để phát hiện hành vi điều chỉnh
lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” với mong muốn đánh giá thực
trạng của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, từ đó giúp cho những người sử dụng thông tin về lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ có cái nhìn tổng quát hơn và có thể đánh giá đúng tình trạng của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro đầu tư
3 Tính mới và sáng tạo:
Là một trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Trang 44 Kết quả nghiên cứu:
Với số liệu thu thập được từ các doanh nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán cùng với
mô hình Jones điều chỉnh đã tìm ra được bằng chứng cho việc điều chỉnh lợi nhuận, từ đó giải đáp thắc mắc về tính trung thực trên báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư Theo như kết quả bài nghiên cứu, phần lớn các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường Việt Nam đều có hành vi điều chỉnh lợi nhuận với mức độ tăng giảm khác nhau tùy thuộc vào từng công ty và ngành sản xuất Qua đó, nhóm đã đạt dược mục tiêu ban đầu của bài nghiên cứu là phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Đưa ra cái nhìn tổng quát cho các cơ quan chức năng cũng như các nhà đầu tư về tình hình của các doanh nghiệp, từ đó, giúp cho họ có những quyết định chính xác trong vai trò của mình
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí nếu
có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề
tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 5Mẫu SV-07 Thông tin về sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: LÊ LƯU THẢO CHÂU
Sinh ngày: 29 tháng 08 năm 1995
Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh
Lớp: DH13KT06 Khóa: 2013
Khoa: Kế toán
Địa chỉ liên hệ: 688/81 Lê Đức Thọ, Phường 15, Quận Gò Vấp
Điện thoại: 0907445067 Email: colinle95@gmail.com
Trang 61
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 CÂU HỎI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
2 GIỚI THIỆU VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN 3
3 CÁC LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH 8
3.1 Các nghiên cứu nền tảng 8
3.1.1 Lý thuyết đại diện 8
3.1.2 Lý thuyết tín hiệu 9
3.1.3 Lý thuyết các bên liên quan 10
3.2 Các nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận 10
3.3 Phân loại hành vi điều chỉnh lợi nhuận 12
3.4 Các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 13
a) Mô hình Healy (1985) 13
b) Mô hình DeAngelo (1986) 14
c) Mô hình Jones (1991) 15
d) Mô hình cải tiến mô hình của Jones (1995) 17
e) Mô hình Roychowdhyry (2006) 18
3.5 Các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở Việt Nam 21
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Phạm vi nghiên cứu 22
4.2 Phương pháp nghiên cứu 22
4.2.1 Chọn mẫu và thu nhập dữ liệu 22
4.2.2 Xử lý số liệu 23
4.2.3 Phân tích nghiên cứu 23
4.2.3.1 Mô hình Jones (1991) và mô hình Jones cải tiến (1995) để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận 23
4.2.3.2 Áp dụng 25
4.3 Kết quả nghiên cứu 33
4.3.1 Kết quả tổng quát theo từng ngành 33
4.3.2 Kết quả theo trung bình ngành 36
4.3.3 Kết quả trung bình cho từng công ty 39
4.3.4 Kiểm định giả thuyết 44
4.3.4.1 Có hay không việc điều chỉnh hành vi lợi nhuận của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 45
4.3.4.2 Việc điều chỉnh lợi nhuận có trọng yếu hay không? 46
4.3.4.3.Việc điều chỉnh lợi nhuận là điều chỉnh tăng hay giảm? 47
5 KẾT LUẬN 47
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Để có thể hoàn thành được bài nghiên cứu khoa học này, bên cạnh những nỗ lực không ngừng của nhóm nghiên cứu sinh chúng em thì sự hướng dẫn tận tình, chu đáo và đóng góp nhiệt tình của các quý thầy cô cũng là chìa khóa giúp cho chúng em chạm đến thành công
Trước nhất, chúng em xin chân thành gửi những lời cảm ơn sâu sắc nhất đến quý thầy cô trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung cũng như toàn thể thầy cô khoa Kế Toán - Kiểm Toán nói riêng đã tạo điều kiện cho chúng em có cơ hội được tiếp xúc và tham gia nghiên cứu khoa học, cái mà tưởng chừng như rất xa vời Và thực tế, giờ đây chúng em đã có thể hiểu được và tự hào hoàn thành xong một đề tài nghiên cứu khoa học mà mình đã lựa chọn
Hơn thế nữa, nhóm em xin gửi đến thầy Nguyễn Bảo Châu – là giảng viên hướng dẫn
đề tài của chúng em những lời cảm ơn và sự tri ân sâu sắc nhất Với tri thức sâu rộng, sự tâm huyết cùng với tác phong làm việc chuyên nghiệp, thầy đã luôn quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, góp ý và sửa chữa nhiệt tình xuyên suốt quá trình nghiên cứu Vì là lần nghiên cứu đầu tiên nên vẫn chưa có nhiều kiến thức,kinh nghiệm cũng như nhiều điều bỡ ngỡ nên những thiếu xót, hạn chế là điều khó tránh khỏi Nếu như thiếu đi sự hướng dẫn tận tâm của thầy thì nhóm chúng em khó mà hoàn thiện được Một lần nữa, nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy
Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô thật dồi dào sức khỏe, niềm tin và thành công trong cuộc sống, chúc cho trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh chúng ta ngày càng phát triển và đào tạo ra nhiều nhân tài hơn nữa
Xin chân thành cám ơn!
