1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hành nghề tại các bệnh viện ở thành phố hồ chí minh của sinh viên ngành công tác xã hội nghiên cứu khoa học

106 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HÀNH NGHỀ TẠI C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HÀNH NGHỀ TẠI CÁC BỆNH VIỆN

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CỦA SINH VIÊN

NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

147

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HÀNH NGHỀ TẠI CÁC BỆNH VIỆN

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CỦA SINH VIÊN

NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

147 Chủ nhiệm đề tài: Huỳnh Thiên Trịnh Khoa Xã hội học – Công tác xã hội – Đông Nam Á

Các thành viên:

Trần Thị Phong Lan và Võ Thị Kim Hậu

Người hướng dẫn:

ThS Trần Thi Thanh Trà Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018

Trang 5

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Một số khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hành nghề tại các bệnh

viện ở thành phố Hồ Chí Minh của sinh viên ngành công tác xã hội

- Sinh viên thực hiện:

Họ và tên Lớp Khoa Năm thứ Số năm đào tạo Huỳnh Thiên Trịnh CT14 XHH-CTXH-ĐNA Tư 4

Trần Thị Phong Lan CT15 XHH-CTXH-ĐNA Ba 4

Võ Thị Kim Hậu CT16 XHH-CTXH-ĐNA Hai 4

- Người hướng dẫn: ThS Trần Thị Thanh Trà

Trang 6

- Đề xuất, kiến nghị một số phương án giải quyết khó khăn hoặc sử dụng các thuận lợi trong trong quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác xã hội trong môi trường bệnh viện

3 Tính mới và sáng tạo:

- Cung cấp và hỗ trợ về mặt cơ sở khoa học để sinh viên Công tác xã hội có mong muốn thực hành Công tác xã hội bệnh viện chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, thái độ cho việc thực hành hiệu quả, thành công hơn

- Cung cấp thông tin để giảng viên giảng dạy môn Công tác xã hội trong bệnh viện và các

bộ môn liên quan trong ngành Công tác xã hội cập nhật, thêm tri thức vào bài giảng của mình để hỗ trợ sinh viên trong phương pháp học tập, giải quyết vấn đề

- Cung cấp thông tin hữu ích cho các bệnh viện có phòng Công tác xã hội – là cơ sở đào tạo, thực hành cho sinh viên, học viên ngành Công tác xã hội để giúp đỡ sinh viên chuẩn

bị tốt khi thực hành, hoàn thiện mô hình hỗ trợ cho bệnh nhân

4 Kết quả nghiên cứu:

Trang 7

Nhóm nghiên cứu đã thu thập thông tin được 60 người đã thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện Đa phần, những người này thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện là sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, gồm: Trường Đại học Mở TP HCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Trường Đại học Sư phạm TP HCM, Trường Cao đẳng Sư Phạm Trung Ương Trong đó, trường đại học Mở TP HCM là có nhiều sinh viên nhất

Sinh viên thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện chủ yếu là nữ giới Dân số không sinh viên không tôn giáo là chiếm nhiều nhất

Sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề tại bệnh viện ở bệnh viện Nhi đồng 1 là có số lượng đông nhất Thời gian thực hành trung bình là 16 giờ trên một tuần Hình thức thực hành chủ yếu là hình thức Công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội với nhóm Sinh viên thực hành được hướng dẫn rõ ràng các hoạt động và giám sát bởi người hướng dẫn, kiểm huấn viên Những người hướng dẫn này đa số là có chuyên môn về Công tác xã hội Sinh viên số người thực hành tại Tổ Công tác xã hội thuộc khoa khám bệnh n là nhiều nhất Tiếp đến là Phòng Công tác xã hội thuộc bệnh viện Mặc dù các hoạt động rõ ràng, nhưng chỉ mới làm được một số nhiệm vụ nhất định Các hoạt động của sinh viên thực hành nghề trong bệnh viện chủ yếu là hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn

đề của người bệnh và cung cấp thông tin về người bệnh cho nhân viên y tế trong trường hợp cần thiết để hỗ trợ công tác điều trị cho người bệnh

Các hoạt động đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện cho người bệnh ngay từ khi người bệnh vào khoa khám bệnh hoặc phòng khám bệnh; và xây dựng nội dung, tài liệu để giới thiệu, quảng bá hình ảnh, các dịch vụ và hoạt động của bệnh viện đến người bệnh và cộng đồng thông qua tổ chức các hoạt động, chương trình, sự kiện, hội nghị, hội thảo Hoạt động mà sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề tại bệnh viện ít thực hiện nhất đó là công tác phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

Trang 8

Về nhóm làm việc của sinh viên thì đa số là sinh viên cùng thực hành chung và người hướng dẫn Điều dưỡng, Chuyên viên tâm lý, Bác sĩ là những người ít có mặt trong nhóm làm việc của sinh viên ngành Công tác xã hội

Trong quá trình thu thập thông tin, sinh viên chủ yếu bằng cách tự quan sát, tiếp cận trực tiếp, tiếp đến là do người hướng dẫn chuyển gửi Những trường hợp tiếp cận do bác sĩ chuyển gửi hoặc đối tượng tự đến tìm kiếm hỗ trợ là không nhiều Khi làm việc với thân chủ tại phòng bệnh thân chủ và hành lang bệnh viện thì sinh viên gặp khó khăn nhiều hơn khi tiếp cận, làm việc ở những nơi khác Làm việc với thân chủ tại ghế đá trong khuôn viên bệnh viện và phòng tham vấn thì ít gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

Sinh viên gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin với cách thức lấy thông tin từ

hồ sơ bệnh án và hỏi trực tiếp thân chủ là gặp khó khăn nhiều nhất Việc lấy thông tin từ người cùng phòng với thân chủ, điều dưỡng, người chăm sóc và hồ sơ xã hội thì ít gặp khó khăn hơn

Về kỹ năng sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề tại bệnh viện hạn chế

về về những kỹ năng viết dự án xã hội, kỹ năng đọc sơ đồ (thế hệ, sinh thái, đường đời),

kỹ năng lập kế hoạch hoạt động và có khả năng thực hành tốt kỹ năng thiết lập mối quan

hệ, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ lăng làm việc nhóm, kỹ năng làm việc độc lập

Kỹ năng quản lý thời gian có mối quan hệ với việc sinh viên ngành Công tác gặp khó khăn trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện Sinh viên quản lý tốt thời gian thì

ít gặp khó khăn trong quá trình thực hành tại bệnh viện Những kỹ năng thực hành nghề tại bệnh viện của sinh viên ngành Công tác xã hội chủ yếu từ kinh nghiệm làm tình nguyện viện, chia sẻ từ người có chuyên môn, thực hành trong lớp học chính quy và các buổi hội thảo Các trường học tập, rèn luyện kỹ năng thực hành nghề khi làm việc và lớp học kỹ năng là không nhiều

Trang 9

Sinh viên khi thực hành nghề tại bệnh viện, áp dụng kiến thức đã học trong thực hành tại bệnh viện ở mức trung bình khá Các môn học được dụng tốt nhất là Công tác xã hội cá nhân, Công tác xã hội nhóm, Lý thuyết và thực hành Công tác xã hội, Tham vấn, Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế

Sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành, đa số sử dụng các phương tiện hiện đại để làm việc như xe buýt, xe máy, điện thoại thông minh, sổ tay, máy tính xách tay Những phương tiện này hỗ trợ cho sinh viên dễ dàng thời gian di chuyển, lưu trữ và ghi chép thông tin

Đa số sinh viên ngành Công tác xã hội có mục tiêu rõ ràng trong quá trình thực hành tại bệnh viện, điều giúp cho họ giảm được 50% tỷ lệ gặp khó khăn trong quá trình thực tập Tuy nhiên, những người có khó khăn do không có mục tiêu và những người có mục tiêu rõ ràng thì không giống nhau Đa số họ cho rằng bệnh viện có điều kiện tốt để thực hành nghề Ví dụ từ việc đa số sinh viên thực hành nghề tại bệnh viện có kinh nghiện làm tình nguyện viên tại bệnh viện Nhi đồng 1 (nơi đây có nhóm Công tác xã hội Happier hoạt động) Sự lựa chọn này đa số được sinh viên suy nghĩ kỹ càng, không ảnh hưởng bởi bạn bè.Tuy nhiên, phần lớn sự lựa chọn này vẫn là do sinh viên chưa có nhiều sự lựa chọn trong việc tìm kiếm các cơ sở thực hành nghề nên buộc họ phải chọn thực hành nghề tại bệnh viện Mặc dù vậy, đa số sinh viên đều cảm thấy hài lòng về sự lựa chọn của họ, và

họ có những thuận lợi, sự kiên trì torng việc giải quyết các khó khăn gặp phải trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

Một số thuận lợi đó là do sự hỗ trợ từ sinh viên cùng nhóm thực hành, từ người hướng dẫn, kiểm huấn viên của họ Đa số sinh viên ngành Công tác xã sử dụng được những thành quả mà sinh viên khóa trước để lại Tuy nhiên, những người chưa biết rõ là

họ có đang sử dụng được những thành quả mà sinh viên khóa trước để lại hay không chiếm một phần tương đối đáng kể

Đa số sinh viên ngành Công tác xã hội có nhiều cách để để chăm sóc bản thân trong thời gian thực hành nghề, trong đó chủ yếu là ăn uống đủ chất và giải trí Phương pháp ít người sử dụng là Thiền định/Yoga, chia sẻ với trị liệu viên, ngủ sớm và tập thể dục Có một số ít trường hợp họ không làm gì trong việc chăm sóc sức khỏe của mình

Trang 10

Khi gặp khó khăn, cách mà sinh viên chọn nhiều nhất là tự bản thân giải quyết, sau đó, báo cáo với người hướng dẫn, kiểm huấn viên và người có chuyên môn.Và đa số sinh viên hài lòng về Công tác kiểm huấn trong quá trình thực hành tại bệnh viện vì phần lớn các vấn đề khó khăn đã được chia sẻ và giải quyết trong công tác kiểm huấn Tuy nhiên,

một bộ phận đáng kể sinh viên ngành Công tác xã hội gặp vấn đề chưa

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí

nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện

đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Trong quá trình hướng dẫn nhóm nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài này, tôi có những nhận xét như sau:

- Mặc dù kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nhưng các bạn đã cố gắng và nỗ

lực rất nhiều trong quá trình thực hiện

- Nhóm nghiên cứu có thái độ học hỏi và tiếp thu ý kiến của giảng viên hướng dẫn

- Đề tài này góp phần củng cố thêm nền tảng cơ sở phương pháp luận cho các đề tài thuộc nhóm ngành CTXH sau này

Trang 11

- Có thể giúp sinh viên định hình rõ hơn về những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hành nghề sau này

Trang 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Huỳnh Thiên Trịnh

Sinh ngày: 25 tháng 10 năm 1996

Nơi sinh: Lâm Đồng

Lớp: CT14 Khóa:2014

Khoa: Xã hội học – Công tác xã hội – Động Nam Á

Địa chỉ liên hệ: 36/19 Tân Thới Nhất, Quận 12, TP HCM

Điện thoại: 0968185080 Email: huynhthientrinh2510@gmail.com

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm

Trang 14

- Đội trưởng xuất sắc trong Mùa hè xanh 2017 tại trường Đại học Mở TP.HCM

- Được trao bằng khen của Hội sinh viên Thành phố về thành tích xuất sắc torng chiến dịch Mùa hè xanh 2017

- Được trao bằng khen về thành tích tham gia các hoạt động tình nguyện của Trung tâm phát triển khoa học và công nghệ trẻ (TST) thuộc Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

MỞ ĐẦU:

1 Lý do chọn đề tài:

Ngành Công tác xã hội là một ngành khoa học mới phát triển tại Việt Nam Trong thời

kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, những vấn đề xã hội luôn xảy ra và là những câu hỏi thời đại cho sự phát triển bền vững Để giải quyết những vấn đề xã hội không phải chỉ tập trung phát triển kinh tế, mà còn bắt buộc phải quan tâm đến nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của người dân Công tác xã hội với sứ mệnh hỗ trợ cá nhân, gia đình, cộng đồng sử dụng sức mạnh của bản thân, sức mạnh từ mỗi gia đình, và cộng đồng để giải quyết vấn đề xã hội đang tồn tại và phát sinh Xã hội càng phát triển, thì nhu cầu về các dịch vụ Công tác xã hội càng nhiều Chắc chắc rằng, để đáp ứng cho lượng nhu cầu to lớn từ mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng thì phải có đội ngũ nhân viên

xã hội chuyên nghiệp, đủ về chất lượng và số lượng

Với yêu cầu xuất phát từ thực tiễn, ngành Công tác xã hội phải chú trọng trong việc đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên xã hội Đến nay, khoảng gần 60 trường Đại học, Cao đẳng trên cả nước Việt Nam có đào tạo cử nhân ngành Công tác xã hội nhưng trong bối cảnh nhu cầu thực tế thì thiếu rất nhiều về nguồn nhân lực có chất lượng cao

Điển hình trong môi trường bệnh viện, thì có rất ít bệnh viện có phòng tham vấn, phòng Công tác xã hội, nhân viên xã hội làm trong lĩnh vực bệnh viện Mặc dù ở nước

Mỹ, Úc, Nhật Bản, và một số nước có nền kinh tế phát triển, công tác xã hội trong bệnh viện được đánh giá rất quan trọng và có một đội ngũ nhân viên lớn, do nhân viên xã hội là một thành phần trong ê kip trị liệu Còn Việt Nam, những năm gần đây, chỉ mới có lực lượng tình nguyện viên hỗ trợ với các hoạt động mới chỉ mang tính tự phát, có sự nhiệt huyết và kinh nghiệm, nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, cũng chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi (Đỗ Hạnh Nga, 2016)

Lực lượng hoạt động trong bệnh viện có đào tạo Công tác xã hội thường chủ yếu sinh viên ngành Công tác xã hội dưới hình thức là thực tập môn học như Thực tập môn Công

Trang 18

tác xã hội cá nhân, Thực tập môn Công tác xã hội nhóm, Thực tập tốt nghiệp Bên cạnh

đó, có những nhóm sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành Công tác xã hội dưới hình thức tình nguyện Việc thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện của sinh viên mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh và gia đình họ, tiếp đến là bệnh viện và nhà trường Tuy nhiên, thực hành nghề luôn là một quá trình thử thách đối với sinh viên Để vượt qua được thử thách này, sinh viên phải biết bản thân sẽ đối mặt với những khó khăn và thuận lợi như thế nào, cần chuẩn bị những gì cho việc thực hành… Nếu sinh viên không biết được những khó khăn, thuận lợi gì sẽ đến với họ trong quá trinh thực hành nghề, thì một trong những hệ quả sẽ có thể xảy ra đó là sinh viên có những hoang mang, mơ hồ, nghi ngờ, áp lực, căng thẳng, ảnh hưởng đến chất lượng học tập, sinh hoạt và cuộc sống

Do đó, việc triển khai nghiên cứu về khó khăn, thuận lợi của sinh viên ngành Công tác

xã hội trong quá trình thực hành nghề tại môi trường bệnh viện là cần thiết, hữu ích cho sinh viên có cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu, chuẩn bị cho những thử thách mà sinh viên sẽ gặp phải trong khi thực hành nghề trong bệnh viện, bổ sung thông tin cho người giảng dạy, đào tạo sinh viên ngành Công tác xã hội xử lý tình huống khi gặp khó khăn và sử dụng những thuận lợi để giải quyết vấn đề gặp phải trong quá trình học tập, sinh hoạt hằng ngày

Thông qua vai trò và tính cấp thiết của việc tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi của sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành nghề tại môi trường bệnh viện, cho nên, nhóm chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hành nghề tại các bệnh viện ở Thành phố Hồ chí Minh của sinh viên ngành Công tác xã hội

2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu tổng quan:

Giúp sinh viên ngành Công tác xã hội nhân thức về quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

Trang 19

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Những khó khăn của sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

- Những thuận lợi của sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Sinh viên ngành Công tác xã hội hệ đại học chính quy thực hành nghề tại bệnh viện

- Người hướng dẫn sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề tại bệnh viện trong năm 2017, 2018

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Xác định và phân tích một số khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác xã hội trong môi trường bệnh viện

- Đề xuất, kiến nghị một số phương án giải quyết khó khăn hoặc sử dụng các thuận lợi trong trong quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác xã hội trong môi trường bệnh viện

5 Giả thuyết nghiên cứu:

5.1 Một số khó khăn của sinh viên có thể xuất phát từ:

- Mục tiêu lựa chọn của sinh viên trong quá trình thực hành nghề

Trang 20

- Hệ thống làm việc tại bệnh viện

- Khả năng giao tiếp của sinh viên

- Khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn của sinh viên

5.2 Một số thuận lợi của sinh viên có thể xuất phát từ:

- Niềm tin vào giá trị của nghề nghiệp công tác xã hội, và sự lạc quan trong quá trình thực hành nghề trong bệnh viện

- Sinh viên có những sự hỗ trợ tại bệnh viện

- Sự hữu ích của công tác kiểm huấn tại bệnh viện

5 Bệnh viện Nhân dân Gia Định

6 Bệnh viện Đại học Y Dược

7 Bệnh viện Ung bướu

8 Bệnh viện Nguyễn Trãi

9 Bệnh viện Nhi đồng 2

10 Trung tâm y tế quận Gò Vấp

Trang 21

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi:

Phương pháp điều tra bằng bảng được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các

ô tương ứng

Ưu điểm của phương pháp này không tốn nhiều thời gian để trao đổi, thông tin cô đọng hơn theo xu hướng đặt câu hỏi của người nghiên cứu và mang tính khái quát tổng thể hơn so với nghiên cứu phỏng vấn sâu

Nhưng phương pháp này khó có thể tạo ra sự tương tác hai chiều để người tham gia trả lời thoải mái, chia sẻ thông tin nhiều hơn, chân thật hơn Vì vậy, yêu cầu đối với nhóm nghiên cứu đó là khả năng lập bảng hỏi thích hợp để thông tin đầy đủ và có ý nghĩa nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu thống nhất rằng, với mỗi cá nhân, chắc chắc sẽ có những khó khăn, thuận lợi mang tính riêng biệt tùy theo mỗi cá nhân do những khác biệt về hoàn cảnh, nhận thức, giá trị, năng lực, điều kiện sống Tuy nhiên, do con người sống chung với nhau trong xã hội, con người giao tiếp với nhau và có sự học hỏi, trao đổi qua lại với nhau Trong quá trình giao tiếp, hành vi, nhận thức, giá trị của cá nhân này sẽ ảnh hưởng đến những cá nhân khác Điều này tạo ra những điểm tương đồng trong hành vi, nhận thức, giá trị giữa những cá nhân trong xã hội

Có những khó khăn, thuận lợi sẽ mang tính cá nhân hóa nhưng có những khó khăn, thuận lợi mang tính phổ quát, xuất hiện và tồn tại trong quá trình thực hành nghề của sinh viên Nên trong quá trình thực hành nghề, có thể sẽ có nhóm sinh viên sẽ gặp phải, hoặc các cá nhân gặp vấn đề giống như nhau hoặc có tính chất tương tự nhau Vì vậy, nhóm nghiên cứu sẽ có thể đưa ra một bảng hỏi khai thác thông tin về những khó khăn và thuận lợi Bảng hỏi này khác với bảng hỏi phỏng vấn sau ở một số điểm:

- Thứ nhất, bảng hỏi sẽ thích hợp với toàn bộ số mẫu nghiên cứu

- Thứ hai, thời gian hoàn thành bảng hỏi được rút ngắn để tiết kiệm thời gian cho người được phỏng vấn

Trang 22

Sau khi hoàn thành bảng hỏi, nhóm nghiên cứu sẽ gửi bảng hỏi cho sinh viên và những người hướng dẫn sinh viên trong quá trình thực nghề tại bệnh viện Để chọn mẫu khảo sát bảng hỏi, nhóm nghiên cứu sẽ theo phương pháp lựa chọn phi xác suất

Nhóm nghiên cứu sẽ đến các trường có sinh viên thực hành nghề trong môi trường bệnh viện Khi gặp được sinh viên (là khách thể nghiên cứu), nhóm nghiên cứu sẽ tiếp cận trính bày cuộc nghiên cứu, thuyết phục người sinh viên đó tham gia trả lời bảng hỏi và phát bảng hỏi nghiên cứu Nhóm nghiên cứu cũng nhờ những người tham gia bảng hỏi chia sẻ thông tin cuộc nghiên cứu, kêu gọi các sinh viên (đã thực hành nghề trong bệnh viện từ năm 2017 đến nay) tham gia trả lời bảng hỏi

7.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân:

Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua hỏi và đáp Người nghiên cứu đặt

ra câu hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó ghi lại hoặc gi âm lại những gì mà người nghiên cứu thu được Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, quan điểm, chính kiến của đối tượng được phỏng vấn

Ưu điểm của phương pháp này là giúp người phỏng vấn có nhiều thông tin cụ thể, chi tiết mang ý nghĩa cụ thể hơn và tạo được sự tương tác hai chiều giữa người phỏng vấn

và người được phỏng vấn

Tuy nhiên, phương pháp này lại cần nhiều thời gian để trao đổi, thông tin dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh hoặc những lý do từ cảm nhận của người được phỏng vấn Việc phỏng vấn sâu cần người phỏng vấn có kỹ năng đặt câu hỏi, phản hồi cảm xúc, quan sát

và khả năng thấu cảm nên việc đào tạo ngắn hạn cho người phỏng vấn sẽ là cần thiết khi thực hiện phỏng vấn sâu Với số lượng đối tượng tham gia có giới hạn và không áp dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên cho nên khi thực hiện phỏng vấn chuyên sâu, kết quả cho

ra sẽ không mang tính khái quát Nên nhóm nghiên cứu cần phải có những quy tắc chung khi thực hiện phỏng vấn tránh giảm thiểu khả năng mất kiển soát thông tin

Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm khai thác những cá nhân sinh viên, hoặc vào những vấn đề trọng tâm xung quanh việc xác định các khó khăn, thuận lợi; nguyên nhân của các khó khăn hay thuận lợi đó; những nhân tố ảnh hưởng đến

Trang 23

việc giải quyết khó khăn hoặc sử dụng các thuận lợi trong quá trình thực hành nghề tại bệnh viện

Nhóm nghiên cứu sẽ lựa chọn những sinh viên có tiềm năng (người có thể cởi mở trong việc chia sẻ thông tin, có thời gian làm tương đối lâu trong bệnh viện) Sau đó, nhóm nghiên cứu sẽ phân công các thành viên chủ động liên hệ, trực tiếp gặp mặt hoặc phỏng vấn qua điện thoại (có thể là qua các hình thức sử dụng internet, wifi như zalo, facebook) Người phỏng vấn sẽ ghi nhận các thông tin và theo mạch chia sẻ của người được phỏng vấn để khai thác thêm thông tin nhằm làm rõ khó khăn, thuận lợi của cá nhân

đó Thời gian để cuộc phỏng vấn có thể từ 45 đến 60 phút, và có thể trong một buổi gặp mặt mà người hỏi sẽ không đạt được kết quả như mong đợi nên, các buổi phỏng vấn sẽ theo thời gian của người được phỏng vấn và người phỏng vấn Địa điểm sẽ thuận tiện cho việc di chuyển và thích hợp cho việc chia sẻ tự nhiên, thoải mái cho người được phỏng vấn

Nhóm nghiên cứu sẽ vận dụng những công cụ trong ngành Công tác xã hội như mối quan hệ của từng thành viên nhóm nghiên cứu để tạo sự tin cậy với người được phỏng vấn Trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn sẽ dùng bảng hỏi bán cấu trúc (bảng hỏi có những câu hỏi mở, câu hỏi xác nhận, câu hỏi thang đo mức độ…, kết hợp sử dụng sơ đồ sinh thái, sơ đồ thế hệ, đường đời để ghi nhận cụ thể, chi tiết những thông tin

mà người được phỏng vấn chia sẻ

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những khó khăn và thuận lợi của sinh viên ngành Công tác xã hội trong bệnh viện Với mỗi cá nhân, thì có những khó khăn, thuận lợi mang tính chất riêng (được tạo nên bởi hoàn cảnh sống khác nhau, thời điểm khác nhau, điều kiện khác nhau, giá trị sống khác nhau, năng lực khác nhau) nên việc sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu trong việc khai thác những thông tin hàm chứa giá trị hữu ích cho bài nghiên cứu

7.3 Kỹ thuật phân tích thông tin:

Phân tích tài liệu chính là quá trình phân tích, phân chia, chia nhỏ những số liệu,

dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số

Trang 24

liệu đó Sau đó lại tổng hợp đưa ra những nhân định và bình luận, làm sáng tỏ các quan điểm cần chứng minh Phương pháp này hết sức quan trọng trong nghiêncứu Việc thu thập số liệu chưa có tính quyết định mà điều cốt lõi chính là những số liệu đó phản ảnh điều gì Chính việc phân tích tài liệu sẽ cung cấp cơ sở và luận cứ khoa học cho nghiên cứu đang tiến hành

Phân tích các tài liệu, nghiên cứu về hoạt động đào tạo thực hành trong lĩnh vực công tác xã hội Cụ thể là các tài liệu như sách, báo cáo khoa học, các bài viết trên tạp chí…

Trong nghiên cứu, chúng tôi sẽ dùng sơ đồ hệ thống sinh thái để tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác xã hội Với các trường hợp phỏng vấn sâu với đối tượng là sinh viên ngành Công tác xã hội, chúng tôi muốn tìm hiểu và lý giải về một số nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên ở những trường hợp đối điện với khó khăn, và các tìm ra, sử dụng được những thuận lợi giải quyết vấn đề trong quá trình thực hành nghề

8 Đóng góp mới của đề tài:

- Cung cấp và hỗ trợ về mặt cơ sở khoa học để sinh viên Công tác xã hội có mong muốn thực hành Công tác xã hội bệnh viện chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, thái độ cho việc thực hành hiệu quả, thành công hơn

- Cung cấp thông tin để giảng viên giảng dạy môn Công tác xã hội trong bệnh viện và các

bộ môn liên quan trong ngành Công tác xã hội cập nhật, thêm tri thức vào bài giảng của mình để hỗ trợ sinh viên trong phương pháp học tập, giải quyết vấn đề

- Cung cấp thông tin hữu ích cho các bệnh viện có phòng Công tác xã hội – là cơ sở đào tạo, thực hành cho sinh viên, học viên ngành Công tác xã hội để giúp đỡ sinh viên chuẩn

bị tốt khi thực hành, hoàn thiện mô hình hỗ trợ cho bệnh nhân

Trang 25

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề:

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước:

Công tác xã hội trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tích trong quá trình hỗ trợ, giúp đỡ con người Để đạt được điều đó, bên cạnh những điều kiện cơ sở vật chất của từng quốc gia, những đóng góp của các nghiên cứu về lý thuyết, phương pháp được đánh giá cao

Trong “Thực Hành Công tác xã hội: Mô hình Và Phương pháp” của Allen Pincus, Anne Minahan, thuộc trường đại học Wilsconsin, Madison vào năm 1973 Cuốn sách chủ yếu giảng dạy các ghi chú, sử dụng những ý tưởng của hệ thống lý thuyết để xác định mô hình thực hành tổng quát của một hệ thống như là hệ thống các tác nhân thay đổi, hệ thống khách hàng, hệ thống đích và hệ thống các hành động Mỗi nhân viên xã hội tốt nghiệp các trường Công tác xã hội trong những năm 1970 và 1980 đều học cách hình thành một hệ thống hành động và tập luyện sử dụng kiến thức trong cuốn sách này Trong nhiều năm, đó là sách giáo khoa phương pháp công tác xã hội hàng đầu ở nước Mỹ Cuốn tài liệu này giúp cho sinh viên hiểu thêm về kỹ năng, những yêu cầu cần thiết, những công việc cần thực hiện khi xuong cơ sở thực tế Tuy nhiên, do bối cảnh khác nhau giữa các quốc gia và giai đoạn phát triển từng thời kỳ, với những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý, chương trình đào tạo nên việc áp dụng có chọn lọc và ứng dụng sáng tạo những kiến thức trong cuốn sách này có thể hữu ích đối với sinh viên ngành Công tác xã hội và nhân viên xã hội

Theo tác giả Pamela Trevithick, Giáo sư về Công tác Xã hội tại Đại học New Buckinghamshire và là cựu Giám đốc chương trình cho Cử nhân về Công tác Xã hội tại Đại học Gloucestershire, trong cuốn sách “Social work skills - A practice handbook”, được viết vào năm 2012, là văn bản được đề xuất về hầu hết các chương trình công tác xã hội của Anh, một chương trình đã được bán rộng rãi ở Úc và đã được dịch ra năm thứ tiếng: Trung Quốc, Nhật, Thụy Điển, Tây Ban Nha và Hàn Quốc (Branch, 2014) Cuốn sách chia sẻ về bối cảnh của Công tác xã hội hiện nay khi ngành Công tác xã hội nằm

Trang 26

trong một số vấn đề phức tạp nhất và các lĩnh vực phức tạp của kinh nghiệm con người,

và vì vậy, Công tác xã hội là và phải là một hoạt động có tay nghề cao Mục đích của cuốn sách này là để mô tả những hoạt động có tay nghề cao bằng cách cung cấp 50 kỹ năng thông thường được sử dụng trong Công tác xã hội và giúp chúng ta xác định những

kỹ năng này có thể được sử dụng như thế nào trong thực tế nhằm đem đến những kết quả mang tính hiệu quả và tích cực Cuốn sách cố gắng thu hẹp một khoảng cách hiện đang tồn tại liên quan đến các cuốn sách được viết đặc biệt về chủ đề kỹ năng làm việc xã hội Khoảng cách này cũng đã được ghi nhận liên quan đến giảng dạy kỹ năng và thực hiện những kỹ năng này trong thực tế

Một nghiên cứu của Marsh, P và Triseliotis, J (1996) "Các nhân viên xã hội: đào tạo và năm đầu tiên trong công việc" của họ, tại N.Connelly (ed.) Đào tạo Nhân viên Dịch

vụ Xã hội Bằng chứng từ Nghiên cứu Mới, London: NISW, 4:54 Trọng tâm của nghiên cứu này là sự “phù hợp” giữa đào tạo và thực hành được gọi là 'sẵn sàng chiến đấu để thực hành' Đánh giá liên quan đến câu hỏi mới đủ điều kiện hành nghề của giám sát viên,

và cuộc phỏng vấn với một mẫu của những người đã hoàn thành các câu hỏi Người sinh viên được công nhân có trình độ sẽ được yêu cầu suy nghĩ về kinh nghiệm trong thời gian đào tạo của họ trong khi người tuyển dụng của họ được yêu cầu phản ánh về cách sẵn sàng để người mới thực hành, như chứng minh bằng khả năng nhận thức của họ để xử lý các vần đề thực tế trong quá trình thực hành nghề ở năm đầu tiên của họ Nghiên cứu này

là một trong những nghiên cứu đầu tiên nhằm tìm kiếm quan điểm của những người đã trải qua quá trình huấn luyện và nghiên cứu cũng có ý nghĩa quan trọng khi cố gắng chắt lọc những gì cấu thành "sự sẵn sàng" từ kinh nghiệm của cả các sinh viên và người tuyển dụng của họ Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng: “51% học sinh được phỏng vấn cho biết có quá ít kỹ năng làm việc về công tác xã hội trong các khóa học của họ” Trong một danh sách các khuyến nghị, Marsh và Triseliotis kết luận rằng cần chú ý nhiều hơn nữa đến việc dạy các kỹ năng làm việc xã hội bằng các tình huống thực hành cụ thể (Trevithick, 2012)

Những nghiên cứu về việc thực hành nghề Công tác xã hội luôn là mối quan tâm hàng đầu của những người làm Công tác xã hội trên thế giới, những nghiên cứu được thực

Trang 27

hiện trong môi trường đa đạng về bối cảnh, đối tượng, cách thức thực hành, lý thuyết… nhằm giúp người đang học hoặc đang làm Công tác xã hội hiểu rõ công việc đang làm và

có những cách thức thực hiện sao cho hiệu quả hơn trong mỗi tình huống mà họ sẽ gặp phải trong quá trình thực hành nghề

Theo Christine Perriam từ Đại học Edith Cowan, trong luận văn của mình “Social work is what social workers do: A study of hospital social workers’ understanding of their work and their professional identity.” (tạm dịch là: “Công tác xã hội là những gì người làm công tác xã hội làm: nghiên cứu về nhân viên xã hội làm việc trong bệnh viện của hiểu biết về công việc của họ và nhận diện chuyên nghiệp của họ”) năm 2015, với trọng tâm của cuộc nghiên cứu này là làm thế nào các nhân viên xã hội có kinh nghiệm (có kinh nghiệm được định nghĩa là đã thực hành từ ba năm trở lên) hiểu và giải thích sự đóng góp cho bệnh viện công dựa trên nhận thức và sự hiểu biết chung của họ bằng cách mô tả cách

họ hiểu và mô tả công việc, qua đó cho thấy lý do tại sao nhân viên xã hội đôi khi cảm thấy rằng nghề nghiệp của họ bị tách rời, không kết nối được với cơ quan mà họ hoạt động (Perriam, 2015) Mặc dù đối tượng nghiên cứu là nhân viên xã hội thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện từ ba năm trở lên nhưng kết quả của nghiên cứu cũng có thể liên hệ đến sinh viên ngành Công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam Và đây có thể

là một ý tưởng giả thuyết về sự khó khăn của sinh viên trong quá trình thực hành nghề trong bệnh viện

Nghiên cứu của Darlington, Y, & Scott, D (2002): Qualitative research in practice: stories from the field (tạm dịch là: “Nghiên cứu định tính trong thực hành: các câu chuyện

từ thực địa”.) có nhận định rằng: trong công tác xã hội, việc nghiên cứu và việc thực hành phần lớn vẫn còn tách biệt nhau, lưu ý rằng mặc dù các sinh viên làm việc trong quá trình thực hành nghề có những ý tưởng và câu hỏi về những vấn đề, phát hiện từ thực tế của họ, nhưng hầu hết các sinh viên không nghĩ những phát hiện, câu hỏi đó liên quan đến nghiên cứu Do nhận thức này nên họ không dành thời gian để viết ra những ý tưởng của mình để chia sẻ với người khác, vì vậy kiến thức chuyên môn bị loại bỏ như trực giác hoặc phán đoán không thể khám phá ra được (Perriam, 2015) Kết quả của Darlington, Y, & Scott,

D có thể liên hệ như một ý tưởng về giải thuyết nghiên cứu về những khó khăn của sinh

Trang 28

viên ngành Công tác xã hội trong bệnh viện tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, vì thực

tế, sinh viên ngành Công tác xã hội thiếu chủ động trong nghiên cứu và còn thiếu tư duy nghiên cứu trong quá trình thực hành nghề

1.1.2 Nghiên cứu trong nước:

Năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt đề án 32 về Phát triển ngành nghề Công tác xã hội trong giai đoạn 2010 – 2020 Tạo ra cơ hội cho ngành nghề Công tác xã hội phát triển, dần thể hiện tầm quan trọng, cần thiết trong cuộc sồng hằng ngày Để đáp ứng với nhu cầu của xã hội, đề án 32 đã nhấn mạnh về việc “phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam và nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về

số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.”

Nhằm cụ thể hóa Quyết định số 32 của Thủ tướng Chính phủ vào thực tiễn của ngành Y tế Đề án phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2010

đã được Bộ trưởng Bộ Y tế ký quyết định ban hành vào ngày 15/07/2011 theo Quyết định

số 2514 /QĐ-BYT Và Thông tư số 43/2015/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 26/11/2015 quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện Những cơ sở pháp lý này sẽ tạo điều kiện cho nghề Công tác xã hội phát triển mạnh mẽ trong ngành y tế trong thời gian tới Đặc biệt là việc đào tạo đội ngũ nhân lực có tâm và có chuyên môn hoạt động Công tác xã hội trong bệnh viện (Đỗ Hạnh Nga, 2016)

Tại hội thảo “Đánh giá hiệu quả thực hành của thực tập sinh chuyên ngành Công tác xã hội” do trường Đại học Lao động Xã hội tổ chức vào tháng 4 năm 2017 tại Hà Nội,

đã có những chia sẻ về bối cảnh hiện nay, khi tất cả các trường đào tạo CTXH đều cố gắng đưa sinh viên đi thâm nhập vào thực tế, giúp gắn kết giữa lý thuyết hàn lâm và thực hành Thông qua thực hành, các nhà giáo dục sẽ đánh giá khá chính xác về chất lượng đào tạo của nhà trường, chất lượng học tập của sinh viên qua đó có thể bổ sung, điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với thực tiễn xã hội (Nguyễn Thị Liên, 2017) Để đủ điều kiện tham gia môn học thực hành Công tác xã hội đòi hỏi các sinh viên phải vượt qua các

Trang 29

môn học lý thuyết Công tác xã hội trên lớp, trước khi đi thực hành sinh viên được trang bị kiến thức, kỹ năng thông qua các bài giảng, tình huống sắm vai giả định, từ đó giúp sinh viên tư duy tìm ra hướng để giải quyết những vấn đề sẽ phát sinh trong thực tế Tuy nhiên, trong thực tế, đánh giá thực hành Công tác xã hội còn gặp nhiều thách thức vì lý do nguồn lực con người, tiêu chí đánh giá và nhận thức, năng lực của người tham gia đánh giá và quan trọng, là bộ công cụ đánh giá chưa có một quy chuẩn chung Những kết quả trong thực hành nghề chỉ được sử dụng để tham khảo cho kết quả đánh giá cuối cùng, chứ không nằm trong tỷ trọng điểm của môn học trong đề cương giảng dạy Do các cán bộ cơ

sở, hầu hết chưa được đào tạo chuyên môn Công tác xã hội Điều này cũng dẫn đến một nghịch lý là: người có lợi thế gần gũi và sâu sát với sinh viên – có khả năng quan sát việc thực hành của sinh viên nhiều nhất (cán bộ cơ sở) lại chưa phải là những nhân viên xã hội chuyên nghiệp, trong khi đó người chịu trách nhiệm chính trong đánh giá là các giảng viên hướng dẫn lại không có nhiều thời gian tại thực địa, hạn chế trong việc quan sát trực tiếp cách thức sinh viên thực hành (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2017) Hội thảo cũng thống nhất rằng, việc đánh giá kết quả đầu ra cho quá trình thực hành của sinh viên cần dựa trên các tiêu chí riêng cho mỗi môn học Công tác xã hội cá nhân, Công tác xã hội nhóm, Phát triển cộng đồng, căn cứ theo các nội dung được quy định rõ ràng trong văn bản quy định của nhà trường Trong đó, hoạt động tự đánh giá của sinh viên, đặc biệt qua nhật ký và phiếu tự cho điểm là một kênh có giá trị quan trọng (Dau Tuan, 2017) Qua hội thảo, có thể thấy những khó khăn của sinh viên khi thực hành nghề đó là chưa có một quy chuẩn chung để sinh viên có thể tự đánh giá, tự soi xét năng lực bản thân trong quá trình thực hành nghề

Điều này có thể liên hệ đến quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác

xã hội tại bệnh viện, khi mà Công tác xã hội trong bệnh viện đang trong quá trình bắt đầu phát triển Ở Việt Nam, trong môi trường bệnh viện, thì có rất ít bệnh viện có phòng tham vấn, phòng Công tác xã hội, nhân viên xã hội làm trong lĩnh vực bệnh viện, chỉ mới có lực lượng tình nguyện viên hỗ trợ với các hoạt động mới chỉ mang tính tự phát, có sự nhiệt huyết và kinh nghiệm, nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng,

Trang 30

cũng chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi (Đỗ Hạnh Nga, 2016)

Trong hội thảo “Phát triển công tác xã hội trong bệnh viện: Những vấn đề lý luận

và thực tiễn thực hành” do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức có nhiều bài tham luận cũng như nghiên cứu bàn về tình hình Công tác xã hội trong bệnh viện, đặc biệt có phần phân tích về thực trạng và nhu cầu phát triển ngành Công tác xã hội trong bệnh viện ở Việt Nam như các vấn đề về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu của bệnh viện đối với nghề Công tác xã hội, thực trạng áp dụng Công tác xã hội trong bệnh viện tại các phòng khám, bệnh viện (đánh giá hiệu quả, ưu khuyết điểm, tồn tại và hạn chế, ) và Công tác đào tạo liên quan đến chuyên ngành công tác xã hội trong bệnh viện: Chương trình đào tạo, công tác thực hành thực tập của sinh viên ngành công tác xã hội và việc nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên Nên đây là nguồn dữ liệu cần thiết cho cuộc nghiên cứu: “Một số khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hành nghề tại các bệnh viện ở Thành phố Hồ chí Minh của sinh viên ngành Công tác xã hội.”

Theo nghiên cứu của Đặng Thị Thúy với đề tài: “Đào tạo thực hành cho sinh viên ngành Công tác xã hội qua nghiên cứu của trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn

và trường Đại học Lao động – Xã hội” năm 2016, đề tài xuất phát từ thực trạng khó khăn trong thực hành Công tác xã hội của sinh viên hiện nay cũng như nhu cầu đào tạo thực hành, cung cấp nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội Đề tài được triển khai khoảng gần 200 sinh viên thuộc hai trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường đại học Lao động – Xã hội Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng đào tạo thực hành trong công tác xã hội tại hai trường hiện nay Đưa ra những thực trạng chung như nội dung chương trình đào tạo, cách thức triển khai hoạt động thực hành Trên cơ sở đó tiến hành đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong đào tạo thực hành công tác xã hội hiện nay tại hai trường

Một nghiên cứu về hoạt động Công tác xã hội trong bệnh viện với đề tài là “Thực hành Công tác xã hội trong bệnh viện – nghiên cứu trường hợp từ bệnh viện đa khoa Can Lộc, Hà Tĩnh” có chia sẻ về việc nhu cầu sử dụng dịch vụ Công tác xã hội trong bệnh viện là rất lớn, cần thiết ở mọi cấp độ Nhưng điều quan trọng đó là có lội trình phát triển

Trang 31

và đào tạo nguồn nhân lực Trong đó, phải đảm bảo về kiến thức Công tác xã hội chuyên nghiệp cho nhân viên, đảm bảo tầm quan trọng, cần thiết của Công tác xã hội cho những nhà chức trách, đội ngũ nhân viên ý tế, nhà hoạch định chính sách Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng để phân tích một số khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hành nghề trong bệnh viện của sinh viên ngành Công tác xã hội

Ngoài ra, còn nhiều bài viết và nghiên cứu về thực hành nghề, đào tạo đội ngũ nhân viên Công tác xã hội trong bệnh viện để cho thấy, việc đảm bảo chất lượng về năng lực,

số lượng nhân lực đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết của cá nhân, gia đình, xã hội với các dịch vụ Công tác xã hội, đặc biệt là dịch vụ Công tác xã hội trong bệnh viện Việc đào tạo phải bắt đầu từ khi sinh viên còn bắt đầu việc học hỏi, thực hành nghề ở những năm đầu chương trình đào tạo nhân lực cho ngành nghề Công tác xã hội Đặc biệt, với tính chất đặc thù, cấp thiết ở môi trường bệnh viện, nên việc đảm bảo có nguồn nhân lực đáp ứng được về số lượng và chất lượng thì công tác đào tạo nhân lực là yếu tố hàng đầu, trong đó, quá trình thực hành nghề của sinh viên là được quan tâm, chú trọng nhất

1.2 Một số khái niệm liên quan:

1.2.1 Công tác xã hội:

Theo định nghĩa Công tác xã hội của Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế (IFSW, 2014): "Công tác xã hội là một nghề ứng dụng và là một ngành khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi xã hội và phát triển xã hội, đoàn kết xã hội, và nâng cao năng lực và giải phóng con người Các nguyên tắc cơ bản của Công tác xã hội là công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng Vận dụng các lý thuyết về Công tác xã hội, lý thuyết về khoa học xã hội và nhân văn, và những hệ thống kiến thức bản địa của từng quốc gia Công tác xã hội cam kết nâng cao an sinh và hạnh phúc của con người, cấu trúc, nhận diện và giải quyết những thách thức của cuộc sống."

Thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội”, ở mục 2 về việc giải thích từ ngữ, Công tác xã hội được giải thích với cụm danh từ là một nghề “Nghề Công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề của cá nhân, gia

Trang 32

đình, cộng đồng và xã hội; góp phần bảo đảm thực hiện quyền con người, công bằng, tiến

bộ xã hội và hạnh phúc của nhân dân.”

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh, một trong những người có công rất lớn trong việc phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam, “công tác tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn”

Theo những định nghĩa trên, nhóm nghiên cứu xác định rằng Công tác xã hội là một nghề khoa học ứng dụng, sử dụng tri thức khoa học để vận dụng hỗ trợ cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết những khó khăn, vấn đề mà họ không thể tự bản thân vượt qua được nhằm hướng đến việc tăng năng lực của chính bản thân cá nhân, nhóm, cộng đồng trước những khó khăn trong cuộc sống

1.2.2 Thực hành nghề:

Thực hành nghề là cụm từ viết vắn tắt của cụm từ: “Thực hành nghề Công tác xã hội” Thực hành nghề Công tác xã hội trong bệnh viện là một quá trình mà sinh viên sẽ áp dụng những kiến thức, kỹ năng chuyên ngành Công tác xã hội trong những hoạt động hỗ trợ khách hàng Thực hành nghề Công tác xã hội trong bệnh viện của sinh viên đó là thực hiện cơ bản một hoặc nhiều nhiệm vụ được quy định trong Thông tư 43/2015/TT-BYT về Quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện năm 2015 của Bộ Y tế

Quá trình thực hành nghề Công tác xá hội trong bệnh viện của sinh viên ngành Công tác xã hội đều bắt buộc phải có người hướng dẫn, được quản lý từ các phòng chức năng tại bệnh viện hoặc từ khoa đào tạo ngành Công tác xã hội của trường Đại học, Cao đẳng, hoặc có thể là của cả hai hệ thống này theo đúng quy định trong Thông tư 43/2015/TT-BYT về Quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện năm 2015 của Bộ Y tế

Trong cuộc nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xem xét việc thực hành nghề Công tác xã hội trong bệnh viện của sinh viên ngành Công tác xã hội với các hình thức như thực tập môn học trong chương trình đảo tạo Cử nhân Công tác xã hội (Công tác xã hội cá

Trang 33

nhân, Công tác xã hội nhóm, Phát triển cộng đồng, thực tập tốt nghiệp) hoặc tình nguyện viên chuyên môn ngành Công tác xã hội

1.2.3 Thân chủ:

Theo Thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH, năm 2017 của Bộ Lao động Thương binh

và Xã hội quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm công tác xã hội thì thân chủ có thể hiểu là “đối tượng sử dụng dịch vụ công tác xã hội”, đó có thể là cá nhân, nhóm, gia đình hoặc cộng đồng sử dụng dịch vụ công tác xã hội

Theo khái niệm thân chủ trong công tác tham vấn (một trong những hoạt động chuyên môn mà sinh viên ngành Công tác xã hội được đào tạo trong hệ đào tạo đại học ở tất cả hình thức đào tạo của trường Đại học và Cao đẳng có đào tạo ngành Công tác xã hội) thì thân chủ là một người/ một nhóm người bình thường, người có vấn đề, người mất cân bằng hoặc người có rối loạn tâm lý (Trần Thị Minh Đức, 2016)

Dựa vào những khái niệm trên, nhóm nghiên cứu có thể xác định rằng, thân chủ là người mà sinh viên ngành Công tác xã hội khi thực hành nghề trong bệnh viện có thể là bệnh nhân, hoặc có thể là gia đình bệnh nhân, hoặc có thể là nhân viên y tế trong bệnh viện, hoặc có thể là cán bộ, công nhân, viên chức hoạt động trong bệnh viện Và thân chủ

có thể là cá nhân, hoặc có thể là nhóm nào đó trong bệnh viện cần sự hỗ trợ, có nhu cầu mong muốn được cung cấp dịch vụ Công tác xã hội trong quá trình chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện

1.3 Một số lý thuyết áp dụng nghiên cứu

1.3.1 Lý thuyết Hệ thống:

Lý thuyết thuyết Hệ thống xuất phát điểm từ ngành Sinh vật học, cụ thể là do Ludwig Von Bertalanffy, nhà Sinh vật học người Áo, trong tác phẩm “Lý thuyết hệ thống tổng quát” năm 1968

Theo từ điển Bách khoa sinh học, “Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo quy luật nhất định để trở thành một chính thể Một

hệ thống sẽ có một thuộc tính gọi là tính trội của hệ thống mà từng phần tử riêng lẻ không

có, hoặc không đáng kể” Mỗi cá nhân con người đều tồn tại một hoặc nhiều hệ thống đan

Trang 34

xen với nhau Bản thân một cá nhân cũng là một hệ thống, hệ thống này là tập hợp của thể chất sinh lý, tâm lý, tinh thần và xã hội Rộng ra hơn, cá nhân còn có gia đình, bạn bè, đồng nghiệp… đó cũng là những hệ thống, nhưng tính phức tạp về mối quan hệ và sự tương tác lớn hơn hệ thống ở mỗi cá nhân Hệ thống lớn hơn nữa, đó là cộng đồng mà cá nhân đó sinh sống, học tập và lao động

Trong Công tác xã hội, theo cách tiếp cận dựa trên quan điểm lý thuyết Hệ thống, vấn đề của thân chủ không chỉ xuất phát từ bản thân cá nhân đó Vấn đề mà thân chủ gặp phải là kết quả của việc trao đổi, giao tiếp giữa các thành viên, việc thực hiện các vai trò ở mỗi thành viên hay các mối quan hệ quyền lực của mỗi thành viên trong hệ thống không phù hợp (Huỳnh Minh Hiền, 2013) Khi thay đổi hệ thống thông qua việc tác động thay đổi cách giao tiếp đó, làm rõ những chức năng của các thành viên, các mối quan hệ về quyền lực trong hệ thống sẽ tạo ra động lực cho thân chủ tự giải quyết vấn đề

Bệnh viện là một hệ thống, với những phòng ban khác nhau cùng làm việc, phối hợp chặt chẽ với nhau, hướng tới mục tiêu chung là phục vụ tốt nhất cho khách hàng Khách hàng của bệnh viện là đối tượng với nhu cầu chắm sóc sức khỏe như khám, chữa bệnh; chỉnh hình, phục hồi chức năng của các bộ phận cơ thể con người…Từ năm 2011,

Bộ Y tế đã ra quyết định số 2514/QĐ-BYT ban hành ngày 15/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Y

tế phê duyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2020", tạo cơ hội cho Công tác xã hội trong bệnh viện phát triển, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống của các bệnh viện Từ đó, tạo điều kiện cho sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề trong bệnh viện

2011-Tuy nhiên, trong những năm bắt đầu thực hiện thì hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện hiện mới chỉ mang tính tự phát, chưa được điều chỉnh bởi các văn bản mang tính pháp lý Đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động chủ yếu mới chỉ có nhiệt huyết và kinh nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng nên thường thiếu tính chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa được như mong đợi (Đỗ Hạnh Nga, 2016) Đây

có thể là một nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hành nghề của sinh viên ngành Công tác xã hội trong môi trường bệnh viện

Trang 35

Chính vì vậy, để tìm hiểu và phân tích một số khó khăn và thuận lợi của sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành nghề trọng bệnh viện, việc nghiên cứu về cách trao đổi, giao tiếp của cá nhân sinh viên đó với những hệ thống xung quanh họ trong môi trường bệnh viện Cùng với hoạt động này, là việc tìm hiểu thông tin từ người hướng dẫn của các sinh viên Công tác xã hội thực hành nghề trong bệnh viện là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu này

Trong thực hành Công tác xã hội, lý thuyết Hệ thống còn có thể kết hợp với lý thuyết Nhận thức – hành vi để mang lại hiệu quả cao trong quá trình hỗ trợ thân chủ tự giải quyết vấn đề (Huỳnh Minh Hiền, 2013) Cho nên, để thu thập và phân tích thông tin hiệu quả hơn, nhóm nghiên cứu cũng sử dụng lý thuyết Nhận thức - hành vi trong nghiên cứu này

1.3.2 Lý thuyết Nhận thức:

Lý thuyết Nhận thức được Albrt Ellis, nhà Tâm lý học người Mỹ, xây dựng và công bó năm 1955 Theo ông, con người có nhận thức đối với sự việc xảy ra Nhận thức này bao gồm cách suy nghị, cách nắm bắt, cách lý giải, hình tượng… và nhận thức có ảnh hưởng lớn đến với cảm xúc và hành vi của con người Chính vì vậy, nếu nhận thức của con người không xác đáng, con người sẽ có cái nhìn về sự vật không đúng và điều này làm cho con người có cảm xúc và hành vi mang tính tiêu cực Trong hơn 60 năm, lý thuyết Nhận thức được được các nhà nghiên cứu thực hành trong lĩnh vực Công tác xã hội như S Berlin, T Combs,…nhất là H Goldstein đã nghiên cứu và đưa ra những phương pháp phù hợp áp dụng trong ngành Công tác xã hội

Nhóm nghiên cứu tiếp cận lý thuyết Nhận thức hướng đến việc sinh viên ngành Công tác xã hội đã suy nghĩ, nhận thức như thế về quá trình thực hành nghề tại bệnh viện Liệu có phải từ những quan niệm, suy nghĩ đó tạo ra những bức tường khó khăn hay tạo

ra những thuận lợi cho quá trình thực hành nghề của họ Việc nhận thức đúng về sự viện xảy ra với sinh viên có ảnh hưởng đến kết quả Do đó, nhóm nghiên cứu sẽ tìm hiểu những sự việc xảy ra và thói quen suy nghĩ của sinh viên ngành Công tác xã hội thực hành trong bệnh viện

Trang 36

Nhóm nghiên cứu có giả thuyết về nhận thức của sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành nghề Công tác xã hội luôn chịu tác động bởi những hệ thống xung quanh, những nhận thức này sẽ được sinh viên chia sẻ với người hướng dẫn hoặc với đồng nghiệp của mình để tìm ra cách giải quyết cho vấn đề Trong quá trình giao tiếp này sẽ có một số khó khăn hoặc thuận lợi xuất hiện hoặc được làm sáng tỏ hơn

Nghiên cứu về nhận thức của sinh viên ngành Công tác xã hội trong quá trình thực hành nghề Công tác xã hội là một trong những nhiệm vụ mà nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu với người được phỏng vấn

1.3.3 Lý thuyết Hành vi:

Lý thuyết Hành vi được Ivan Petrovich Pavlov, Nga Ông đã đề xướng giả thuyết làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu về hành vi sau này

Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa hành vi có những quan điểm rằng:

- Nhận thức và hành vi con người sẽ thay đổi theo điều kiện môi trường và bị ảnh hưởng của cá thể khác trong môi trường sống

- Hành vi mong muốn có thể mất đi do bị tác động quá nhiều Trong nhiều trường hợp, hành vi con người có thể thay đồi theo phản xạ có điều kiện

- Có thể vận dụng các lý thuyết trong lĩnh vực xã hội để hiểu, giải thích các hành vi và sự thay đổi hành vi của con người

Cách tiếp cận theo lý thuyết hành vi được hệ thống hóa và phát triển trên nguyên tắc sự chuyển biến hành vi của con người kèm theo những điều kiện Và được áp dụng trong thực hành nghề Công tác xã hội và tâm lý Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng

là một cách phân tích hành vi của con người trên cơ sở của điều kiện hóa có tác động và

lý thuyết học tập xã hội Phương pháp được ứng dụng rộng rãi trong các công tác huấn luyện, giảng dạy các kỹ năng…

Các tiếp cận theo lý thuyết hành vi có thể giúp cho người nghiên cứu phát hiện ra những điều kiện giúp cho người sinh viên thực hiện các hành vi của cá nhân, những sự thỏa mãn nơi cá nhân, và động cơ thực hiện tiếp tục các hành vi mong muốn Do hành vi

Trang 37

con người có được qua học tập, quan sát và trải nghiệm thực tế nên việc nghiên cứu về những cơ hội quan sát, tham gia học hỏi, rèn luyện là những thông tin quan trọng giúp cho nghiên cứu có những kết quả rõ ràng hơn về một số khó khăn, thuận lợi của sinh viên ngành Công tác xã hội khi thực hành nghề trong môi trường bệnh viện

1.3.4 Quan điểm Con người trong môi trường

Con người sống luôn bị chi phối bởi môi trường sống Quan điểm Con người trong môi trường là một quan điểm xuất phát từ nền tẳng lý thuyết Hệ thống Các nhà khoa học hành vi cho rằng: “Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài,

và bao gồm cả phạm trù bên trong như tâm trí, nhận thức, trí nhớ và tưởng tượng” Hành

vi con người bị thúc đầy bởi các động cơ, hay còn gọi là những động lực Hành vi con người rất phức tạp, có nhiều nguyên nhân và chịu chi phối bởi văn hóc, môi trường

Cuộc sống hoặc các mô hình sinh thái trong Công tác xã hội “phối kết hợp sự trị liệu và tạo ra đổi mới, bằng cách khái niệm hóa và nhấn mạnh sự yếu kém trong việc trao đổi giữa cá nhân và môi trường Chúng ta nhìn nhận cá nhân và môi trường trong mối quan hệ tương hỗ, cái này có ảnh hưởng lên cái kia Từ cách nhìn nhận này, con người sẽ gặp vấn đề khi nhu cầu của bản thân họ và nguồn lực trong xã hội (ví dụ gia đình, cộng đồng, xã hội) không tương thích với nhau

Quan điểm Con người trong môi trường (PIE) là mối quan hệ hỗ tương trong ngoài các hệ thống cá nhân, gia đình, tổ chức, cộng đồng, xã hội Có thể gọi tác động từ những

hệ thống đó là các chiều kích ảnh hưởng đến hành vi con người và có 17 chiều kích cơ bản dựa trên những hệ thống đó, gồm:

- Về chiều kích con người (4 chiều kích): Sinh lý, tâm lý, tinh thần, xã hội

- Về chiều kích môi trường (9 chiều kich): gia đình, nhóm nhỏ, cộng đồng, văn hóa, môi trường vật lý, các tổ chức chính thức, phòng trào xã hội, các thiết chế xã hội và cấu trúc

xã hội, mối quan hệ cặp đôi

- Về chiều kích thời gian (4 chiều kích): Xu hướng, chu kỳ, tuyến tính, đột biến

Nhóm nghiên cứu dựa vào các chiều kích trên dể xây dựng bảng hỏi, tiếp cận tìm hiểu thông tin của người tham gia trả lời bảng hỏi nghiên cứu với mục đích thu thập thông tin

Trang 38

một cách cụ thể, chi tiết và chính xác nhất Các chiều kích ảnh hưởng từ môi trường đến hành vi con người cũng là nguồn thông tin để nhóm nghiên cứu sử dụng phân tích thông tin mà người được phỏng vấn cung cấp một cách thuận lợi do tính hệ thống hóa của các chiều kích, giúp cho nhóm nghiên cứu hiểu hành vi của người được nghiên cứu, xác định

lý do và động lực để cá nhân có hành vi như vậy, hiểu rằng một hiện tượng phức tạp và phụ thuộc bởi nhiều yếu tố

1.4 Đặc điểm của mẫu dân số được lựa chọn trong nghiên cứu:

Trong phạm vi của nghiên cứu này, mẫu dân số được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn bảng hỏi và phỏng vấn sâu chủ yếu là sinh viên ngành Công tác xã hội theo học hình thức đào tạo hệ chính quy theo hệ đào tạo Đại học và Cao đẳng của các trường có đào tạo ngành Công tác xã hội Những sinh viên này đã có thời gian thực hành nghề Công tác xã hội tại bệnh viện trong năm 2017 đến nay

Những sinh viên tham gia tiến hành trả lời bảng hỏi sẽ được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất Nhóm nghiên cứu sẽ thu thập số liệu thông tin những sinh viên nào thực hành nghề Công tác xã hội trong bệnh từ năm 2017 đến nay Sau đó, tiến hành tiếp cận và thuyết phục họ tham gia trả lời bảng hỏi Với những cá nhân, trường hợp cung cấp thông tin mang tính giá trị cao và có tiềm năng để nhóm nghiên cứu khai thác sâu hơn vào trọng tâm những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hành nghề thì nhóm nghiên cứu sẽ mời cá nhân sinh viên đó tham gia phỏng vấn sâu

Sinh viên ngành Công tác xã hội với độ tuổi chiếm nhiều nhất là từ 18 tuổi đến 23 tuổi (theo cách thường dùng là tính khi học sinh phổ thông thi đại học vào đại học và mất ba đến bốn năm học theo hình thức chính quy tùy theo hệ đào tạo Cao đẳng hoặc Đại học Nhìn chung, sinh viên ngành Công tác xã hội cũng có những đặc điểm tâm sinh lý và xã hội giống với đại đa số sinh viên Việt Nam

Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng và Trần Thị Thanh Trà, trong cuốn Tâm lý học phất triển, 2014: “Sinh viên ở độ tuổi này là những con người đã đạt đến mức hoàn thiện về thể chất Các tố chất về thể lực như sức lạnh, bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát

Trang 39

triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng các hoocmon của nam và nữ.”

Hai tác giả nhận xét về vai trò xã hội của sinh viên, sinh viên là một tầng lớp xã hội, một

tổ chức xã hội quan trọng của mọi thể chế chính trị Thanh niên sinh viên là một nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngữ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao cho xã hội, được công nhận là một công dân thực thực của đất nước với đầy

dủ quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật Tuy nhiên, do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia sản xuất trực tiếp của cải, vật chất nên thanh niên sinh viên chưa hoàn toàn

là người tự lập về mọi mặt như những thanh niên có cùng độ tuổi phải vào đời sớm

Hoạt động học tập là một trong những hoạt động chủ đạo của sinh viên Trong môi trường Đại học, Cao đẳng hoạt động học tập của sinh viên mang tính chuyên ngành, phạm

vi hẹp hơn, sâu sắc hơn nhằm đào tạo những chuyên gia, trí thức cho đất nước Do đó, hoạt động hoạt động nghiên cứu khoa học trở nên đặc trưng, quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên hơn ở các giai đoạn lứa tuổi trước đó Bên cạnh việc học tập và nghiên cứu, sinh viên còn có hoạt động học nghề Khác với việc học nghề truyền thống ở các trường dạy nghề, đó chính là tính chất nghề của những cử nhân, những chuyên gia tương lai Việc học nghề của sinh viên chủ yếu tập trung vào những hành động, kỹ thuật, những nguyên tác chung có tính chất trí óc là chính

Như vậy, những nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên đó là sinh viên không những phải lĩnh hội tri thức của các chuyên ngành khoa học đồng thời phảo nắm được nguyên tắc, cách thức, chuẩn mực nghề nghiệp để làm một chuyên gia sau này

Sinh viên là những người có trí tuệ, nhạy bén, mẫn cảm với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia và thế giới nên sinh viên có chính kiến đối với đường lối, chú trương, chính sách của Đảng chính trị, những tổ chức cấm quyền Do đó, tham gia hoạt động chính trị, xã hội là một nội dung hoạt động đặc trưng ở tuổi sinh viên, trở thành là nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên Bên cạnh các tổ chức chính trị, xã hội thì còn có những nhóm, câu lạc bộ mang tính chất nhân văn, nghệ thuật, thể dục, thể thao… giúp cho sinh viên có những mối quan hệ giao lưu, giao tiếp, thiết lập được nhiều mối quan hệ

xã hội đan xen với nhau Hoạt động này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển đời

Trang 40

sống tâm lý, nhân cách ở sinh viên, góp phần phát triển hoàn thiện hơn cho nhận thức của sinh viên

Để thực hiện các hoạt động ở trên, sinh viên buộc phải thích ứng nhanh chóng với môi trường xã hội mới Điều này tạo ra những khó khăn mang tính chất bao trùm hơn do sinh viên tiếp cận với những nội dung, phương pháp học tập mới có tính chất nghiên cứu khoa học, học nghề trở thành những chuyên gia tương lai và môi trường sinh hoạt mở có tính phạm vi quốc gia, quốc tế Mức độ thích nghi này có ảnh hưởng trực tiếp đến thành cộng trong học tập của họ, bởi vậy có ý nghĩa chi phối rõ rệt hơn (Nguyễn Thị Bích Hồng và Trần Thị Thanh Trà, 2014)

Sự khác biệt tạo nên sinh viên ngành Công tác xã hội chính là đặc trưng của ngành nghề mà họ chọn để học Công tác xã hội là ngành khoa học, ứng dụng tri thức khoa để giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng giải quyết vấn đề họ gặp phải và tăng năng lực cho chính bản thân của họ Do đó, sinh viên ngành Công tác xã hội phải ra sức học tập kiến thức, những lý thuyết sử dụng trong ngành Công tác xã hội, những kỹ năng hành nghề, vừa phải thực hành, rèn luyện, đưa kiến thức thành những hành động trợ giúp, hỗ trợ khách hàng trong các thực tế cụ thể

Ngành Công tác xã hội là một học mới trong thập niên gần đây, cộng đồng xã hội Việt Nam vẫn còn khái niệm từ thiện và nhầm lẫn khái niệm này với ngành Công tác xã hội

Họ cho rằng, “Công tác xã hội là ngành học giống như việc ăn cơm nhà mà vác tù và hàng tổng”, “Công tác xã hội chỉ là việc cho quà, phát tiền từ thiện cho người nghèo”… Với kỳ vọng của họ hàng, gia đình thì việc học ngành Công tác xã hội nếu theo khái niệm này thì tương lai sẽ không vững chắc, bấp bệnh Nên có thể, sinh viên ngành Công tác xã hội để theo học ngành nghề mình chọn đã gặp mâu thuẫn giữa lựa chọn của cá nhân và mong muốn của gia đình Ngay trong suy nghĩ của một số sinh viên, ngành Công tác xã hội là ngành khó hiểu, khó hình dung được sau này tốt nghiệp sẽ làm gì, làm với ai, làm như thế nào?

Trong những kì tuyển sinh Đại học, Cao đẳng trong 3 năm gần đây, việc thay đổi

cơ chế và phương thức thi cử cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn theo học ngành Công tác

xã hội Có một bộ phận sinh viên theo học ngành Công tác xã hội vì không đủ điểm theo

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm