1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí độc quyền đáp ứng yêu cầu hội nhập nghiên cứu khoa học

115 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đề tài này với mục đích phân tích thực trạng hiện nay và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định về lạm dụng vị trí độc quyền trong Luật cạnh tranh, góp phần điều

Trang 1

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

Thuộc nhóm ngành khoa học: Luật cạnh tranh

Thành phố Hồ Chí Minh, 3/2013

Trang 2

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

Thuộc nhóm ngành khoa học: Luật cạnh tranh

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thiên Thanh Nữ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập, nghiên cứu và được sự giúp đỡ, dạy bảo chu đáo của giảng viên hướng dẫn, nay tác giả đã hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học: “HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP”

Để hoàn thành được bài nghiên cứu khoa học này, tác giả xin gửi lời cám

ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Thúy Nga, người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn và chỉ bảo tác giả trong suốt thời gian hoàn thành bài nghiên cứu khoa học Những ý kiến đóng góp của cô là vô cùng quý báu cho đề tài này

Mặc dù đã có cố gắng rất nhiều trong việc học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài nghiên cứu khoa học nhưng tác giả vẫn còn hạn chế về mặt kiến thức lẫn kinh nghiệm nên không thể tránh được những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô để bài nghiên cứu khoa học này được hoàn thiện hơn

Tác giả xin chân thành cám ơn

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Giới thiệu ý tưởng nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.4 Tóm tắt nội dung của đề tài 3

1.5 Đóng góp của nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 5

2.1 Khái quát về cạnh tranh và độc quyền 5

2.1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế thị trường 5

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm và cách xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 7

2.1.3 Quan điểm của các nước trên thế giới về độc quyền 12

2.2 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh 15

2.2.1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 17

2.2.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 15

2.2.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 21

CHƯƠNG 3:THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 24

3.1 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo pháp luật Việt Nam 24

3.1.1 Bán hàng hóa, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 24

3.1.2 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 30

3.1.3 Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý, giới hạn thị trường cản trở phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng 40

Trang 5

3.1.4 Áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các giao dịch như

nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng trong cạnh tranh 45 3.1.5 Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua,

bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng 47 3.1.6 Ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới 52 3.1.7 Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng 57 3.1.8 Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ

hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng 57

3.2 Vấn đề độc quyền Nhà nước ở Việt Nam 61 CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT

HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 76 4.1 Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 76

4.1.1 Về căn cứ xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 76 4.1.2 Về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 79 4.1.3 Về biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi lạm dụng vị trí độc

quyền 86 4.1.4 Về vấn đề độc quyền Nhà nước 87

4.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh 91 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VỀ LẠM DỤNG VỊ

TRÍ ĐỘC QUYỀN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

- Sinh viên thực hiện: 1 Nguyễn Thị Thiên Thanh (chủ nhiệm đề tài)

2 Nguyễn Hữu Hảo

3 Lê Huỳnh Tấn Long

- Lớp: LK09A3 Khoa: Kinh tế - Luật Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thúy Nga

2 Mục tiêu đề tài:

Mục tiêu của đề tài là nhằm phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan Ngoài ra, tác giả cũng trình bày

và đánh giá thực trạng áp dụng những quy định này trong thực tiễn giải quyết các

vụ việc về cạnh tranh Cuối cùng, đề tài nghiên cứu khoa học đề xuất những kiến nghị cụ thể trong việc sửa đổi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển chung của pháp luật quốc tế; đáp ứng yêu cầu hội nhập; góp phần bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp,

người tiêu dùng và hơn nữa là bảo vệ lợi ích chung cho xã hội

3 Tính mới và sáng tạo:

Trong thời gian qua, đã có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về vấn đề độc quyền và lạm dụng vị trí độc quyền Tuy nhiên, chưa có bài viết hoặc công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về vấn đề

Trang 8

“Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí độc quyền đáp ứng yêu cầu hội nhập” Việc nghiên cứu đề tài này với mục đích phân tích thực trạng hiện

nay và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định về lạm dụng vị trí độc quyền trong Luật cạnh tranh, góp phần điều tiết thị trường cạnh tranh, làm cho thị trường diễn ra theo những quy luật tất yếu của cạnh tranh; đảm bảo cho việc gia nhập thị trường được tự do và không có rào cản nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập

4 Kết quả nghiên cứu:

Trong đề tài này, tác giả phân tích và so sánh các quy định của pháp luật

về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và thực tiễn vận dụng Bên cạnh

đó, tác giả cũng nêu ra những ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng các quy định

về việc chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trong thực tiễn giải quyết một số

vụ việc cạnh tranh và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định này

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

Đề tài được triển khai nghiên cứu sẽ góp phần tìm ra các hạn chế trong quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành về vấn đề lạm dụng vị trí độc quyền

ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ đưa ra một số giải pháp dựa trên các quy định của pháp luật quốc tế và sự đối chiếu với quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Ngoài việc nâng cao kiến thức của người thực hiện, đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu Luật cạnh tranh của sinh viên chuyên ngành Luật, của các doanh nghiệp và những đối tượng có quan tâm đến Luật Cạnh tranh; đề tài cũng có những đóng góp thiết thực cho việc bổ sung, sửa đổi các quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành, góp phần hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay

Trang 9

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ

tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả

nghiên cứu (nếu có):

Ngày tháng năm

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 10

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên

thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày tháng năm

Xác nhận của đơn vị

(ký tên và đóng dấu)

Người hướng dẫn

(ký, họ và tên)

Trang 11

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN

CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thiên Thanh

Sinh ngày 12 tháng 1 năm 1991

Nơi sinh: Thành phố Buôn Ma Thuột

Khoa: Kinh tế - Luật

Địa chỉ liên hệ: 532 Quang Trung, Phường 11, Quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh Điện thoại: 0903984324 Email: thienthanh_120191@yahoo.com.vn

Trang 13

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu ý tưởng nghiên cứu

Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế đang phát triển và vẫn đang trong giai đoạn hội nhập, mở cửa để bước vào luật chơi quốc tế sòng phẳng và cạnh tranh khốc liệt hơn Điều rõ ràng nhất là sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, các doanh nghiệp trong nước đã phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường

Vào ngày 5 tháng 9 năm 2012, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã công

bố “Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu giai đoạn 2012 – 2013” Theo

đó, Việt Nam đứng thứ 75 trong số 144 nền kinh tế được xếp hạng, tụt 10 bậc so với năm trước Với công bố của WEF, Việt Nam trở thành nước đứng “áp chót” trong khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) về năng lực cạnh tranh – xếp vị trí trên Campuchia Các chuyên gia của WEF cho rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn mong manh và rất dễ biến động Chính vì vậy, một trong những vấn đề cần quan tâm của nước ta hiện nay là đòi hỏi các quy định của pháp luật nói chung và các quy định của pháp luật cạnh tranh nói riêng phải chặt chẽ hơn, hoàn thiện hơn để đảm bảo một môi trường cạnh tranh kinh tế tự do, lành mạnh bằng việc cấm lạm dụng vị trí độc quyền từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh sáng tạo, bảo vệ người tiêu dùng, đẩy mạnh sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân Bên cạnh đó, việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của hàng hóa và nhất là của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của hội nhập kinh tế quốc tế Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn trong chính sách cạnh tranh của Nhà nước, có nghĩa là phải giảm bớt độc quyền kinh doanh và những ảnh hưởng tiêu cực của nó phải được hạn chế một cách tối đa để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đầy đủ cơ hội tham gia, thi thố trên thị trường

Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hầu hết các tổ chức kinh tế quốc tế đều đòi hỏi một hệ thống thiết chế pháp lý cơ bản hoàn chỉnh và đủ mạnh để thiết lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ các nguồn đầu tư hợp pháp và loại bỏ các thủ đoạn bất hợp pháp Bởi, một khi thị trường còn là nơi để cho những thế lực độc quyền chi phối thì việc đầu tư trong và ngoài nước vào thị

