1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đo lường ảnh hưởng của lợi nhuận trên các báo cáo quý đến lợi nhuận năm của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tp hcm nghiên cứu khoa học

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 777,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG (11)
    • 1.1. Lý thuyết chung (11)
      • 1.1.1. Lý thuyết chung về báo cáo tài chính năm (11)
      • 1.1.2. Lý thuyết chung về báo cáo tài chính quý (14)
      • 1.1.3. Kiểm toán báo cáo tài chính (14)
      • 1.1.4. Kiểm toán bắt buộc đối với các công ty niêm yết (14)
    • 1.2. Các nghiên cứu đã có từ trước (16)
      • 1.2.1. Nghiên cứu đã có ở nước ngoài (16)
      • 1.2.2. Nghiên cứu đã có ở Việt Nam (17)
  • CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (18)
    • 2.1. Mô hình nghiên cứu (18)
    • 2.2. Dữ liệu nghiên cứu (19)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (19)
    • 2.4. Thu thập và xử lý dữ liệu (20)
      • 2.4.1. Lọc dữ liệu (20)
      • 2.4.2. Kiểm định Hausman (21)
      • 2.4.3. Kiểm định đa cộng tuyến (23)
    • 2.5. Kết quả kiểm định (23)
      • 2.5.1. Kết quả kiểm định Hausman (23)
      • 2.5.2. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến (24)
      • 2.5.3. Kết quả hồi qui theo tác động ngẫu nhiên (24)
  • CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (26)
    • 3.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu (26)
    • 3.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (27)
      • 3.2.1. Hạn chế của nghiên cứu (27)
      • 3.2.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (27)
  • KẾT LUẬN (28)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (29)
  • PHỤ LỤC (30)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHBÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐO LƯỜNG ẢNH HƯỞNG CỦA

CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG

Lý thuyết chung

1.1.1 Lý thuy ết chung v ề báo cáo t ài chính năm

Báo cáo tài chính (báo cáo kế toán định kỳ) là hệ thống các báo cáo tổng hợp từ các số liệu kế toán của công ty được trình bày theo các mẫu biểu chuẩn, phản ánh tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn kinh doanh của công ty trong kỳ báo cáo.

Các báo cáo tài chính (BCTC) là nguồn thông tin quan trọng nhất để đánh giá

Việc đánh giá tình trạng sức khỏe tài chính của công ty phản ánh cả các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, dựa trên các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và các đánh giá của cá nhân nhằm cung cấp thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính (BCTC) Tuy nhiên, do sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý dẫn đến hiện tượng thông tin không cân xứng, nên BCTC phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập để đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của thông tin tài chính.

Thông tin bất cân xứng là hiện tượng trong đó người mua và người bán có mức độ thông tin khác biệt, khiến một hoặc cả hai bên cố che giấu thông tin Người mua thường thiếu thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời, dẫn đến việc trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Kết quả là giao dịch bị cản trở và khó đạt được thỏa thuận hai bên cùng có lợi trên thị trường.

Báo cáo tài chính gồm có:

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, dùng để phản ánh toàn diện tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, hay thời điểm lập báo cáo Nó liệt kê các loại tài sản và nguồn vốn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả, cho thấy sự cân đối giữa tài sản và nguồn vốn để đánh giá trạng thái tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm đó Việc có bảng cân đối kế toán giúp người quản trị và các bên liên quan nắm bắt nhanh tình hình tài chính, từ đó hỗ trợ ra quyết định quản lý và lên kế hoạch tài chính hiệu quả.

Tài sản của một đơn vị đang hoạt động luôn biến động về số lượng, cơ cấu và nguồn hình thành do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Vì vậy, số liệu trên bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng Bảng cân đối kế toán giống như một bức ảnh chụp nhanh tình hình vốn và nguồn vốn của đơn vị tại một thời điểm nhất định, cung cấp cái nhìn về cấu trúc tài sản – nguồn vốn, tính thanh khoản và khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính ngay tại thời điểm đó.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tương đối toàn diện tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, đồng thời chi tiết hóa các hoạt động kinh doanh chính Nói cách khác, báo cáo này là công cụ trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị và nhà đầu tư nắm được hiệu quả kinh doanh, đánh giá đóng góp của từng mảng hoạt động và hỗ trợ quyết định chiến lược phát triển.

Bảng lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính quan trọng cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế ảnh hưởng đến tình hình tiền tệ của doanh nghiệp Báo cáo này được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền mặt và phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, từ đó cho thấy biến động và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong kỳ.

Bảng thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

Mục đích, ý nghĩa của báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập với mục đích sau:

Bài viết giúp tổng hợp và trình bày một cách tổng quát và toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, nhằm cung cấp cái nhìn rõ ràng về cơ cấu tài chính, biến động nguồn vốn, khả năng thanh toán và hiệu quả hoạt động để phục vụ quản trị và ra quyết định kinh doanh.

Cung cấp thông tin kinh tế và tài chính chủ yếu nhằm hỗ trợ đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời xác định thực trạng tài chính trong kỳ hoạt động đã qua và đưa ra dự báo, dự đoán cho tương lai để hỗ trợ quyết định quản trị và kế hoạch phát triển.

Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng trong quản lý kinh tế và thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, cả ở bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Các đối tượng này tiếp cận báo cáo tài chính từ các góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung đều tìm kiếm thông tin thiết yếu để đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu của mình, từ đánh giá hiệu quả hoạt động và tình hình tài chính đến hỗ trợ hoạch định chiến lược và quản trị rủi ro.

Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, báo cáo tài chính là công cụ cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản, đồng thời phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh Nhờ đó, quản trị doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện về hiệu quả sử dụng nguồn lực, khả năng thanh khoản và rủi ro tài chính, từ đó hỗ trợ quyết định chiến lược và quản trị tài chính một cách hiệu quả.

Trang 4 doanh sau một kỳ hoạt động, trên cơ sở đó các nhà quản lý sẽ phân tích đánh giá và đề ra được các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.

Đối với các cơ quan hữu quan của Nhà nước như Bộ Tài chính, Ngân hàng, cơ quan kiểm toán và cơ quan thuế, báo cáo tài chính (BCTC) được xem là tài liệu quan trọng để kiểm tra giám sát và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ tài chính BCTC cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch để tư vấn cho doanh nghiệp, hỗ trợ quản trị tài chính và tuân thủ các quy định, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và an toàn tài chính Việc phân tích BCTC giúp các cơ quan quản lý nhận diện rủi ro, giám sát hiệu quả tài chính và đưa ra khuyến nghị phù hợp để cải thiện chính sách và chế độ tài chính của doanh nghiệp.

Đối với nhà đầu tư và nhà cho vay, báo cáo tài chính là nguồn thông tin then chốt giúp nhận diện khả năng tài chính, tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn, cũng như mức độ sinh lời và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua phân tích các chỉ số tài chính, họ có thể đánh giá tiềm lực thanh toán, tình hình quản trị vốn và mức độ rủi ro, từ đó có cái nhìn toàn diện về triển vọng lợi nhuận và an toàn vốn Việc so sánh các số liệu theo kỳ, theo ngành và giữa các phương án cấp vốn cho phép người dùng cân nhắc kỹ lưỡng và đưa ra quyết định đầu tư hoặc cho vay phù hợp hơn.

Các nghiên cứu đã có từ trước

1.2.1 Nghiên c ứu đ ã có ở nước ngo ài:

1.2.1.1 Dopuch, Holthausen và Leftwich (1986) cho rằng có một mối liên kết giữa kết quả kiểm toán hằng năm với lợi nhuận (market returns) doanh nghiệp, những đơn vị nào có báo cáo tài chính “chịu” ý kiến kiểm toán ngoại trừ (qualified audit opinions), thì xảy ra hiện tượng giảm giá trị cổ phiếu (negative stock returns)

1.2.1.2 Easton, P., T Harris (1991) và Ohlson, J (1995) đã đưa ra phương trình kiểm định tác động của sự thay đổi của thu nhập (earnings changes) và mức thu nhập (earnings levels) đối với giá trị thị trường của công ty Phương trình có dạng như sau:

1.2.1.3 Michael L.Ettredge, Daniel T.Simon, David B.Smith và Mary S.Stone (1999) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của việc xem xét lại báo cáo tài chính (hằng quý và kết hợp kiểm toán cuối năm) đến thời gian điều chỉnh lợi nhuận quý bằng cách sử dụng phân tích mô tả (descriptive analysis) và mô hình hồi quy (regression model) Kết quả bài nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ lớn các điều chỉnh được thực hiện trong quý thứ 4, đồng thời cũng cho thấy tần suất điều chỉnh trong 3 quý đầu lớn hơn đối với các công ty xem xét định kì (timely review) và nhiều hơn ở quý 4 đối với các công ty xem xét hồi quy (restropetive review).

1.2.1.4 David Manry, Samuel L.Tiras và Clark M.Wheatley (1999) nghiên cứu và đo lường tác động của lợi nhuận từng quý đến lợi nhuận cả năm, tác giả đưa ra lập luận rằng phần lớn các công ty không kiểm toán báo cáo quý (restropective reviews) sử dụng lợi nhuận quý 4 để điều chỉnh cho các “ước tính” trong 3 quýtrước, trong khi việc điều chỉnh xảy ra ít hơn hoặc không có, khi công ty sử dụngdịch vụkiểm toán báo cáo tài chính quý (timely reviews) Từ đây, tác giả kết luận rằng việc sử dụng kiểm toán hằng quý sẽ mang lại độ tin cậy cao hơn đối việc trình bày lợi nhuận trên báo cáo.

1.2.2 Nghiên c ứu đ ã có ở Việt Nam

Trần Đức Nam:“Kiểm toán báo cáo tài chính quý – Có thể lợi bất cập hại”, Báo Nhịp cầu đầu tư số 122 ngày 16-22/03/2009:Nhằm đối phó với tình trạng

Ủy ban Chứng khoán vừa công bố dự thảo Thông tư hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK, quy định báo cáo tài chính quý của các công ty niêm yết phải được kiểm toán và báo cáo kiểm toán viên phải được công bố cùng với báo cáo tài chính của doanh nghiệp Bài viết phân tích những điểm cần cân nhắc trước khi quy định này vào thực thi, cho thấy Việt Nam vẫn chưa có chế tài đủ mạnh để bảo đảm thực thi, đồng thời doanh nghiệp sẽ phải chi thêm cho dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính quý và các nhà quản lý có thể tìm cách thiết kế các giao dịch thực để thao túng báo cáo tài chính, như thay đổi chính sách bán chịu, cắt giảm chi phí hữu ích, sản xuất vượt công suất tối ưu, trì hoãn bán các khoản đầu tư lỗ, hoặc bán tháo các khoản đầu tư có lợi nhuận cao Kết quả là cổ đông và các nhà đầu tư sẽ chịu phần thiệt thòi khi báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính bị ảnh hưởng, từ đó tác động tới quyết định đầu tư.

Việc xác định có nhất thiết phải kiểm toán báo cáo tài chính hay không phụ thuộc vào sự cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho từng đơn vị Kiểm toán mang lại bằng chứng độc lập, tăng tính tin cậy và khả năng phát hiện sai sót, đồng thời giúp tuân thủ chuẩn mực và quy định, nhưng đồng thời đòi hỏi chi phí và thời gian triển khai Vì vậy mỗi đơn vị cần đánh giá kỹ lưỡng mức độ lợi ích như cải thiện chất lượng thông tin, giảm rủi ro tài chính và nâng cao uy tín với đối tác, so với chi phí thực tế gồm nguồn lực, phí dịch vụ và thời gian Quyết định cuối cùng nên dựa trên phân tích hoàn vốn và tác động đến mục tiêu tài chính của đơn vị, từ đó xác định mức độ cần thiết của kiểm toán báo cáo tài chính cho tổ chức.

PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng mô hình từ Manry, Samuel L Tiras và Clark M Wheatley (1999) để đo lường ảnh hưởng của lợi nhuận trên báo cáo quý đối với lợi nhuận cả năm, dựa trên nền tảng nghiên cứu trước đó của Easton, Harris (1991) và Ohlson (1995).

Trong mô hình này, tác giả phân tích tác động của hai yếu tố chính đối với giá trị thị trường của công ty: sự thay đổi của thu nhập (earnings changes) và mức thu nhập (earnings levels) Bằng cách so sánh ảnh hưởng của biến động thu nhập và mức thu nhập lên định giá doanh nghiệp, bài viết làm rõ cách các biến tài chính này ảnh hưởng đến giá trị thị trường và cách nhà đầu tư diễn giải hiệu suất tài chính Kết quả cho thấy cả sự biến thiên thu nhập lẫn mức thu nhập đều đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị thị trường của công ty.

: Thay đổi giá trị thị trường vốn cổ phần cộng cổ tức đã chia

: Chêch lệch lợi nhuận qua các quý

: Gía trị thị trường vốn cổ phần

Trong mô hình được trình bày, David Manry, Samuel L Tiras và Clark M Wheatley tiếp tục thay thế một tham số trong phương trình bằng một khoảng thời gian 3 tháng Sự điều chỉnh này giúp nhóm tác giả dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa các hệ số và tác động của chu kỳ thời gian lên kết quả của mô hình Hai hệ số trên có thể được viết lại như sau:

Từ(1) và (2),ta có phương trình sau:

*Cách thức xác định các phần tử như sau:

=lợi nhuậnquý –lợi nhuận quý

= lợi nhuận quý –lợi nhuận quý

= lợi nhuận quý –lợi nhuận quý

= lợi nhuận quý –lợi nhuận quý

= giá đóng cửa 1 cổ phần x tổng số cổ phần

Dữ liệu nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn ngẫu nhiên 66 công ty thuộc nhiều ngành khác nhau, gồm Năng lượng, Khai thác khoáng sản, Thủy sản, Dược & Thiết bị y tế, Cao su và Xây dựng, nhằm đảm bảo đại diện cho các lĩnh vực công nghiệp Thời gian theo dõi của nghiên cứu là 4 năm, từ 2011 đến 2014.

Phương pháp nghiên cứu

Đềtài chủyếu dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sởtổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước đó của cả trong nước và ngoài nước.

Nghiên cứu định lượng là quá trình thiết kế các quan sát và đo lường các biến ở mức định lượng, nhằm phân tích và giải thích mối quan hệ giữa các biến thông qua các quan hệ định lượng Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Mỹ từ những năm 1970, và các kết quả thu được có thể lượng hóa và thực hiện các phép toán thống kê để phân tích, so sánh và diễn giải.

Trong bài nghiên cứu này, các biến đều là dữ liệu có thể định lượng được Đề tài sử dụng hai phương pháp phân tích chính: lựa chọn và kiểm định mô hình để xác định cấu trúc phù hợp của dữ liệu, và phân tích mối quan hệ giữa các biến nhằm làm rõ các tác động và mức độ liên hệ giữa chúng.

Thu thập và xử lý dữ liệu

Như đã nêu ở phần mở đầu, nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu mối quan hệ giữa lợi nhuận trên báo cáo quý và lợi nhuận cả năm của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011–2014 Vì vậy, mẫu nghiên cứu gồm các công ty niêm yết tại Việt Nam Việc lựa chọn các doanh nghiệp niêm yết mang lại thuận lợi cho phân tích do thông tin và số liệu tài chính của họ thường được công khai trên các trang web chứng khoán hoặc trên website của công ty.

Đầu tiên, nhóm tiến hành chọn ngẫu nhiên 90 công ty từ nhiều ngành trên sàn chứng khoán Việt Nam, gồm các lĩnh vực thương mại, dịch vụ và sản xuất để đảm bảo sự đa dạng và đại diện Tuy nhiên, một số công ty không có đủ thời gian quan sát hoặc thiếu nguồn dữ liệu báo cáo quý nên nhóm quyết định loại bỏ 24 công ty này để đảm bảo chất lượng và tính nhất quán của dữ liệu.

Bài nghiên cứu bắt đầu chọn mẫu khảo sát ngẫu nhiên 66còn lại, sau đó sửdụng phần mềm Stata đểchạy ra mô hình Bước đầu mô hình sẽcó dạng:

Trong đó, Y là thay đổi giá trịthị trường vốn cổphần cộng cổ tức đã chia theo các biến độc lập làthay đổi lợi nhuận qua các quý

Mô hình đưa ra 8 biến độc lập để thực hiện các kiểm định Tuy nhiên, quá trình kiểm tra dữ liệu cho thấy có một số điểm dị biệt, tức là những điểm có giá trị khác xa so với phần còn lại của dữ liệu Những điểm dị biệt có thể làm méo mó tính chuẩn hóa của dữ liệu Vì phân phối chuẩn là một trong những giả định quan trọng cho hầu hết các kiểm định thống kê, chúng ta sẽ tiến hành kiểm tra và loại bỏ ảnh hưởng của các điểm dị biệt để đưa dữ liệu về dạng chuẩn hóa.

Việc xác định và loại bỏ điểm dị biệt (outliers) trong dữ liệu nghiên cứu mang tính chủ quan Trong quá trình phân tích dữ liệu, tiêu chí xác định điểm dị biệt cho mỗi biến có thể khác nhau giữa các phương pháp và người thực hiện Ví dụ với một biến trong bài nghiên cứu này, điểm dị biệt được xác định là có giá trị lớn hơn 1.5, như được thể hiện trong hình minh họa đi kèm.

Bảng 1: Xác định điểm dịbiệt

Để nghiên cứu sâu hơn tác động của các biến độc lập lên loại ý kiến kiểm toán, nhóm nghiên cứu quyết định loại bỏ các điểm dị biệt (outliers) Kết quả sau khi loại bỏ cho thấy mẫu khảo sát còn lại gồm 65 công ty được quan sát trong vòng 4 năm Nhóm nghiên cứu tiến hành kiểm định với 65 công ty này.

Dữliệu bảng (cũng đư ợc biết đến như dữ liệu chuỗi thời gian) là một bộdữliệu trong đó hành vi của các đối tượng được quan sát theo thời gian Những đối tượng rất đa dạng, ví dụ như các quốc gia, các công ty, cá nhân….

Dữliệu bảng có dạng như sau:

Bảng 2: Minh họa dữliệu bảng

Dữ liệu bảng có thể giúp người sử dụng kiểm soát các biến mà họ không thể quan sát hoặc đo lường như: các yếu tố văn hóa, sự khác biệt trong kinh doanh giữa các quốc gia. Đối với dữliệu bảng, Kiểm định Hausman sẽ được sửdụng để lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp giữa hai phương pháp ước lượng tác động cố định và tác động ngẫu nhiên (Baltagi, 2008 trang 320; Gujarati, 2004 trang 652).

Kiểm định Hausman dùng để so sánh mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình tác động cố định (FEM) nhằm chọn mô hình phù hợp cho dữ liệu bảng Giả thuyết Ho cho rằng tác động không tương quan với các biến độc lập Nếu giả thuyết Ho không bị bác bỏ, ước lượng bằng REM được xem là phù hợp và FEM sẽ kém hiệu quả hơn Ngược lại, nếu giả thuyết Ho bị bác bỏ, ước lượng bằng FEM là phù hợp hơn REM.

Tóm lại, nếu gỉa thuyết bị bác bỏ, sử dụng mô hình tácđộng cố định, ngược lại, sửdụng mô hình tácđộng ngẫu nhiên.

Giả thuyết : chọn mô hình REM hoặc FEM (không có sự khác biệt giữa hai mô hình).

Gỉa thuyết : chọn mô hình FEM.

2.4.3 Ki ểm định đa cộng tuyến

Trong phân tích hồi quy, các biến độc lập thường không có mối quan hệ tuyến tính với nhau; khi quy tắc này bị vi phạm sẽ xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình phụ thuộc lẫn nhau, khiến ước lượng tham số trở nên không ổn định và độ tin cậy của kết quả hồi quy giảm.

Một trong những cách nhận diện đa cộng tuyến là thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF VIF được xác định dựa trên hệ số xác định R^2 khi hồi quy từng biến độc lập với các biến còn lại trong mô hình, theo công thức VIF_i = 1 / (1 - R_i^2) Khi VIF tăng lên đồng nghĩa với mức độ đa cộng tuyến giữa các biến độc lập tăng lên; VIF càng lớn cho thấy càng cao mức đa cộng tuyến Thông thường, giá trị VIF vượt ngưỡng 10 được xem là dấu hiệu cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến ở mức cao giữa biến được xem xét và các biến khác, có thể dẫn tới ước lượng tham số kém ổn định.

Kết quả kiểm định

2.5.1 K ết quả kiểm định Hausman

Kiểm định này giúp đưa ra lựa chọn giữa mô hình FEM va REM Giảthuyết cho kiểm định Hausman:

: Không có sựkhác biệt giữa hai mô hình REM và FEM.

: Mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM.

Kết quảkiểm định như sau:

Bảng 3: Kết quảkiểm định Hausman

Như vậy, dựa vào kết quảkiểm định trên, bài nghiên cứu sẽchọn mô hình tácđộng ngẫu nhiênđểkiểm định mối quan hệgiữa biến phụthuộc và các biến độc lập.

2.5.2 K ết quả kiểm định đa cộng tuyến

Dưới đây là bảng kết quả:

Bảng 4: Bảng kết quảkiểm định đa cộng tuyến

Từ đây có thểkết luận hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình là khá thấp.

2.5.3 K ết quả hồi qui theo tác động ngẫu nhi ên

Mô hình có dạng như sau:

Từkết quảtrên cho thấy, với mức ý nghĩa 99%, mô hình có hai biến có ý nghĩa thống kê là Trong đó là lợi nhuận trong quý 4 qua các năm với z = 3.64 và

Trong mô hình hồi quy với 8 biến độc lập, hệ số hồi quy có dấu dương cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa lợi nhuận quý 4 và lợi nhuận cuối năm Điều này đồng nghĩa với việc lợi nhuận quý 4 đóng vai trò tác động nhiều nhất đến lợi nhuận cả năm, cho thấy quý 4 là yếu tố có tác động lớn nhất đối với kết quả lợi nhuận tổng thể của doanh nghiệp.

Từ đó nhóm nghiên cứu nghi ngờ rằng có khả năng các công ty sử dụng quý 4 để điều chỉnh lợi các “ước tính” trong 3 quý trước đó.

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w