Trang 83
1 CÂU HỎI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi đặt ra là: Liệu rằng, có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận từ những nhà quản lý tại các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam để đáp ứng sự kỳ vọng của thị trường vốn, ràng buộc pháp lý và lợi ích của nhà quản lý?
Để trả lời câu hỏi trên, đề tài đã thực hiện nghiên cứu:
Dựa trên số liệu thu nhập được từ các báo cáo tài chính và những thông tin đã được công bố của các công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam (HOSE
và HNX), phân loại theo ngành, trong khoảng thời gian 5 năm (2010, 2011, 2012, 2013, 2014) và đồng thời sử dụng các mô hình đo lường thích hợp để trả lời câu hỏi: “Có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý tại các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam?”
2 GIỚI THIỆU VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN
Báo cáo tài chính là một công cụ dùng để đánh giá tình hình tài chính của một công
ty, để so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác và đặc biệt là cung cấp các thông tin tài
chính hữu ích cho những đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế
Luật chứng khoán Việt Nam (2006) quy định, các doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường chứng khoán phải công bố công khai, minh bạch và trung thực tình hình kinh tế, kinh doanh cũng như các luồng tiền của doanh nghiệp trên sàn giao dịch thông qua báo cáo tài chính đã được kiểm toán
Thông tin tài chính rất quan trọng đối với nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết
định kinh doanh, giúp cho quá trình điều hành thuận tiện và hiệu quả hơn
Từ góc độ của một nhà đầu tư mà nhìn nhận thì báo cáo tài chính của doanh nghiệp
được ví như “MẶT TIỀN ” của công ty, nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, cung cấp
Trang 9điểm bắt đầu, để từ đó, có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh và triển vọng tăng trưởng của
công ty “MẶT TIỀN” càng đẹp, càng láng bóng thì việc thu hút các nhà đầu tư sẽ trờ
nên thuận lợi và dễ dàng hơn
Lợi ích mang lại từ thông tin, chẳng hạn sự đáp ứng một yêu cầu pháp lý, thương mại, hay củng cố hình ảnh tài chính của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho khách hàng và giới đầu tư, hoặc có thể là những kết quả phân tích, dự báo phù hợp và đáng tin cậy cho việc ra quyết định là nguyên nhân dẫn đến việc tác động có chủ ý vào báo cáo tài chính của các nhà quản lý và một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp; thẳng thắng mà nói thì đây cũng có thể được xem là hành vi gian lận, bóp méo sự thật về thông tin tài chính của doanh nghiệp Nếu như mức độ điều chỉnh của doanh nghiệp càng lớn thì không những doanh nghiệp, quốc gia đó phải gánh chịu hậu quả nặng nề mà còn để lại những hệ lụy đáng tiếc cho nền kinh tế toàn cầu đang trong giai đoạn phát triển như hiện nay
Năm 2002, cả thế giới chấn động với vụ phá sản của công ty WorldCom-công ty viễn thông đường dài lớn thứ hai Hoa Kỳ WorldCom đã bùng nổ thần tốc thông qua 65 vụ thôn tính đạt tới giá trị thị trường 180 tỷ USD trong vòng 15 năm, với số lượng lao động
là 80.000 Tuy nhiên, công ty này đã phải nộp đơn phá sản vào ngày 21/07/2002 vì nợ nần và gian lận kế toán WorldCom phá sản với số tài sản gần 110 tỷ USD, lớn gấp đôi
kỷ lục của Enron năm 2001
Năm 1998, ngành công nghiệp viễn thông bắt đầu hạ nhiệt, tình hình kinh doanh của WorldCom bắt đầu đi xuống sau khoảng thời gian bùng nổ thần tốc Từ năm 1999 đến tháng 5/2002, WorldCom đã dùng những phương pháp kế toán mờ ám để che giấu tình trạng tài chính suy yếu, giả tạo tăng trưởng tài chính và lợi nhuận nhằm nâng giá cổ phiếu Tháng 6/2002, ban kiểm toán nội bộ WorldCom đã phát hiện khoản chi phí bị che giấu 3,8 tỷ USD kể từ năm 2001, đồng thời, lợi nhuận 1,4 tỷ USD năm 2001 và 130 triệu USD trong quý I-2002 đều là báo cáo sai
Trang 105
Giá trị cổ phiếu WorldCom từ đỉnh 63,5USD/cổ phiếu vào ngày 18/06/1999 đã lao dốc xuống 6,74USD/cổ phiếu và tiếp tục giảm chỉ còn 20 cent cho đến ngày WorldCom tuyên bố phá sản Các cổ đông WorldCom từ chỗ sở hữu một trong những công ty lớn nhất thế giới vốn hóa thị trường 180 tỷ USD ở thời kỳ đỉnh cao bỗng chốc gần như trắng tay Vụ phá sản của WorldCom là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó Đồng thời làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ cũng bị thiệt hại rất lớn vì đã làm cho nhiều người chùn bước đầu tư khi đã bị mất niềm tin vào các công ty lớn
Ban quản trị của WorldCom đã sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ để che giấu các chi phí bằng cách chuyển chi phí hoạt động vào hoạt động đầu tư Do đó số tiền này không được ghi nhận là chi phí Với hành động này, WorldCom đã ghi nhận lãi thay vì lỗ
và ảnh hưởng đến dòng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động đầu tư Như vậy, để tăng lợi nhuận thì WorldCom đã thực hiện hành vi điều chỉnh của mình Một vụ án kinh tế chấn động được nhắc đến nhiều hơn cả WorldCom là sự kiện Enron – “Kẻ dối trá vĩ đại” Enron là tập đoàn năng lượng hùng mạnh nhất thế giới với tổng giá trị tài sản vào năm 2000 trên sổ sách kế toán lên đến 111 tỷ đô la Mỹ Tuy nhiên, ngày 02/12/2001, Enron đã phải nộp đơn xin phá sản vì mất khả năng thanh toán Enron
đã thừa nhận khai khống lợi nhuận sau thuế liên tục trong suốt các năm từ 1997-2000, với con số lên đến 508 triệu USD Hành vi sai phạm của Enron đã được sự tiếp tay của công
ty kiểm toán Arthur Andersen, một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giới vào thời kỳ đó Lợi dụng kẽ hở của luật pháp, các nhà lãnh đạo cao cấp của Enron đã thực hiện các gian lận kế toán tinh vi để che giấu các khoản nợ và thổi phòng lợi nhuận cũng như che giấu các khoản lỗ Với các thủ thuật kế toán, giá cổ phần của Enron đã lên đến
90 USD/cổ phần vào tháng 08/2000 Các nhà quản lý cấp cao đã nhanh chóng trục lợi cho mình bằng cách bán lại cổ phiếu để rút vốn đầu tư trước khi thông báo thua lỗ và hầu hết các vụ mua bán này đều không được công bố Vì thế, đến cuối năm 2001, giá cổ phần của Enron chỉ còn 0.6 USD/cổ phần
Sự kiện Enron đã châm ngòi cho quả bom điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp, sau Enron đã có nhiều công ty thực hiện hành vi này Cụ thể ở Việt Nam, điển hình là
Trang 11hành vi che giấu lỗ và nợ của công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết vào năm 2006 và 2007, Vinaconex đã tạo ra khoản giảm lãi 400 tỷ đồng trước và sau kiểm toán, Bibica thông báo
lỗ năm 2002 là 2,7 tỷ đồng rồi sửa thành 5,4 tỷ đồng sau vài ngày nhưng vẫn chưa thấm
gì so với con số thực là 12,7 tỷ đồng, tình huống gian lận cũng xảy ra đối với công ty đồ hộp Hạ Long với hơn 100 tỷ đồng trong phần doanh thu năm 2001 là số ảo,…
Thông qua sự kiện WorldCom và Enron được đề cập bên trên đã giúp chúng ta có cái nhìn khái quát về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về hành vi này Bà Schipper (1989) là một trong những người đầu tiên đưa ra định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của nhà quản lý sử dụng sức ảnh hưởng của mình để can thiệp vào việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm đạt được các lợi ích cá nhân” Sau đó, Healy và Wahlen (1999) đưa ra một định nghĩa rộng hơn về hành vi này: “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý vận dụng những xét đoán trên báo cáo tài chính và trong cơ cấu của nghiệp vụ kinh tế phát sinh để làm thay đổi báo cáo tài chính,
để gây sự hiểu nhầm về tình trạng hoạt động của công ty hoặc là để tác động đến kết quả các hợp đồng mà chúng dựa vào số liệu báo cáo kế toán”
Như vậy, hành vi chi phối thu nhập của các nhà quản lý không chỉ được thực hiện thông qua các chính sách kế toán mà còn được thực hiện qua các nghiệp vụ kinh tế ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến các chính sách kế toán Thay đổi chính sách khấu hao tài sản cố định, chính sách ghi nhận doanh thu, chính sách ghi nhận chi phí được vốn hóa hay chính sách hàng tồn kho là những chính sách thường được các nhà quản lý áp dụng
để làm tăng thu nhập của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ có thể tác động đến các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh như cắt giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí quảng cáo vá chi phí đào tạo nhân viên,… Những hành vi chi phối tăng thu nhập như trên thường tạo ra
sự chênh lệch giữa giá trị thị trường của cổ phiếu và giá trị thực của chúng bởi vì nhà đầu
tư lúc này có cái nhìn lạc quan hơn về triển vọng phát triền và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Trang 12Tuy nhiên, Duong (2010), trong một cuộc nghiên cứu được thực hiện tại Anh, đã chỉ
ra kẽ hở trong nhận định của Jensen thông qua một số lý luận Duong cho rằng việc bỏ qua phương pháp chi phối các nghiệp vụ phát sinh là một sai sót trong quá trình nghiên cứu hành vi này Hơn thế nữa, Jensen chỉ nghiên cứu các doanh nghiệp có hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư đánh đồng hành vi lên tất cả các doanh nghiệp khác Duong đã chứng minh rằng với những doanh nghiệp mới thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thì họ vẫn còn có lựa chọn thứ 2 bên cạnh việc tiếp tục điều chỉnh tăng ở các năm sau Các doanh nghiệp này có thể chọn việc chi phối giảm thu nhập trong nhiều năm sau để các nhà đầu tư dần dần có cái nhìn đúng hơn về giá trị thực của doanh nghiệp Duong gọi đây là “cai nghiện hành vi chi phối thu nhập (detoxification)” bởi vì để tránh gây sốc cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện hành vi này trong nhiều năm tiếp theo Cuối cùng, việc sử dụng số liệu để nghiên cứu trong thời gian nhiều năm sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát và có tính dài hạn hơn các nghiên cứu trước đó khi mà chỉ tập trung vào thông tin thu nhập của 2 năm liên tiếp Tuy vậy, phạm
vi nghiên cứu của Duong chỉ dừng lại ở nước Anh và chỉ chứng minh được rằng các nhà quản trị có thể chọn hành vi cai nghiện chi phối tăng thu nhập
Tóm lại, hành vi điều chỉnh tăng hoặc giảm lợi nhuận là kết quả của việc điều chỉnh tăng hoặc giảm các khoản dồn tích (các khoản doanh thu và chi phí) một cách có chủ đích của các nhà quản lý thông qua việc điều chỉnh nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc điều chỉnh chính sách kế toán Hành vi này sẽ làm phát sinh các khoản dồn tích bất thường
Trang 13(Discretionary accruals) (bên cạnh những khoản dồn tích bình thường (non-discretionary accruals) trong tổng dồn tích (total accruals) phát sinh trong một kỳ của một đơn vị kinh
tế Như vậy, hành vi điều chỉnh lợi nhuận của một đơn vị kinh tế sẽ được phát hiện nếu chúng ta phát hiện ra những khoản dồn tích bất thường trong đơn vị đó
Từ thực trạng trên, nhóm chọn đề tài “Dùng mô hình Jones điều chỉnh để phát
hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” với
mong muốn đánh giá thực trạng của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận, từ đó giúp cho những người sử dụng thông tin về lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ có cái nhìn tổng quát hơn và có thể đánh giá đúng tình trạng của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro đầu tư
3 CÁC LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH
3.1 Các nghiên cứu nền tảng
3.1.1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện xuất hiện trong những năm 70 của thế kỷ trước và ra đời dựa trên
những nghiên cứu về mối quan hệ giữa người ủy quyền và người đại diện trong việc quản trị kinh doanh Những nghiên cứu đầu tiên này tập trung vào các thông tin chưa được đầy
đủ của các hợp đồng trong ngành bảo hiểm, như: Spence & Zeckhauser (năm1971), Ross (1973)… Nhưng sau đó, lý thuyết có tính chất sơ khai này cũng trở thành bản khái quát
để phát triển và mở rộng sang những lĩnh vực khác (Jensen & Meckling: năm 1976, Demski & Feltham: 1978)
Tuy nhiên, trong mô hình doanh nghiệp hiện đại như hiện nay thì việc tách biệt giữa người sở hữu (người ủy quyền), nhà đầu tư hoặc bên cho vay và người quản lý (bên đại diện), luôn tồn tại sự bất đối xứng thông tin mà từ đó người đại diện có thể đạt được lợi ích cho bản thân, đồng thời tạo ra bất lợi cho nhà đầu tư
Trang 149
Thông tin về lợi nhuận là một trong những thông tin quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư khi tham gia vào các công ty có cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán vì thông tin này có ảnh hưởng trực tiếp đến các lợi ích của nhà đầu tư và doanh nghiệp như: lợi nhuận, triển vọng phát triển của cổ phiếu, hiệu quả sử dụng vốn cũng như tài sản… Bên cạnh đó, việc bị ràng buộc bởi các điều khoản pháp lý, gắn liền với các chỉ số về lợi nhuận và lợi nhuận của doanh nghiệp đã ảnh hưởng trực tiếp đối với lợi ích cá nhân (các khoản thưởng và danh tiếng) của các nhà quản lý Vì vậy, trong thực tế đã xảy ra không ít trường hợp nhà quản lý “chơi chiêu” khi sẵn sàng “ làm đẹp” hơn các thông tin về lợi nhuận để bảo vệ lợi ích của họ
Tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán đều sử dụng người đại diện (giám đốc), do đó để có thể làm hài lòng những chủ sở hữu và mang lại lợi ích cho bản thân thì một số công ty đã sử dụng hành vi điều chỉnh lợi nhuận để làm đẹp báo cáo tài chính của mình đồng thời để cho các nhà đầu tư cũng như các chủ sở hữu có cái nhìn lạc quan hơn về doanh nghiệp
3.1.2 Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết này phát triển dựa trên lý thuyết bất cân xứng của G.A.Akerlof Năm 1973, Michael Spence là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tín hiệu cho thị trường lao động và cũng từ đây, nhiều nghiên cứu về thị trường vốn đã ra đời; điển hình như nghiên cứu của Bin et al (năm 2011) Nghiên cứu của Bin et al đã chỉ ra rằng, thị trường vốn có tính cạnh tranh càng cao thì thông tin trên bảng thuyết minh báo cáo tài chính của các doanh nghiệp càng được thể hiện một cách rõ ràng, nhằm thu hút các nhà đầu tư
Trước đây, bằng hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo hướng có lợi cho mình, nhà quản
lý sau đó phát tín hiệu để các nhà đầu tư nắm bắt và có những đánh giá khách quan về sự phát triển của doanh nghiệp, thông qua các thông số trên báo cáo tài chính Song, những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, bên cạnh việc phát tín hiệu lạc quan về lợi nhuận thì các nhà quản lý cũng đã thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận sao cho các nhà
Trang 15đầu tư có cái nhìn thực tế hơn về doanh nghiệp, đồng thời “kéo” giá trị thị trường của cổ phiếu trở về gần hơn với giá trị thực của nó (Duong, năm 2010)
3.1.3 Lý thuyết các bên liên quan
Về lý thuyết các bên liên quan, vào năm 1984, được tác giả Freeman tiên phong đưa
ra, cho thấy rằng nếu như các đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến một doanh nghiệp (như nhà đầu tư, khách hàng, nhà quản lý, cơ quan nhà nước…) có chung một mục tiêu và có mối quan hệ tốt thì sẽ dễ dàng đạt thành công hơn Tuy nhiên, các mối quan hệ này đôi lúc sẽ ảnh hưởng đến tính minh bạch và chất lượng thông tin của báo cáo tài chính nếu như không được quản lý chặt chẽ, theo như nhà nghiên cứu Mattingly et al chứng minh vào năm 2009
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên liên quan như nhà đầu tư, khách hàng,… rất quan trọng, nhất là ở các công ty tại Việt Nam, cho nên việc điều chỉnh lợi nhuận trên báo caó tài chính để đôi bên cùng có lợi đã diễn ra tại một số doanh nghiệp tại Việt Nam
Vì vậy, việc nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm góp phần cho các nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát
về doanh nghiệp cũng như là hạn chế rủi ro sẽ mắc phải
3.2 Các nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Điều chỉnh lợi nhuận được các doanh nghiệp trên thế giới sử dụng phổ biến với nhiều
mục đích khác nhau, nhìn chung được hình thành từ 3 động cơ chính sau:
Kỳ vọng của thị trường vốn:
Giữa một thị trường phát triển, cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì mong muốn hợp tác với nhiều nhà đầu tư tiềm năng luôn là vấn đề nan giải của tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có tình hình kinh doanh không mấy khả quan Lợi nhuận luôn là chỉ tiêu đầu tiên thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, họ thường có xu hướng đầu tư vào các công ty có hiệu quả kinh tế và triển vọng tăng trưởng cao Nắm bắt được nhu cầu đó, các nhà quản lý đã không ngần ngại che mờ đi sự thật và phô bày những con
Trang 1611
số ảo trên báo cáo tài chính của công ty mình nhằm đáp ứng kỳ vọng của thị trường vốn Điều này đã được các nghiên cứu trước đây phát hiện như Burgstahler và Eames (1998) cho rằng hành vi điều chỉnhlợi nhuận càng dày đặc khi sức ép từ thị trường càng mạnh, hay bằng chứng của Kasznik (1999) và Chevis et al (2007)
Lợi ích từ các hợp đồng dựa trên sổ sách kế toán:
Khi doanh nghiệp phải kí kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận Chẳng hạn, trong quan hệ tín dụng, để đáp ứng được những yêu cầu từ các
tổ chức tín dụng đưa ra hay tránh bồi thường hợp đồng khi không đạt được chỉ tiêu theo quy định và vi phạm một số giao ước.Chính vì thế, thực hiện điều chỉnh lợi nhuận luôn luôn là phương pháp nhanh, gọn, lẹ mà được các nhà quản lý áp dụng nhiều nhất, tùy thuộc vào từng kĩ thuật điều chỉnh sao cho phù hợp với từng mô hình, đặc điểm doanh
nghiệp
Từ khía cạnh cá nhân, động cơ lớn nhất khiến nhà quản lý thực hiện điều chỉnh lợi nhuận là vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích cho bản thân Để hạn chế rủi ro trong kinh doanh hay khích lệ khả năng làm việc, các chủ sở hữu thường kí kết hợp đồng với quản lý của
họ Trong đó đề cập đến mức lương, những khoản thưởng, tiền phạt cũng như cơ hội thăng chức của nhà quản lý tương ứng với kết quả mà họ mang lại Do có sự giới hạn về nguồn tài chính của doanh nghiệp trong khi nhu cầu trục lợi cho bản thân của nhà quản lý thì vô hạn nên ẩn chứa đằng sau mỗi báo cáo tài chính là sự biến hóa những con số để đánh lừa các đối tượng sử dụng Thực tế cho thấy rằng, để nâng cao cơ hội, uy tín, vị thế cũng như danh tiếng của mình trong thị trường lao động, các nhà quản trị sẵn sàng thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Phản ứng lại quy định chính phủ:
Tùy theo từng thời điểm, từng nhu cầu mà doanh nghiệp có thể làm đẹp hơn thông tin trên báo cáo tài chính hoặc che đậy các nội dung cần thiết để đạt được mục tiêu của
họ Song song với việc điều chỉnh tăng, vẽ ra những con số hoàn mỹ để thu hút nhà đầu
tư thì các nhà quản lý cũng thực hiện điều ngược lại nhằm tối thiểu hoặc né tránh những
Trang 17khoản chi phí thuế, hay để tránh bị áp đặt một chính sách bất lợi và cũng có thể là nhằm vào mục đích hưởng những ưu đãi về thuế cùng một số quy định khác của chính phủ Thực tế, nghiên cứu của Ball và Shivakumare (2005) cũng đã minh chứng cho việc này
và xác định thuế là một trong những mục tiêu chính của báo cáo thường niên của các
công ty tư nhân
Ngoài ra, điều chỉnh lợi nhuận còn xuất phát từ động cơ thoát khỏi diện báo thua lỗ
trong danh sách đen để đủ điều kiện được tiếp tục niêm yết trên thị trường chứng khoán;
kích giá cổ phiếu trong tương lai với chiêu thức khai khống doanh thu ảo,
3.3 Phân loại hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Tác động đến chính sách kế toán và nghiệp vụ kinh tế phát sinh là 2 loại điều chỉnh lợi nhuận mà được các nhà quản lý để mắt tới một cách thường xuyên
Việc lựa chọn chính sách kế toán nào đó cho một giao dịch ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Chính sách ghi nhận doanh thu, ghi nhận chi phí gồm chính sách hàng tồn kho, chính sách kế toán tài sản cố định, chính sách kế toán
về chi phí vốn vay, về lợi thế thương mại, lập các khoản dự phòng, hàng tồn kho,… đều
có thể được các nhà quản trị thực hiện điều chỉnh
Bên cạnh đó,điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc tác động đến các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như tăng doanh thu thông qua chính sách giá, chính sách bán hàng, cắt giảm một số chi phí chưa thực sự cần thiết, chi phí nghiên cứu
và phát triển, chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị,… cũng giúp tạo ra những con số lợi nhuận cho doanh nghiệp
Với những hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận như trên đã tạo ra khoảng cách giữa giá trị thực của cổ phiếu và giá trị thị trường của chúng bởi vì nhà đầu tư lúc này có cái nhìn lạc quan hơn (dựa trên thông tin về lợi nhuận) về triển vọng phát triển hoặc khả năng sinh lời của doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ có xu hướng tiếp tục hành vi này để duy trì giá trị cổ phiếu ở mức cao theo Jensen (2005)
Trang 18Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh, để điều chỉnh lợi nhuận, các nhà quản trị phải nhận diện được các biến kế toán dồn tích và điều chỉnh các biến này Theo các nhà nghiên cứu, tổng biến kế toán dồn tích (TA – total accruals) bao gồm 2 phần: một phần gọi là biến dồn tích không thể điều chỉnh (NDA – Nondiscretionary accruals), phần còn lại gọi là biến dồn tích có thể điều chỉnh được từ các hành vi điều chỉnh lợi nhuận từ các nhà quả trị (DA – Discretionary accruals)
DA chính là những khoản tăng hoặc giảm lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các chính sách kế toán Do DA không thể quan sát và tính toán trực tiếp, cho nên để đo lường
DA, các nhà nghiên cứu sẽ xác định phần NDA – phần liên quan trực tiếp đến mức độ hoạt động bình thường của danh nghiệp Từ đó, mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thực chất là các mô hình xác định phần NDA
Trên thế giới, đã có nhiều mô hình được nghiên cứu để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Sau đây là một số mô hình tiêu biểu được sử dụng, cải thiện theo quy luật mô hình sau bổ sung những thiếu sót cho mô hình trước và thêm những yếu tố phù hợp với môi trường làm việc đương thời
3.4 Các mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận
a) Mô hình Healy (1985)
Theo cách tiếp cận của Healy, phần không thể điều chỉnh chính là trung bình tổng biến dồn tích của các năm t
Trang 19Chú thích:
n: số năm trong kỳ ước tính
t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)
i: công ty I cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
Theo mô hình của Healy , khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị , DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của TA Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác
Mô hình Healy (1985) là mô hình đầu tiên cố gắng đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận Trong mô hình này, Healy đã so sánh chỉ số tổng dồn tích trên tài sản giữa các nhóm DN khảo sát để ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê hay không
Ưu điểm: dễ tính toán
Nhược điểm: Theo cách tính của Healy, việc tính NDA bằng phương pháp trung bình này sẽ cho ra con số NDA và DA ở từng năm không được sát với thực tế cho lắm Bởi vì NDA qua từng năm là như nhau, nên khi lấy TA trừ cho NDA trung bình thì sẽ cho ra kết quả DA bị lệch một khoản, so với việc tính DA và NDA theo từng năm
b) Mô hình DeAngelo (1986)
DeAngelo (1986) đã tiến thêm một bước là xác định dồn tích bất thường riêng biệt cho mỗi DN bằng cách tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản
Trang 2015
Trong đó:
DAit: Biến dồn tích bất thường (Estimated discretionary accruals)
TAit: Tổng biến dồn tích năm t (Aggregate accruals)
TAit-1: Tổng biến dồn tích năm t-1 (Aggregate accruals)
Ait -1 : Tổng tài sản của năm t-1(Overall assets)
Ưu điểm: tính NDA theo từng năm nên sẽ tính ra DA chính xác hơn
Nhược điểm: kỳ ước tính NDA giới hạn ở năm trước năm sự kiện Việc giả định NDA không thay đổi qua các năm là điề không thể Do đó, mô hình này có sia số Và DA tính ra gồm cả phần NDA trong đó
c) Mô hình Jones (1991)
Jones (1991) đưa ra mô hình tách được rõ rệt hai loại dồn tích bình thường và dồn tích bất thường Đầu tiên Jones tính dồn tích bình thường trước, chính là một hàm số thay đổi theo doanh thu và khấu hao TSCĐ Dồn tích bất thường là phần còn lại của tổng dồn tích sau khi trừ đi dồn tích bình thường
Xác định biến dồn tích bình thường(non-discretionary accruals)
Trong đó:
Trang 21NDAit: Biến dồn tích bình thường (non-discretionary accruals)
Ait -1 : Giá trị sổ sách của tổng tài sản doanh nghiệp i tại năm t-1
Δ REVit: Chênh lệch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp i trong năm t so với doanh thu năm t-1 của doanh nghiệp i
PPE it: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty i năm t
α β1 β 2 :Các thông số ước tính
εit: Sai số năm t của doanh nghiệp i
i = 1,2,3…n: Số lượng doanh nghiệp khảo sát
Xác định biến dồn tích bất thường (discretionary accruals)
Jones đã xây dựng một phương trình dự toán biến dồn tích bình thường với hằng số α
và các tham số β1, β2 Sự khác biệt giữa biến dồn tích thực tế và biến dồn tích dự đoán thông qua mô hình chính là biến dồn tích bất thường
Tổng biến dồn tích = Lợi nhuận sau thuế (Net Incom)- Dòng tiền từ hoạt động (Cash flow from operation)
Ưu điểm so với các mô hình trước: mô hình này thừa nhận NDA thay đổi qua các năm và đã dùng các biến như: mức biến động doanh thu thuần, nguyên giá tài sản cố định
để tính NDA
Nhược điểm: Mô hình Jones điều chỉnh chỉ phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua chính sách kế toán Không phát hiện được thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Biến dồn tích bất thường = Tổng biến dồn tích – Biến dồn tích bình thường
Trang 2217
d) Mô hình cải tiến mô hình của Jones (1995)
Mô hình này được cho là đã khắc phục những sai sót của các mô hình trước đó như
mô hình của Healy (1985) và DeAngelo (1986) Dechow, Sloan và Sweedney (1995) đã cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích bình thường là nợ phải thu:
Trong đó, ΔAR it là sự thay đổi của khoản phải thu của công ty i năm t so với năm t
-1 Mô hình Jones cải tiến là mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn mô hình Jones (1991) và các mô hình trước đó Kothari, Leone và Wasley (2005) đã phát triển mô hình của Jones (1991) và Mô hình Dechow, Sloan và Sweedney (1995) trên cơ
sở xem xét thêm biến ROA Mục đích của Kothari, Leone và Wasley (2005) là xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động của công ty
Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) như sau:
Trong đó, ROAit-1 là lợi nhuận trên tổng tài sản của năm t -1 và αo là một hằng số
Bằng việc đưa thêm các yết tố nợ phải trả, chi phí trả cho nhân viên hưu trí và thay tổng tài sản đầu năm trên mô hình Jones điều chỉnh bằng chỉ tiêu doanh thu thuần, Yoon (2006) đã tiếp tục cải tiến mô hình của Jones điều chỉnh như sau:
Trong đó:
Trang 23NDAit: Biến dồn tích bình thường (non-discretionary accruals)
REVit: Doanh thu bán hàng thuần doanh nghiệp i tại năm t
Δ REVit: Chênh lệch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp i trong năm t so với doanh thu bán hàng năm t-1
ARit : Nợ phải thu năm i
EXPit: Tổng giá vốn hàng bán và chi phí hành chính không bao gồm chi phí không dùng tiền
PAYit: Nợ phải trả năm cuối năm t của doanh nghiệp i
RETit: Chi phí cho nhân viên hưu trí năm t của doanh nghiệp i
β0 β1 β2 β 3 = Các thông số ước tính
εit: Sai số năm t của doanh nghiệp i
i = 1,2,3…n: Số lượng doanh nghiệp khảo sát
Ưu điểm so với các mô hình trước: là mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tốt hơn và cho kết quả chính xác hơn, vì mô hình này có thêm những biến như: nợ phải thu, lợi nhuận trên tổng tài sản, nợ phải trả, chi phí phải trả cho nhân viên hưu trí
Nhược điểm: Mô hình Jones điều chỉnh chỉ phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua chính sách kế toán Không phát hiện được thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
e) Mô hình Roychowdhyry (2006)
Mô hình Roychowdhury (2006) được xây dựng với mục tiêu phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Ba yếu tố chính là Dòng tiền
Trang 2419
từ hoạt động kinh doanh (Cash flow from operations), chi phí tuỳ biến (Discretionary Expences) và Chi phí sản xuất (Production Costs) được Roychowdhury xem xét để xác định mức độ điều chỉnh lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế Trình tự xác định dồn tích bất thường thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xác định mức độ bình thường của dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và
chi phí tuỳ biến
Mức độ bình thường của dòng tiền hoạt động được xác định theo công thức:
Trong đó:
CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i ở năm t
SALESit: Doanh thu của công ty i ở năm t
𝛥SALESit: Sự thay đổi của doanh thu của công ty i ở năm t so với năm t-1
Ait-1: Tổng tài sản đầu kỳ
Mức độ bình thường của chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất được định nghĩa là tổng giá vốn hàng bán và sự thay đổi của hàng tồn kho trong năm
Giá vốn hàng bán (COGSit) được xác định theo công thức:
Biến động hàng tồn kho trong năm (INVit) được tính theo công thức:
Trang 25Sử dụng công thức (M7) và (M8), xác định mức độ bình thường của chi phí sản xuất (PRODit) được tính theo công thức:
Mức độ bình thường của chi phí tuỳ biến được thể hiện dưới dạng một hàm tuyến tính theo doanh thu:
Chi phí tuỳ biến được xác định dựa vào doanh thu bán hàng của năm nay có thể không chính xác bởi vì nếu doanh thu bán hàng đã bị chi phối thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Để hạn chế ảnh hưởng này, các nghiên cứu
sử dụng doanh thu bán hàng năm trước
Bước 2: Xác định mức độ bất thường của dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và
chi phí tuỳ biến
Để tính mức độ bất thường của dòng tiền hoạt động (Ab_CFO), chi phí sản xuất (Ab_PROG) và chi phí tuỳ biến (Ab_DiscEXP), lấy chênh lệch giữa chi giá trị thực tế và giá trị vừa xác định được từ mô hình Để tính tổng tác động của 03 yếu tố đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế (R_EM), ta lấy tổng mức bất thường của 03 yếu tố:
R_EM = Ab_CFO + Ab_PROD + Ab_DiscEXP
Trang 2621
Mình Jones điều chỉnh và các mô hình trước đó là những mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua chính sách kế toán Còn mô hình Roychowdhyry phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Nên không
so sánh nó với các mô hình trước
Trong những năm qua, mô hình Jones điều chỉnh từ khi xuất hiện đã được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phát hiện hành vi điều chỉnh lợi ở các doanh nghiệp
Ưu điểm của mô hình này là thừa nhận NDA thay đổi qua các năm và đã kiểm soát được
sự thay đổi thông qua các biến trong mô hình như: nợ phải thu,… và làm cho kết quả chính xác hơn các mô hình còn lại
Ngoài ưu điểm, mô hình Jones điều chỉnh vẫn còn hạn chế đó lả mô hình jones điều chỉnh chỉ phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua chính sách kế toán thay vì hai ( nghiệp vụ kinh tế phát sinh) Chính vì thế khi khảo sát chúng ta có thể bỏ sót các công
ty có sử dụng nghiệp vụ kinh tế phát sinh để điều chỉnh lợi nhận Từ những điều nói trên
có thể sẽ ảnh hưởng tới sự chính xác, xác thực của bài nghiên cứu
Và theo bài nghiên cứu của Tianran CHEN (2010), mô hình Jones điều chỉnh vẫn là
mô hình phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận tốt nhất so với những mô hình còn lại Vì vậy, mặc dù mô hình này có hạn chế nhưng nhóm chúng em vẫn chọn mô hình Jones điều chỉnh để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.5 Các nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở Việt Nam
Mặc dù vẫn chưa được phổ biến như các nước nhưng ở Việt Nam cũng đã có một vài bài nghiên cứu về hiện tượng này Tính đến thời điểm hiện tại thì chỉ có nghiên cứu thực nghiệm của Phạm Thị Bích Vân về mô hình nhận điện điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán TP.HCM được đánh giá là hiệu quả nhất Với nghiên cứu này, bà đã áp dụng mô hình Jones cải tiến (1995) và thay đổi vài
Trang 27biến để phù hợp với nước ta Đây là tín hiệu tốt giúp Việt Nam có thể nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các doanh nghiệp, tuy nhiên vì một số hạn chế về quy mô mẫu nên nghiên cứu này cần được tiếp tục phát triển mở rộng
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Tại Việt Nam, các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán bắt buộc phải công khai số liệu kế toán theo quy định của Nhà nước Tuy nhiên, các loại hình doanh nghiệp khác như công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty FDI hay thậm chí cả những công ty Nhà nước đều không bị ràng buộc bởi những quy định trên Chính vì sự hạn chế về thông tin được công bố từ những doanh nghiệp, nên đề tài chỉ khảo sát và thu thập thông tin từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để phục vụ cho nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuân
Theo như dự kiến của đề tài, số liệu khảo sát cho nghiên cứu là toàn bộ các doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh trong khoảng thời gian tối thiểu là 5 năm kể từ ngày 01/01/2010 và không có giới hạn cho việc đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao nhiêu lâu Điều này phù hợp với nội dung đề tài do không chỉ khi niêm yết thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận mới xảy ra; có khả năng trước khi IPO thì doanh nghiệp đã thực hiện hành vi làm đẹp báo cáo tài chính để nâng cao kết quả đấu giá chứng khoán khi niêm yết Mặt khác, không phải ngành nghề nào cũng được chọn để thực hiện nghiên cứu Các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có hoạt động đặc thù như ngân hàng, quỹ đầu
tư và công ty bảo hiểm không nằm trong đối tượng được khảo sát vì quy mô và lĩnh vực hoạt động của những doanh nghiệp này có sự khác biệt so với những doanh nghiệp khác đồng thời chịu sự quản lý riêng biệt của Nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Chọn mẫu và thu nhập dữ liệu