Trang 14

trường nội địa sẽ là rất thấp và do đó sẽ làm cho quá trình hội nhập bị cản trở Nếu thật sự là như vậy, Luật Cạnh tranh chưa làm được nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu hội nhập của Việt Nam vào trong sân chơi quốc tế

Thời điểm ra đời của pháp luật kiểm soát độc quyền trên thế giới được thừa nhận rộng rãi là năm 1980 khi Đạo luật Sherman của Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ được thông qua Sau đó, Hoa Kỳ lần lượt ban hành nhiều đạo luật khác Ở Liên Minh châu Âu, các quy định về nguyên tắc cạnh tranh thuộc pháp luật kiểm soát độc quyền đã tồn tại từ năm 1957, tại Công ước thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (ký tại Rome ngày 25 tháng 3 năm 1957) Các quy định này góp phần mang lại hiệu quả rất lớn trong việc đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh

Dựa vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, việc chống lạm dụng vị trí độc quyền có ý nghĩa cả về mặt chiến lược và về mặt thời sự của pháp luật kiểm soát độc quyền Nhiệm vụ của chế định này là buộc các doanh nghiệp có vị trí độc

quyền không được lạm dụng “vị thế thượng tôn” của mình để gây ảnh hưởng tới

lợi ích của các doanh nghiệp khác cũng như lợi ích của người tiêu dùng và xã hội

Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, tác giả quyết định chọn đề tài

“Hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về lạm dụng vị trí độc quyền đáp ứng yêu cầu

hội nhập” để nghiên cứu nhằm góp một phần nhỏ vào quá trình hoàn thiện pháp

Luật Cạnh tranh nói chung và kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nói riêng cho phù hợp với khung pháp lý của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên

1.2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là nhằm phân tích các quy định của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan Ngoài ra, tác giả cũng trình bày

và đánh giá thực trạng áp dụng những quy định này trong thực tiễn giải quyết các

vụ việc về cạnh tranh Cuối cùng đề tài nghiên cứu khoa học đề xuất những kiến

Trang 15

nghị cụ thể trong việc sửa đổi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam phù hợp với xu hướng phát triển chung của pháp luật quốc tế; đáp ứng yêu cầu hội nhập; góp phần bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp, người tiêu dùng và hơn nữa là bảo vệ lợi ích chung cho xã hội.

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu cơ bản truyền

thống thuộc lĩnh vực pháp luật, bao gồm: phương pháp so sánh, phân tích, chứng

minh, giải thích và phương pháp tổng hợp Bằng các phương pháp nghiên cứu

nêu trên có thể làm rõ các khái niệm, các quy định của pháp luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và thực trạng áp dụng chúng để từ đó có được những đánh giá, những nhận xét đúng đắn cho đề tài Bên cạnh đó, trong đề tài còn có sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật quốc tế có liên quan để có thể đưa ra các giải pháp khắc phục những vướng mắc, tồn tại và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật nước ta trong lĩnh vực này

1.4 Tóm tắt nội dung của đề tài

Nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Mở đầu

Phần này gồm các nội dung: giới thiệu ý tưởng nghiên cứu, mục tiêu của

đề tài, phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả tóm tắt sơ lược nội dung của đề tài và đóng góp của đề tài khi thực hiện nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Phần này đưa ra một số khái niệm cơ bản liên quan đến hành vi lạm dụng

vị trí độc quyền của pháp luật Việt Nam; pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada cũng như Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc Phần này cũng trình bày những vấn đề pháp lý liên quan đến các hành vi

cụ thể của việc lạm dụng vị trí độc quyền; cách thức xử lý vi phạm của cơ quan

có thẩm quyền đối với loại hành vi này

Trang 16

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Với phần này, tác giả phối hợp phân tích và so sánh các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và thực tiễn vận dụng, những

ưu điểm và hạn chế của việc áp dụng các quy định về việc chống hành vi lạm dụng vị trí độc quyền trong thực tiễn giải quyết một số vụ việc cạnh tranh Tác giả cũng phân tích những nguyên nhân của các hạn chế nhằm tạo cơ sở cho việc

đề xuất những kiến nghị trong Chương 4

Chương 4: Phương hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng

vị trí độc quyền

Đây là phần mà tác giả dựa trên những phân tích và đánh giá được trình bày trong các chương trước để đưa ra những kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát độc quyền

Chương 5: Kết luận

Tác giả tóm tắt những vấn đề mà đề tài nghiên cứu đã đạt được và mở ra hướng nghiên cứu để có thể tiếp tục phát triển vấn đề

1.5 Đóng góp của nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu sẽ góp phần tìm ra các hạn chế trong quy định của pháp luật cạnh tranh hiện hành về vấn đề lạm dụng vị trí độc quyền

ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, đề tài cũng sẽ đưa ra một số giải pháp dựa trên các quy định của pháp luật quốc tế và sự đối chiếu với quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Việc nghiên cứu đề tài ngoài việc nâng cao kiến thức của người thực hiện còn có thể là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của những đối tượng quan tâm đến Luật Cạnh tranh; cho việc chỉnh sửa bổ sung các quy định của pháp luật cạnh tranh nói chung và trong lĩnh vực nghiên cứu nói riêng để từ đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của toàn xã hội, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG

VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 2.1 Khái quát về cạnh tranh và độc quyền

2.1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế thị

trường

Cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Sự cạnh tranh cũng xác định tính phù hợp trong các hoạt động của doanh nghiệp để đạt đến kết quả sau cùng, chẳng hạn như cải tiến, liên kết văn hóa hoặc sự thực thi đúng đắn Tuy nhiên, không phải trong nền kinh tế nào cạnh tranh cũng xuất hiện Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong cơ chế kinh tế nhất định – cơ chế thị trường – nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu đa thành phần, quyền tự do ý chí trong đó có tự do kinh doanh của cá nhân, tổ chức Có tự

do cạnh tranh, nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của

nó và phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Mặt khác, pháp luật cũng phải bảo đảm trên thị trường sẽ không tồn tại bất kỳ một rào cản nào từ quản lý hành chính hay của các chủ thể kinh doanh có sức mạnh thị trường đối với các doanh nghiệp tiềm năng, chuẩn bị hoặc mới gia nhập thị trường.1

Với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học Theo đó, với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’s Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” Hay với tư cách là hiện tượng xã hội, cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa cạnh tranh là “sự ganh

1 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2009), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, trang 7.

Trang 18

đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.2

Cạnh tranh thường chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp có sự độc lập về lợi ích với nhau Các doanh nghiệp cung cấp cùng một loại hàng hóa, dịch vụ hoặc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ tương tự trên một thị trường được gọi là đối thủ cạnh tranh của nhau Thông thường, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng nhiều cách thức khác nhau Các doanh nghiệp có thể cạnh tranh với nhau về giá bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ; cạnh tranh với nhau về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã; cạnh tranh dịch vụ hậu mãi (bảo hành, tư vấn khách hàng); hoặc cạnh tranh bằng các chương trình quảng cáo, khuyến mại.3

Vì vậy, cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp cải tiến thiết bị, công nghệ, phương thức quản lý để ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và của doanh nghiệp của mình

Trong kinh tế, chức năng của cạnh tranh phục vụ cho việc điều chỉnh thị trường, làm cho thị trường diễn ra theo những quy luật tất yếu của cạnh tranh, đồng thời làm tăng các giá trị kinh tế trong xã hội Cạnh tranh giúp điều chỉnh và định hướng cho việc kinh doanh sản phẩm và dịch vụ phù hợp với những yêu cầu dựa trên khả năng tài chính của khách hàng hay người tiêu dùng và các quy định xét về mặt cầu (với điều kiện phải mở cửa thị trường ở cả cung và cầu) Cạnh tranh tự động điều chỉnh các kế hoạch và quyết định kinh tế của các chủ thể tham gia thị trường Cạnh tranh làm cho các nguồn lực sản xuất như vốn, công nghệ, lao động…được áp dụng, sử dụng một cách có hiệu quả và có lợi nhất, tránh lãng phí Bên cạnh đó, cạnh tranh là một quá trình lựa chọn và loại bỏ những chủ thể kinh doanh kém hiệu quả, đồng thời mở ra cơ hội cho những chủ thể mới hiệu quả, năng động hơn gia nhập thị trường Ngoài ra, cạnh tranh công bằng sẽ làm giảm việc tích lũy quyền lực kinh tế, làm giảm việc tập trung kinh tế; có tác dụng tích cực làm cho chất lượng hàng hóa, dịch vụ ngày càng tốt hơn, giá cả hàng hóa

Nguyễn Văn Cương, Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình

luận về Luật Cạnh tranh của Việt Nam (2006), Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, trang 9

Trang 19

thấp hơn, có lợi cho người tiêu dùng, làm cho người dân tin vào thị trường, vào quá trình cạnh tranh và nhờ đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu không kiểm soát hợp lý, độc quyền có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định của môi trường kinh doanh Thị trường độc quyền là thị trường không có cạnh tranh Đối với độc quyền, người ta thường phải phòng ngừa từ xa hoặc có biện pháp tác động thích hợp thông qua pháp luật để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó nếu độc quyền xảy ra, chẳng hạn như việc lạm dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp có được vị trí độc quyền. 4

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm và cách xác định doanh nghiệp có vị trí

độc quyền

Trong bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không có sự quản lý, điều tiết hiệu quả bằng chính sách, luật pháp thì rất dễ làm phát sinh độc quyền Khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường thì quá trình tích tụ tư bản dẫn tới sự hình thành các tập đoàn kinh tế có khả năng chi phối hoạt động kinh doanh, sản xuất, cung ứng và giá cả trên thị trường Độc quyền có thể hình thành

từ việc doanh nghiệp có ưu thế về vốn, quy mô sản xuất, thậm chí quyền lực chính trị, xã hội để độc quyền sản xuất, hay nhập khẩu một loại sản phẩm nhất định Độc quyền có thể có được từ việc doanh nghiệp có ưu thế về kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất và kinh doanh.5 Vì thế, một khi doanh nghiệp có được vị trí độc quyền, doanh nghiệp đó sẽ có một quyền lực nhất định và có những lợi thế lớn trên thị trường Do đó, việc đạt được vị trí độc quyền cũng là động lực, mục tiêu của doanh nghiệp nói chung khi tiến hành hành vi cạnh tranh trên thị trường

Theo nguyên lý kinh tế học, trong môi trường cạnh tranh có 4 dạng cấu trúc thị trường, bao gồm: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, độc quyền nhóm, độc quyền Cạnh tranh có xu hướng dẫn tới độc quyền trong một khu vực thị trường đối với một loại hàng hóa, sản phẩm nhất định mang tính khách quan, tất yếu theo bản chất kinh tế Lợi nhuận thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành

4 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2009), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, trang 9 – 13

5

Trịnh Minh Anh, “Triển khai Luật Cạnh tranh trong thực tiễn nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế

quốc tế”, Tòa án nhân dân tối cao

Trang 20

kinh doanh; cạnh tranh thôi thúc các doanh nghiệp phải phát triển tiềm lực cạnh tranh thực có của mình để tạo ưu thế cạnh tranh

Loại thị trường Số lượng doanh nghiệp Loại sản phẩm Ví dụ

Độc quyền

nhóm Vài doanh nghiệp

Bóng tennis, dầu thô Cạnh tranh

độc quyền Nhiều doanh nghiệp Sản phẩm phân biệt

Tiểu thuyết, phim Cạnh tranh

hoàn hảo Nhiều doanh nghiệp Sản phẩm như nhau Lúa mì, sữa

Bảng 2.1: Cấu trúc thị trường Khi xác định cấu trúc thị trường, câu hỏi đầu tiên là có bao nhiêu doanh nghiệp trên thị trường Theo đó, nếu chỉ có một doanh nghiệp thì đó là thị trường độc quyền Nếu có vài doanh nghiệp, thì đó là thị trường độc quyền nhóm Khi

có nhiều doanh nghiệp, nếu các doanh nghiệp này bán sản phẩm khác biệt thì đó

là thị trường cạnh tranh độc quyền; còn nếu nhiều doanh nghiệp bán sản phẩm

giống hệt nhau thì đó là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Như vậy, độc quyền

nhóm hay được coi là vị trí thống lĩnh thị trường – đây là thị trường chỉ có một

vài người bán, mỗi người bán sản phẩm tương tự hay giống hệt sản phẩm của người khác Ví dụ như thị trường dầu thô - Một vài nước ở Trung Đông kiểm soát phần lớn trữ lượng dầu mỏ của thế giới6; hay như 3 lĩnh vực sản xuất trong

10 lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam được nghiên cứu là bột giặt (mức độ tập trung độc quyền nhóm cao nhất với 3 doanh nghiệp đã nắm giữ trên 98% thị phần), dầu thực vật (có 3 doanh nghiệp nắm 80,44% thị phần), ô tô tải (có 3 doanh nghiệp nắm giữ trên 65% thị phần), và 2 lĩnh vực dịch vụ là bảo hiểm phi nhân thọ (có 3 doanh nghiệp dẫn đầu nắm giữ thị phần là 76,7%) và truyền hình trả tiền (có 3 doanh nghiệp nắm giữ thị phần 65%) cũng đang tồn tại độc quyền nhóm7 Theo

Trang 21

quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam, sở dĩ cần phân biệt rõ doanh nghiệp thống lĩnh và doanh nghiệp độc quyền để điều chỉnh là do có một số hành vi mà chỉ doanh nghiệp độc quyền mới có thể thực hiện hoặc chỉ doanh nghiệp độc quyền thực hiện mới gây ảnh hưởng tiêu cực cho thị trường và người tiêu dùng

Còn cạnh tranh độc quyền là dạng cấu trúc thị trường trong đó có nhiều

doanh nghiệp bán các mặt hàng tương tự, nhưng không giống hệt nhau như thị trường tiểu thuyết, phim ảnh, đĩa CD và trò chơi điện tử Trên thị trường cạnh tranh độc quyền, mỗi doanh nghiệp có sự độc quyền về sản phẩm, nhưng nhiều doanh nghiệp khác cũng sản xuất ra sản phẩm tương tự và cạnh tranh để giành giật những khách hàng như nhau

Tuy nhiên, trong bài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ở dạng thị trường độc quyền theo quy định tại Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2004 – nơi mà doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Với định nghĩa về doanh nghiệp có vị trí độc quyền này thì đây là một

vị trí mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể chi phối toàn bộ thị trường liên quan Do

đó, khi xác định vị trí độc quyền, cần:

- Xác định thị trường liên quan;

- Xác định số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường Nếu kết luận đưa ra là chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền Các bước phân tích về doanh thu, doanh số… để xác định tổng thị phần của thị trường sẽ không còn cần thiết.8

Theo đó, xác định thị trường liên quan là bước mang tính quyết định giúp đánh giá được sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp có được – xác định giới hạn

về hàng hóa, dịch vụ và khu vực địa lý mà các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau

Để xác định có cạnh tranh xảy ra giữa hai hoặc nhiều sản phẩm thì điều đầu tiên cần xác định được là giữa những sản phẩm đó cùng tồn tại một thị trường chung Thị trường chung đó được gọi là thị trường liên quan

8 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2010), Nhà xuất

bản Dân trí, trang 117

Trang 22

Thực tế cho thấy, rất hiếm khi tồn tại một thị trường mà các sản phẩm lại

có thể thay thế hoàn toàn cho nhau vì nếu như các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế hoàn toàn cho nhau thì người tiêu dùng có thể lựa chọn bất cứ doanh nghiệp nào trong số các doanh nghiệp đang cung cấp sản phẩm trên thị trường Trong khi đó, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để dị biệt hoá sản phẩm của mình trước thói quen tiêu dùng của khách hàng Khi đó, các sản phẩm chỉ còn có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau theo sự lựa chọn của khách hàng Vì thế, xác định thị trường liên quan là xác định số lượng doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị trường nhất định

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh ở nước ta, thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan:

- Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ

có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.9

- Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự

và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.10

Mục đích của việc xác định thị trường trên cả hai phương diện này nhằm xác định các đối thủ cạnh tranh thực sự của doanh nghiệp có vị trí độc quyền Mặt khác, việc xác định thị trường liên quan sẽ hỗ trợ việc tính toán thị phần (không tính đến các yếu tố khác), qua đó xác định được sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp có liên quan đối với hành vi hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp có thị phần thấp thường không sở hữu sức mạnh thị trường đáng kể, mặc

dù về nguyên tắc, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có một sức mạnh thị trường riêng của mình dù ít hay nhiều.11

Trang 23

Việc xác định thị trường liên quan phụ thuộc vào những sản phẩm nào trong thị trường nào có thể thay thế cho nhau Trong trường hợp có 2 sản phẩm thay thế hoàn hảo cho nhau, nhà sản xuất sẽ không có sức mạnh thị trường, sẽ không khai thác tính độc quyền bằng việc tăng giá sản phẩm vì người tiêu dùng

sẽ chuyển sang dùng sản phẩm thay thế Có hai khía cạnh của tính thay thế cho nhau Thay thế về cầu liên quan đến khả năng người sử dụng sản phẩm chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Thay thế về cung liên quan đến khả năng người cung cấp sản phẩm tương tự sản xuất ra sản phẩm Khi xác định thị trường liên quan, cần phải xem xét cả hai khía cạnh thay thế về cung và thay thế về cầu

Xét từ góc độ kinh tế, đối với việc xác định thị trường liên quan, sự thay thế về cầu tạo ra áp lực nhanh và hiệu quả nhất đối với các nhà cung cấp của một sản phẩm nhất định, nhất là trong việc định giá sản phẩm Một công ty hoặc một nhóm các công ty không thể có bất kỳ một tác động đáng kể nào đối với những điều kiện hiện chiếm ưu thế của việc bán hàng (như là tác động về giá cả) nếu khách hàng tiêu dùng của họ dễ dàng chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế hoặc chuyển sang mua sản phẩm của các nhà cung cấp khác Như vậy ở đây việc xác định thị trường liên quan là việc nhận dạng nguồn cung cấp có thể thay thế hiệu quả đối với khách hàng của công ty cả về mặt sản phẩm (hoặc dịch vụ) và cả

về vị trí địa lý của nhà cung cấp

Sự thay thế về nguồn cung nói chung ít tạo ra sức ép trực tiếp như từ sự thay thế về cầu và trong bất kỳ trường hợp nào cần phân tích thêm những nhân tố

bổ sung khác

Ngoài ra, việc xác định thị trường liên quan có thể được thực hiện thông qua phép thử nhà độc quyền giả định hay còn gọi là phép thử SSNIP Phép thử này nhằm kiểm tra xem một nhà độc quyền giả định có thể tăng giá bán sản phẩm trong một khoảng thời gian liên tục nhất định mà vẫn thu được lợi nhuận hay không.Khi sử dụng phép thử SSNIP để xác định thị trường sản phẩm liên quan,

cơ quan cạnh tranh sẽ xác định được một hoặc một nhóm sản phẩm, trong đó, nhà độc quyền giả định có thể tăng giá bán, ít nhất là ở mức SSNIP (mức tăng giá tối thiểu đủ để khách hàng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế khác), mà vẫn

Trang 24

thu được lợi nhuận trong điều kiện các yếu tố thị trường khác không đổi Khu vực địa lý liên quan cũng có thể được xác định thông qua phép thử SSNIP khi nhà độc quyền có thể tăng giá bán trong một khu vực địa lý nhất định trong khi các yếu tố thị trường khác không đổi Khi nhà độc quyền giả định có chính sách phân biệt giá bán sản phẩm cho các đối tượng khách hàng khác nhau hoặc trong từng khu vực địa lý nhất định, cơ quan cạnh tranh cần cân nhắc thu hẹp thị trường liên quan tương ứng với từng nhóm khách hàng hoặc từng khu vực địa lý

cụ thể Ngoài ra, cũng cần đánh giá khả năng thay thế về cung, để giới hạn đối tượng đánh giá chỉ bao gồm các doanh nghiệp tham gia trên thị trường liên quan hay mở rộng, tính đến cả các doanh nghiệp có khả năng sẽ gia nhập thị trường đó trong một thời gian ngắn mà không phát sinh nhiều chi phí chìm, sau khi có sự biến động về giá trên thị trường liên quan.12

2.1.3 Quan điểm của các nước trên thế giới về độc quyền

Doanh nghiệp độc quyền là một trường hợp đặc biệt của doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh Thêm vào đó, độc quyền tự nhiên – độc quyền có được bằng quá trình phát triển, cạnh tranh hợp pháp của doanh nghiệp chứ không phải bằng các biện pháp của Nhà nước – ngày nay hầu như không tồn tại trong thực tiễn kinh doanh (chống hình thành các công ty độc quyền cũng là mục tiêu của Luật chống hạn chế cạnh tranh), nên EU và Luật chống hạn chế cạnh tranh của các nước phát triển không còn dùng khái niệm độc quyền, mà chỉ dùng khái niệm “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường” Do đó thường không có quy định về độc quyền trong Luật chống hạn chế cạnh tranh Độc quyền ngày nay chỉ có thể là độc quyền Nhà nước, là ngoại lệ đặc biệt và vì vậy nó phải được kiểm soát một cách đặc biệt.13

Theo đó, vị trí độc quyền xuất hiện khi trên thị trường chỉ có một doanh nghiệp đang kinh doanh một lĩnh vực hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường liên

Nguyễn Vân Nam, “Ban hành Luật về độc quyền Nhà nước là cấp bách” (22/8/2009), Bài viết của GS

TS Nguyễn Vân Nam.

Trang 25

quan Như vậy, vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường

và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường

Trong Mục 2 của Luật Chống độc quyền Sherman Act của Hoa Kỳ, sức mạnh độc quyền được hiểu là “doanh nghiệp có khả năng định giá cao hơn đáng

kể so với mức giá cạnh tranh và cố tình gây ra hành vi này trong khoảng thời gian nhất định nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh mới gia nhập hoặc mở rộng thị trường”.14

Theo đó, doanh nghiệp có vị trí độc quyền luôn phản ảnh một sức mạnh thị trường hay còn gọi là quyền lực thị trường nhất định Theo cuốn từ điển kinh

tế học hiện đại, “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua” Tiếp thu những giá trị truyền thống trong lý thuyết cạnh tranh và các học thuyết kinh tế, pháp luật Canada coi

“quyền lực thị trường là khả năng giữ giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm” Trong khi đó, pháp luật của Cộng hòa Pháp sử dụng đồng thời cả cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách tiếp cận mang tính thực tiễn Cách tiếp cận thứ nhất đã áp dụng định nghĩa trừu tượng mà các án lệ đã đưa ra: “doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh thực chất, không chịu ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường đó” Do đó, thay vì phải tuân theo quy luật trên thị trường, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền có thể tự làm luật trên thị trường đó Cách tiếp cận thực tiễn được hình thành từ triết lý cho rằng: “người lạm dụng không hẳn là người muốn lạm dụng, nhưng người lạm dụng chắc chắn phải là người có khả năng lạm dụng” Thế nên, người ta thừa nhận sự tồn tại của vị trí thống lĩnh hay độc quyền trên thị trường đó xuất hiện những hành vi mà nếu có cạnh tranh thực chất thì những hành vi đó đã không thể thực hiện được

Tuy vậy, việc đánh giá sức mạnh thị trường phải gắn liền trong mối quan

hệ với thị trường liên quan cụ thể, không thể mang tính chất trừu tượng chung

14 “Báo cáo rà soát các quy định Luật Cạnh tranh Việt Nam”, Cục quản lý cạnh tranh.

Trang 26

chung Điều này có nghĩa bản thân doanh nghiệp phải có vị trí dẫn đầu trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh của mình Bên cạnh đó, cần phân biệt rõ ràng giữa khái niệm “sức mạnh thị trường” và “sức mạnh thị trường đáng kể” Sức mạnh thị trường được hiểu là khả năng doanh nghiệp có thể thực hiện hành

vi kiểm soát giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Tuy khác nhau về mức độ nhưng sức mạnh thị trường và sức mạnh thị trường đáng kể (hoặc có vị trí thống lĩnh) có mối quan hệ với nhau Theo Mục 2 của Đạo luật Sherman Act của Hoa

Kỳ, sức mạnh độc quyền đòi hỏi mức độ đáng kể về mức mạnh thị trường nhằm kiểm soát giá hoặc loại trừ cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, sức mạnh độc quyền cũng tồn tại trong khoảng thời gian dài và không chỉ mang tính chất tạm thời Xét theo Điều 102 Hiệp ước về chức năng của Liên minh Châu Âu (TFEU),

vị trí thống lĩnh là việc doanh nghiệp có khả năng ngăn cản cạnh tranh hiệu quả đang tồn tại trên thị trường và hành động độc lập so với các đối thủ cạnh tranh.Khái niệm về tính độc lập, đặc trưng cho vị trí độc quyền/chi phối của doanh nghiệp trên thị trường, có liên quan đến mức độ hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có khả năng gây ra Khi có vị trí thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp/ nhóm doanh nghiệp đó không hẳn thuộc đối tượng gây cản trở cạnhtranh hiệu quả Nói cách khác, doanh nghiệp cần phải có được sức mạnh đáng kể trên thị trường, chứ không chỉ đơn thuần có sức mạnh thị trường.15

Trong pháp luật cạnh tranh của các nước như Hoa Kỳ hay Liên minh châu

Âu, để xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, cơ quan cạnh tranh thường phải tiến hành những nghiên cứu toàn diện và phức tạp dựa trên việc phân tích rất nhiều yếu tố như cấu trúc thị trường (tổng số các doanh nghiệp đang cạnh tranh trên thị trường liên quan), thị phần, tỷ lệ tập trung, chỉ số HHI (viết tắt của Herfindhal-Hirschman Index, chỉ số này được tính bằng tổng của bình phương thị phần của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan và cho biết mức độ tập trung trên thị trường đó), rào cản gia nhập thị trường, rào cản mở rộng thị trường, sức mạnh của người mua, khả năng loại bỏ cạnh tranh… Trong khi đó, Luật Cạnh tranh của Việt Nam, thị phần đóng vai trò trung tâm trong việc

15 “Báo cáo rà soát các quy định Luật Cạnh tranh Việt Nam”, Cục quản lý cạnh tranh.

Trang 27

đánh giá sức mạnh thị trường Các cơ quan cạnh tranh Việt Nam chủ yếu căn cứ vào yếu tố thị phần và cấu trúc thị trường để suy đoán sức mạnh thị trường của doanh nghiệp Yếu tố rào cản thị trường cũng được tập trung phân tích nhưng việc phân tích này là nhằm xác định thị trường địa lý liên quan chứ không phải

để đánh giá sức mạnh thị trường.16

Dù có sự khác nhau trong quan niệm về quyền lực thị trường, song pháp luật của các nước đều thống nhất rằng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác và đem lại khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng Những lợi thế cạnh tranh có thể là khả năng kiểm soát các yếu tố của thị trường (như nguồn nguyên liệu, giá cả, số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng; khả năng tài chính; thói quen tiêu dùng của khách hàng…) và các yếu tố tạo ra địa vị không ngang bằng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó (bao gồm cả đối thủ tiềm năng) Do đó, doanh nghiệp có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây khó khăn cho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc ngăn cản việc gia nhập thị trường Đối với khách hàng, vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đã khẳng định địa vị quan trọng của doanh nghiệp trong cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu chủ yếu của thị trường Vì thế, quyền lựa chọn của khách hàng bị hạn chế, nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột khách hàng bằng cách đặt ra những điều kiện giao dịch không công bằng

2.2 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh

2.2.1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh

16 Lưu Hương Ly, “Đánh giá sức mạnh thị trường trong Luật Cạnh tranh năm 2004”, Nghiên cứu lập

pháp

Trang 28

tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường Theo đó, việc kiểm soát và xử lý các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật cạnh tranh nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử

Về nguyên tắc, việc hình thành vị trí độc quyền trên thị trường không bị cấm cũng như những quy định pháp lý dẫn tới việc hình thành doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh, độc quyền là hoàn toàn phù hợp mà vấn đề quan trọng là khi hình thành vị trí đó, doanh nghiệp có lạm dụng vị trí đó để cạnh tranh và thực hiện những hành vi quy định tại Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì mới vi phạm pháp luật

Luật Cạnh tranh của Việt Nam không đưa ra định nghĩa mà liệt kê cụ thể các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh Pháp luật của một

số nước (điển hình là Canada) cũng không đưa ra khái niệm chung mà liệt kê 11 hành vi bị coi là vi phạm pháp luật chống lạm dụng vị trí độc quyền theo quy định tại Điều 78 Luật Cạnh tranh Canada Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh Canada còn cho phép cơ quan có thẩm quyền xử lý những hành vi chưa được pháp luật

liệt kê nhưng thỏa mãn cấu thành pháp lý của hành vi lạm dụng theo Điều 79: (i)

một hoặc nhiều người kiểm soát một cách đáng kể hoặc hoàn toàn trên khắp Canada hoặc một phần nào đó của Canada, một loại hoạt động kinh doanh; (ii)

đã tham gia hoặc đang tham gia vào một hành vi phản cạnh tranh; (iii) hành vi

đó đã, đang hoặc có thể có ảnh hưởng làm ngăn ngừa hoặc giảm cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường17

Mặt khác, theo Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông qua ngày 22/4/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD), tùy thuộc từng trường hợp

và cách giải quyết của cơ quan có thẩm quyền mà hành vi đó có bị coi là hành vi

lạm dụng vị trí độc quyền hay không: “hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc

độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị

17 Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) – Bộ thương mại Việt Nam (MOT), Luật Cạnh tranh

Canada và bình luận, Hà Nội 7-2004, trang 219

Trang 29

trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh” Bên cạnh khái niệm, hai văn bản này cũng liệt kê cụ thể các hành vi

bị coi là lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh Như vậy, các quy định trong pháp luật của các nước và các tổ chức quốc tế về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đều liệt kê và mô tả dấu hiệu pháp lý của các hành vi cụ thể; đặt ra các điều kiện để xử lý doanh nghiệp có hành vi vi phạm Việc đưa ra khái niệm có ý nghĩa lý luận, phục vụ cho công tác nghiên cứu và cho việc nhận thức về bản chất của nhóm hành vi này Còn các quy định liệt kê cụ thể các hành vi lạm dụng

vị trí độc quyền nhằm đảm bảo cho công tác áp dụng pháp luật được thực hiện

một cách công bằng và hiệu quả Theo đó, hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là

những hành vi do doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện nhằm duy trì vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng 18

2.2.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Trong vụ việc liên quan đến lạm dụng vị trí độc quyền, sau khi xác định thị trường liên quan cần xác minh xem có doanh nghiệp nào khác kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên cùng thị trường liên quan không để giải quyết vấn đề là liệu doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền hay không Sau đó cần làm sáng tỏ là hành vi đang bị khiếu nại có thuộc các trường hợp bị cấm không 19

. Chính vì vậy, đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bao gồm:

Về mặt chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng vị trí độc quyền:

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp thường có quy

mô nhỏ, không có quyền lực thị trường và luôn chịu áp lực gia nhập ngành dễ dàng của các doanh nghiệp mới tiềm năng Trong khi đó, doanh nghiệp độc quyền là người sản xuất duy nhất trên thị trường, không chịu áp lực từ việc gia

Trịnh Minh Anh, “Triển khai Luật Cạnh tranh trong thực tiễn nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế

quốc tế”, Tòa án nhân dân tối cao

Trang 30

nhập ngành của các đối thủ tiềm năng, có quyền lực thị trường lớn Do đó, doanh nghiệp độc quyền một khi đã nắm được thị trường thì hoàn toàn có thể chi phối toàn

bộ thị trường liên quan – có khả năng kiểm soát, định đoạt sản lượng cung ứng và mức giá thị trường Như vậy, việc hình thành vị trí độc quyền không phải trái pháp luật mà chỉ khi nào doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó để cạnh tranh mới là vi phạm pháp luật Chính vì vậy, chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng vị trí độc quyền phải là doanh nghiệp có vị trí độc quyền

Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan20

Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp có vị trí

độc quyền và trên cơ sở đó kiểm soát hành vi bị coi là lạm dụng vị trí độc quyền

của doanh nghiệp

Khi xem xét vụ việc liên quan đến lạm dụng vị trí độc quyền, trước tiên cần phải xác định thị trường liên quan, sau đó cần xác minh xem có doanh nghiệp nào khác kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cùng trên thị trường liên quan không để giải quyết vấn đề là liệu doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền hay không Khi đã khẳng định doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền thì cần làm sáng tỏ là hành vi đang bị khiếu nại có thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định tại điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2004 không.21

Trịnh Minh Anh, “Triển khai Luật Cạnh tranh trong thực tiễn nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế

quốc tế”, Tòa án nhân dân tối cao.

Trang 31

trường cạnh tranh không vận hành theo đúng quy luật, hoặc bị cản trở, hoặc bị tiêu diệt; pháp luật cần can thiệp để tái thiết lập các điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh hoạt động trở lại

Các hành vi vi phạm pháp luật dưới hình thức lạm dụng sức mạnh thị trường quy định tại Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2004 bao gồm: Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng; Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh; Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới; Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng

Vì cấu thành vi phạm pháp luật trong trường hợp lạm dụng sức mạnh thị trường tồn tại dưới dạng cấu thành hình thức, nghĩa là bản thân hành vi khi được thực hiện đã chứa đựng yếu tố phản cạnh tranh, do vậy không cần phải xác định hậu quả do hành vi gây ra trên thực tế trong cấu thành vi phạm Bên cạnh đó, nếu hành vi trên do doanh nghiệp bình thường thực hiện thì không thể kết luận đó là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Mặt khác, pháp luật không cấm một doanh nghiệp nỗ lực kinh doanh để đạt được vị trí độc quyền mà chỉ cấm việc doanh nghiệp đạt được các vị trí đó nhờ vào tập trung kinh tế Trong trường hợp vị trí độc quyền có được nhờ vào kết quả kinh doanh thì pháp luật chỉ ngăn cấm việc doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó để thực hiện các hành vi phản cạnh tranh Như vậy, các quy định trên đã đưa ra một ranh giới ứng xử về cạnh tranh cho các doanh nghiệp có vị trí độc quyền. 22

22 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2010), Nhà xuất

bản Dân trí, trang 107

Trang 32

Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền không thể áp dụng các biện pháp xử

lý nếu các doanh nghiệp chưa vượt quá giới hạn cho phép và ngược lại Vì vậy,

có thể kết luận rằng cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể xử lý doanh nghiệp về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền khi chứng minh đủ hai điều kiện sau:

- Doanh nghiệp bị điều tra có vị trí độc quyền;

- Doanh nghiệp đó đã, đang thực hiện một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh kể trên

Về hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền:

Doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng vị trí độc quyền nhằm duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc nhằm thu lợi ích độc quyền từ việc bóc lột khách hàng Do đó, việc thực hiện hành vi có thể gây ra những thiệt hại cho một số đối tượng cụ thể, song nghiêm trọng hơn là làm suy giảm, cản trở tình trạng cạnh tranh của thị trường (làm cản trở cạnh tranh lành mạnh, giảm động lực phát triển của nền kinh tế và hạn chế tự do kinh doanh) Với các hành vi quy định tại điều

14 Luật Cạnh tranh năm 2004, hậu quả hạn chế cạnh tranh đã được chuyển hóa trong những dấu hiệu pháp lý của từng hành vi lạm dụng Chính vì thế, hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền không phải là một trong những yếu tố cấu thành nên hành vi lạm dụng, mà yếu tố hậu quả chỉ là căn cứ để phân biệt hành vi lạm dụng với hiện tượng tập trung kinh tế Tập trung kinh tế được Luật cạnh tranh quy định bao gồm bốn hành vi (sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh) Thực chất, bốn hành vi này tạo thành những chiến lược của các doanh nghiệp tập trung các nguồn lực hiện có bằng cách tập trung hoặc liên kết những yếu tố về vốn, thị trường, lao động… từ các doanh nghiệp tham gia nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và cạnh tranh, hình thành nên các thế lực độc quyền mà không thông qua sự tích tụ dần từ hiệu quả kinh tế Từ đó, khả năng làm giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế được chứng minh trên cơ sở những suy đoán về việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh có thể tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường làm thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường

Trang 33

Trong khi đó, hành vi lạm dụng gây ra hậu quả là những thiệt hại về lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu.23

2.2.3 Phân loại hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền được pháp luật của các quốc gia tiếp cận một cách khác nhau Điều 78 Luật cạnh tranh Canada đã sử dụng phương pháp liệt kê những hành vi lạm dụng, song thực tiễn áp dụng cho thấy, Cục cạnh tranh và Tòa cạnh tranh Canada còn chấp nhận một số hành vi không được liệt kê trong điều 78 nếu thỏa mãn ba điều kiện theo quy định tại điều 79 như đã được

đề cập ở phần trên Tương tự, Hội đồng cạnh tranh của Cộng hòa Pháp đã thừa nhận rằng một số hành vi dù không thuộc diện bị cấm nhưng vẫn có thể bị coi là cản trở đối với sự vận hành bình thường của thị trường vì có động cơ phản cạnh tranh rõ rệt.24 Về vấn đề này, pháp luật nước ta, cụ thể là theo điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ liệt kê các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh:

- Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

- Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;

- Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

- Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới;

- Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng;

Trang 34

- Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng

đã giao kết mà không có lý do chính đáng

Căn cứ vào tính chất và mục đích của chủ thể thực hiện, có thể chia các hành vi lạm dụng thành ba nhóm hành vi sau đây:

Nhóm hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột khách hàng: Đây

là nhóm hành vi của doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan đã

áp đặt những điều kiện thương mại bất lợi cho khách hàng nhằm thu lợi nhuận độc quyền Đối tượng mà nhóm hành vi này hướng đến là khách hàng của doanh nghiệp phát sinh trong quan hệ giữa doanh nghiệp có vị trí độc quyền với khách hàng Bên cạnh đó, do sức hấp dẫn của lợi nhuận độc quyền, doanh nghiệp có sức mạnh thị trường luôn tìm cách đạt được và duy trì vị thế độc quyền của mình

Do đó, trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền có xu hướng trục lợi từ vị thế, sức mạnh thị trường của mình để thu lợi; hay loại bỏ đối thủ cạnh tranh, đóng cửa thị trường nhằm duy trì, tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường Trong cả hai trường hợp, hành vi của doanh nghiệp đều gây ra các tác động tiêu cực cho nền kinh tế và tất nhiên người tiêu dùng là đối tượng phải trực tiếp gánh chịu hậu quả Theo đó, nhóm hành vi này bao gồm các hành vi sau đây:

- Áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

- Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;

- Hành vi áp đặt các điều kiện thương mại khác nhau cho các giao dịch như nhau nhằm tạo sự bất bình đẳng trong cạnh tranh;

- Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng

Nhóm hành vi lạm dụng gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh: đây là

những hành vi do doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện nhằm kìm hãm cạnh tranh bằng cách loại bỏ, ngăn cản đối thủ tham gia thị trường để duy trì, củng cố quyền lực thị trường Đối tượng mà nhóm hành vi này hướng đến là đối thủ cạnh tranh – có thể là các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hoặc các

Trang 35

đối thủ tiềm năng (bao gồm những doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường khác và những nhà đầu tư có ý định tham gia vào thị trường liên quan của doanh nghiệp) Nhóm hành vi này có thể không đem lại lợi ích vật chất trực tiếp nhưng tạo cơ hội cho doanh nghiệp củng cố địa vị bằng cách loại bỏ đối thủ Sự ra đi hoặc việc từ bỏ ý định gia nhập thị trường sẽ giảm bớt sức ép cạnh tranh cho doanh nghiệp, đồng thời khách hàng sẽ mất đi cơ hội có được sự lựa chọn trong giao dịch trên thị trường liên quan25 Nhóm hành vi này bao gồm hai hành vi là:

- Hành vi bán hàng hoá, dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

- Hành vi ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới

Nhóm hành vi có thể vừa gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh vừa gây thiệt hại cho khách hàng: nhóm hành vi này bao gồm các hành vi sau:

- Hành vi áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

- Buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

- Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng

đã giao kết mà không có lý do chính đáng

25 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2010), Nhà xuất

bản Dân trí, trang 132

Trang 36

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 3.1 Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền theo pháp luật Việt

Nam

Khi có được vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn có xu hướng lạm dụng vị trí đó để duy trì (thậm chí nâng cao hơn nữa vị thế đó) để có được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với đối thủ cạnh tranh khác Bên cạnh đó, doanh nghiệp

có vị trí độc quyền đã khẳng định địa vị quan trọng của doanh nghiệp trong cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường liên quan nên quyền lựa chọn của khách hàng bị hạn chế, nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Với mục tiêu đảm bảo một môi trường tự do cạnh tranh, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh không phải nhằm xóa bỏ vị trí độc quyền mà có nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ việc lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là phải xác định chính xác, khách quan một hành vi cạnh tranh bị xem là lạm dụng vị trí độc quyền

3.1.1 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm

loại bỏ đối thủ cạnh tranh (hay còn gọi là hành vi định giá hủy diệt)

Đây là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ với mức giá thấp hơn tổng các chi

phí sau: Chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ theo quy định của

pháp luật hoặc giá mua hàng hoá để bán lại; Chi phí lưu thông hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật26

(trừ các hành vi tại khoản 2 điều 23 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh (Nghị định 116/2005/NĐ-CP))

Bản thân tên gọi của hành vi lạm dụng“Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh” đã cho thấy: khi một doanh nghiệp thực hiện hành vi này, tức họ đã chấp nhận lỗ để hướng đến mục

26

Khoản 1 điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

Trang 37

tiêu tăng dần sản lượng, tăng thị phần; tìm cơ hội khẳng định mình trong sự ưu ái của người tiêu dùng và dần loại bỏ đối thủ cạnh tranh Mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh thể hiện rõ nét nhất bản chất lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh vì doanh nghiệp có vị trí độc quyền thường dựa vào khả năng tài chính hoặc dựa vào sự hỗ trợ từ thu nhập ở những lĩnh vực kinh doanh khác tài trợ cho các khoản chi phí bỏ ra để duy trì một mức giá thấp hơn giá thành toàn bộ này Tuy nhiên, với vị trí độc quyền của mình, mục đích “loại bỏ” mà hành vi này hướng đến có thể được hiểu thêm một hướng khác là “ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng”, bởi vị trí độc quyền là vị trí mà ở đó

“không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp

đó kinh doanh trên thị trường liên quan”27

Sau khi đã đạt được mục đích loại bỏ đối thủ, doanh nghiệp có vị trí độc quyền đã làm cho khách hàng dần lệ thuộc vào mình và vì vậy, khả năng bóc lột của doanh nghiệp đã hình thành “một cách

tự nhiên”, có thể bằng cách tăng giá hoặc giảm sản lượng cung ứng để tác động đến giá nhằm thu lợi nhuận độc quyền. 28

Như vậy, khi xem xét hành vi này, cần xác định và so sánh giữa giá bán trên thực tế và giá thành toàn bộ của cùng một sản phẩm

Trước tiên phải xác định giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thực tế

của doanh nghiệp bị điều tra Mức giá được sử dụng phải là giá áp dụng cho các

khách hàng giao dịch trực tiếp với họ Do đó, khi doanh nghiệp bị điều tra trực tiếp bán lẻ trên thị trường thì giá thực tế được sử dụng là giá bán lẻ mà doanh

nghiệp đã áp dụng trong các giao dịch với khách hàng Nếu doanh nghiệp bị điều tra không trực tiếp bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng thì giá được sử dụng là giá bán sản phẩm mà doanh nghiệp đã áp dụng trong các giao dịch với các nhà phân phối (khách hàng trực tiếp) của họ Tuy nhiên, sẽ gặp nhiều khó khăn nếu doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ sản phẩm bằng nhiều cấp tiêu thụ khác nhau như vừa trực tiếp bán lẻ, vừa bán cho các đại lý và với mỗi nhóm khách hàng họ áp

27 Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2004.

28

Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh (2006), Nhà xuất bản

Tư pháp, trang 58-60, 77

Trang 38

dụng mức giá riêng Sở dĩ Luật Cạnh tranh và Nghị định 116/2005/NĐ-CP chưa

có quy định để giải quyết tình huống này vì hành vi định giá hủy diệt có thể được thực hiện ở bất cứ cấp nào trong quá trình kinh doanh, phân phối nên pháp luật không thể chỉ sử dụng giá bán lẻ hay bán sỉ cho mọi trường hợp Cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng độc lập từng mức giá với từng nhóm khách hàng để điều tra về sự vi phạm mà không tính theo nguyên tắc bình quân của các mức giá Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ khảo sát về giá bán trên một vùng thị trường

đủ để xác định một chiến lược kinh doanh với một khoảng thời gian hợp lý Trường hợp có sự chênh lệnh về giá bán giữa các tiểu vùng thị trường và các thời điểm khác nhau trong cùng giai đoạn điều tra thì cần cân nhắc và tính toán một mức giá bình quân gia quyền nhằm tạo lập một giá bán căn bản làm cơ sở để so sánh giá. 29

Về việc xác định giá bán thực tế này, Luật Cạnh tranh của Việt Nam chưa quy định rõ cách thức chứng minh mức giá bán khi điều tra Trong khi đó, tại điều 50(1) (b) và (c) Luật Cạnh tranh Canada và trong “Các nguyên tắc hướng

dẫn về việc thi hành Luật trong lĩnh vực bán phá giá” đã đặt ra nguyên tắc xác

định giá bán bình quân khi điều tra về việc xác định giá dưới chi phí sản xuất và

cần phải cân nhắc cả về mức thấp của giá, phạm vi không gian và thời gian áp dụng để xác định sự vi phạm30 Thiết nghĩ, Luật Cạnh tranh của Việt Nam nên quy định chi tiết về vấn đề này để tránh sai sót trong quá trình điều tra

Như đã nói ở trên, bản chất của hành vi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh thể hiện thông qua việc doanh nghiệp lợi dụng vị trí của mình nên đã chấp nhận lỗ, chấp nhận hy sinh lợi nhuận để đạt được mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh Do đó, chỉ có thể xác định được bản chất và mục đích đó khi dùng chi phí mà doanh nghiệp đó bỏ ra để sản xuất và phân phối sản phẩm để so sánh với giá bán thực tế Vì vậy, bước tiếp

theo cần xác định giá thành toàn bộ như là một mức chuẩn của sự công bằng và

29 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2010), Nhà xuất

bản Dân trí, trang 133-134.

30 Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) – Bộ thương mại Việt Nam (MOT), Luật Cạnh tranh

Canada và bình luận, Hà Nội 7-2004, trang 76-79.

Trang 39

hợp lý, gồm chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc giá mua hàng hoá để bán lại; chi phí lưu thông hàng hóa, dịch

vụ theo quy định của pháp luật

Các loại chi phí cấu thành nên giá thành toàn bộ có thể được xem như bao gồm cả chi phí cố định và chi phí biến đổi Do đó, giá thành toàn bộ theo quy định của pháp luật nước ta có nét tương đồng với pháp luật của các quốc gia như Canada, Hoa Kỳ khi họ cũng đã đưa ra hai mức chi phí căn bản làm cơ sở để xác

định là chi phí biến đổi bình quân và chi phí toàn bộ bình quân 31

Sau khi xác định được giá bán thực tế và giá thành toàn bộ của sản phẩm,

để xác định hành vi vi phạm, người ta tiến hành so sánh theo phương thức tìm mức chênh lệch giữa hai mức giá này bằng cách lấy giá thành toàn bộ trừ đi giá bán thực tế của sản phẩm Nếu kết quả đạt được là một số dương thì kết luận có

vi phạm và ngược lại, nếu kết quả đạt được là một số âm thì không có vi phạm

Tuy nhiên, việc xác định giá thành toàn bộ không đơn giản, ví dụ như khó khăn trong việc điều tra về hành vi – xuất phát từ khái niệm dịch vụ và quá trình cung ứng dịch vụ mang tính vô hình; quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời; dịch vụ không thể lưu trữ được thì việc hình dung dịch vụ và kéo theo là xác định chi phí cung ứng đối với một loại dịch vụ của doanh nghiệp

cũng như xác định chi phí lành mạnh đối với việc cung ứng dịch vụ để so sánh

với giá cung ứng thực tế là không đơn giản Ngoài ra, việc điều tra và thu thập các thông số về tài chính kế toán, về chi phí sản xuất của doanh nghiệp không phải là công việc đơn giản do hoạt động kế toán của doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều khiếm khuyết về sự minh bạch và thiếu trung thực Hiện nay, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều tra về hành vi định giá hủy diệt, pháp luật về kiểm toán; và pháp luật cạnh tranh còn non trẻ, chưa có nhiều nội dung

31

Chi phí biến đổi bình quân là chi phí biến đổi được tính trên một đơn vị sản phẩm Còn chi phí toàn bộ bình quân là tổng chi phí đầu vào tính trên một đơn vị sản phẩm, bao gồm chi phí cố định bình quân và

chi phí biến đổi bình quân (Lê Bảo Lâm, Nguyễn Như Ý, Trần Thị Bích Nhung, Trần Bá Thọ, Kinh tế vi

mô (2010), Nhà xuất bản thống kê)

Trang 40

tương xứng để chuẩn bị cho công tác thực thi pháp luật hiệu quả nên làm giảm đi hiệu quả áp dụng và điều chỉnh của pháp luật.32

Mặt khác, cần phải phân biệt hành vi “bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh” và hành vi “bán phá giá”

vì cả hai hành vi có nét tương đồng nhau, đều bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá

thấp không bình thường Tuy nhiên, chủ thể thực hiện hành vi bán phá giá là các chủ thể hoạt động kinh doanh trên thị trường mà không cần phải có quyền lực thị

trường; mục đích của doanh nghiệp thực hiện bán phá giá là chiếm lĩnh thị

trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật; và hậu quả là gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước Vì vậy, hậu quả của hành vi bán phá giá là hiện thực trong khi mục đích và hậu quả của hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là suy đoán và căn cứ vào mức giá được hạ thấp dưới giá thành toàn bộ

Ngoài ra, có những hành vi không bị coi là bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh như quy định tại khoản 2 điều 23 Nghị định 116/2005/NĐ-CP: Hạ giá bán hàng hóa tươi sống; Hạ giá bán hàng hóa tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; Hạ giá bán hàng hóa theo mùa vụ; Hạ giá bán hàng hóa trong chương trình khuyến mại theo quy định của pháp luật; Hạ giá bán hàng hóa trong trường hợp phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh, thay đổi địa điểm, chuyển hướng sản xuất, kinh doanh; Các biện pháp thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước theo quy định hiện hành của pháp luật về giá Bên cạnh đó, về hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, nhiều quan điểm kinh tế học cho

rằng, hành vi này sẽ không bị lên án bởi mức giá giảm hiện tại, mà chỉ bị lên án

bởi có khả năng suy giảm sản lượng và giá cả tăng vọt trong tương lai sau khi mục đích loại bỏ đổi thủ đã thực hiện Bên cạnh đó, Ủy ban xử lý hành vi hạn chế

32

Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn, Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh (2006), Nhà xuất bản

Tư pháp, trang 73-76.

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Phạm Hoài Huấn, Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 08/2012, trang 43-48.IV. Bài báo trên Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh
21. Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh, “Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xử phạt Vinapco 3,37 tỷ đồng”, Hội đồng cạnh tranh, được truy cập tại địa chỉ http://www.hoidongcanhtranh.vn/CacvuxetxuTrongnuoc&action=viewNews&id=967 vào ngày 20/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xử phạt Vinapco 3,37 tỷ đồng”, "Hội đồng cạnh tranh
22. “Báo cáo hoạt động thường niên năm 2011”, Cục quản lý cạnh tranh, được truy cập tại địa chỉ http://www.vca.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=5700&lang=vi-VN vào ngày 20/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động thường niên năm 2011”, "Cục quản lý cạnh tranh
23. “Báo cáo hoạt động thường niên năm 2010”, Cục quản lý cạnh tranh, được truy cập tại địa chỉ http://www.vca.gov.vn/Modules/CMS/Upload/36/2011_5_31/vnfinal-LQ.pdf vào ngày 20/12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động thường niên năm 2010”, "Cục quản lý cạnh tranh
24. “Báo cáo hoạt động thường niên của EVN năm 2010-2011”, Tập đoàn điện lực Việt Nam, được truy cập tại địa chỉ http://www.evn.com.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động thường niên của EVN năm 2010-2011”, "Tập đoàn điện lực Việt
1. Luật Cạnh tranh được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 Khác
2. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh Khác
3. Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 01 năm 2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh Khác
4. Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Khác
5. Quyết định số 21/2009/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2009 quy định về giá bán điện năm 2009 và các năm 2010 – 2012 theo cơ chế thị trường Khác
6. Quyết định số: 276/2006/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2006 quy định về giá bán điện Khác
7. Thông tư số 08/2010/TT-BTC ngày 24 tháng 02 năm 2010 quy định về giá bán điện năm 2010 và hướng dẫn thực hiện Khác
8. Thông tư số 05/2011//TT-BTC ngày 25 tháng 02 năm 2011 quy định về giá bán điện năm 2011 và hướng dẫn thực hiện Khác
9. Thông tư số 42/2011/TT-BCT ngày 19 tháng 12 năm 2011 quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện Khác
10. Thông tư số 17/2012/TT-BCT ngày 29 tháng 6 năm 2012 quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện Khác
11. Thông tư số 38/2012/TT-BCT ngày 20 tháng 12 năm 2012 quy định về giá bán điện và hướng dẫn thực hiện.II. Sách Khác
12. Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) – Bộ thương mại Việt Nam (MOT), Luật Cạnh tranh Canada và bình luận, Hà Nội 7-2004 Khác
13. Lê Bảo Lâm, Nguyễn Như Ý, Trần Thị Bích Nhung, Trần Bá Thọ, Kinh tế vi mô (2010), Nhà xuất bản thống kê Khác
14. Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh (2010), Nhà xuất bản Dân trí Khác
15. Nguyễn Đức Thành, Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2012 – Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế (2012), Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm