Và cũng thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu muốn nói lên những quan điểm của mình về hôn nhân đồng giới, hi vọng những kiến nghị của nhóm sẽ được các nhà làm luật xem xét và trong tương la
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG: SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI,
THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ
MÃ SỐ ĐỀ TÀI:
Thuộc nhóm ngành khoa học: XÃ HỘI HỌC – LUẬT
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 3 Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG: SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI VÀ PHÁP
LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI,
THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ
MÃ SỐ ĐỀ TÀI:
THUỘC NHÓM NGÀNH KHOA HỌC: XÃ HỘI HỌC – LUẬT
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ KIM TUYỀN Nữ
Trang 3 -LỜI CẢM ƠN -
Để hoàn thành được bài Nghiên cứu khoa học này, ngoài sự cố gắng và nổ
lực hết mình của các thành viên, nhóm nghiên cứu còn nhận được sự giúp đỡ từ
nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường
Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ
Chí Minh đã tạo một sân chơi khoa học thú vị cho tất cả các sinh viên chúng em, xin
cảm ơn tập thể các thầy cô trong ban tổ chức cuộc thi đã tận tình hướng dẫn và tạo
điều kiện để các nhóm nghiên cứu hoàn thành bài dự thi của mình, giúp chúng em
có thêm vô vàng những kiến thức khoa học hữu ích
Nhóm chúng em cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến Thạc sỹ
Nguyễn Huỳnh Anh Như đã tận tình hướng dẫn, động viên và có những góp ý quan
trọng cho để nhóm hoàn thành bài Nghiên cứu khoa học này
Cuối cùng nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn sinh
viên Trường Đại học Mở đã nhiệt tình đóng góp ý kiến cho bài khảo sát của nhóm
Kính chúc quý Thầy, Cô và toàn thể các bạn sinh viên luôn vui vẻ, hạnh phúc
và thành công trong công việc
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục từ viết tắt viii
Thông tin kết quả nghiên cứu của đề tài ix
Thông tin về sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài xii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
3.2 Giới hạn phạm vi khảo sát 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Nguồn số liệu, dữ liệu 3
6 Ý nghĩa thực tiển của đề tài 3
CHƯƠNG 1 GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI 5
1.1 Tổng quan về hôn nhân đồng giới 5
1.1.1 Định nghĩa về hôn nhân 5
1.1.2 Khái niệm hôn nhân đồng giới 10
1.1.3 Nguyên nhân gây ra đồng tính 13
1.2 Nhận thức của xã hội về hôn nhân đồng giới 18
Trang 51.3 Pháp luật về hôn nhân đồng giới 21
1.3.1 Pháp luật các nước trên thế giới 21
1.3.1.1 Pháp luật các quốc gia công nhận HNĐG 21
1.3.1.2 Pháp luật các quốc gia không công nhận hôn nhân đồng giới 25
1.3.2 Pháp luật Việt Nam 28
1.3.2.1 Định nghĩa hôn nhân trong pháp luật Việt Nam 27
1.3.2.2 Điều kiện kết hôn 29
1.3.2.3 Nhận xét những quy định của pháp luật về hôn nhân đồng giới 32
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI 34
2.1 Kết quả khảo sát ý kiến của 500 sinh viên Đại học Mở về quan điểm và cách nhìn nhận về hôn nhân đồng giới 34
2.2 Thực trạng hôn nhân đồng giới tại Việt Nam 44
2.2.1 Đánh giá tình hình chung 50
2.2.1.1 Hệ quả của việc không công nhận hôn nhân đồng giới 50
2.2.1.2 Nhận định của một vài chuyên gia về hôn nhân đồng giới hiện nay 54 CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI TẠI VIỆT NAM 59
3.1 Quan điểm của nhóm nghiên cứu về hôn nhân đồng giới 59
3.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về hôn nhân đồng giới 60 3.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về giới tính và hôn nhân đồng giới 60
3.2.2 Ghi nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính trong pháp luật 61
3.2.3 Khảo sát, trưng cầu dân ý về việc có đồng tình công nhận hôn nhân đồng giới 63
Trang 6KẾT LUẬN 64
PHỤ LỤC 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Mức độ hiểu biết về hôn nhân đồng giới 34
Bảng 2.2 Đối tượng chủ yếu của hôn nhân đồng giới 35
Bảng 2.3 Nguyên nhân của việc kết hôn giữa những người đồng giới tính 37
Bảng 2.4 Thái độ của người đồng tính đối với các mối quan hệ xã hội 38
Bảng 2.5 Việc kết hôn giữa những người đồng tính được hiểu như thế nào 39
Bảng 2.6 Mức độ bền vững của hôn nhân đồng giới 40
Bảng 2.7 Nguyên nhân Hôn nhân đồng giới bị xã hội kỳ thị 41
Bảng 2.8 Thái độ của mọi người đối với những người đồng tính 42
Bảng 2.9 Những người kết hôn đồng giới có cần được pháp luật bảo vệ 43
Bảng 2.10 Những người kết hôn đồng giới cần được pháp luật bảo vệ ở những khía cạnh 44
- - - - -
DANH MỤC HÌNH ẢNH Trang Hình 1.1.Đám cưới đồng giới nữ tại Tây Ban Nha 22
Hình 1.2 Một đám cưới đồng tính nữ tại Thụy Điển 24
Hình 1.3.Đám cưới đồng giới nữ tại Argentina 25
Hình 1.4 Biểu tình phản đối hôn nhân đồng tính ở thành phố Toulouse của Pháp ngày 17/11/2012 26
Hình 2.1 Hình ảnh của những người đồng tính kết hôn với nhau 36
Hình 2.2 Đinh Công Khanh và Nguyễn Thái Nguyên sau 6 năm “kết hôn” vẫn sống hạnh phúc 45
Hình 2.3 Đám cưới được tổ chức sang trọng giữa hai nhân vật có nickname Nell và Pin năm 2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh 46
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luật HN & GĐ Luật Hôn nhân gia đình
Trang 9BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÔN
NHÂN ĐỒNG GIỚI, THỰC TRẠNG – KIẾN NGHỊ
- Sinh viên thực hiện:
1 NGUYỄN THỊ KIM TUYỀN
Lớp: LK09A2 - Khoa: KINH TẾ VÀ LUẬT
Năm thứ: Tư Số năm đào tạo: 04 năm
2 NGUYỄN THỊ CHI
Lớp: LK09A2 - Khoa: KINH TẾ VÀ LUẬT
Năm thứ: Tư Số năm đào tạo: 04 năm
3 MAI THỊ KIỀU NHI
Lớp: LK09A2 - Khoa: KINH TẾ VÀ LUẬT
Năm thứ: Tư Số năm đào tạo: 04 năm
- Người hướng dẫn: Th.S NGUYỄN HUỲNH ANH NHƯ
2 Mục tiêu đề tài:
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, nhóm muốn giúp mọi người trong xã hội
có cách nhìn đúng đắn hơn về hôn nhân đồng giới để từ đó tránh thái độ kỳ thị và xa
lánh những người đồng giới Và cũng thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu muốn nói
lên những quan điểm của mình về hôn nhân đồng giới, hi vọng những kiến nghị của
nhóm sẽ được các nhà làm luật xem xét và trong tương lai sẽ có những cơ chế, chính
sách bảo vệ cho các mối quan hệ cho hôn nhân đồng giới trong xã hội
Trang 103 Tính mới và sáng tạo:
Dám nêu lên quan điểm ủng hộ hôn nhân đồng giới tại một quốc gia mà
cách nhìn về vấn đề này còn khắc khe và pháp luật hiện hành vẫn chưa công
nhận
4 Kết quả nghiên cứu:
Đề ra được các giải pháp hạn chế sự kỳ thị đối với những người kết hôn
đồng tính và kiến nghị với các nhà làm luật về việc xem xét, công nhận hôn
nhân đồng giới trong tương lai
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc
phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Đề tài góp tiếng nói chung cho hoạt động tuyên truyền giúp mọi người tránh
thái độ kỳ thị những người kết hôn đồng giới, giúp các nhà lãnh đạo, những người
làm luật thấy được mong muốn của những người kết hôn đồng giới và những hệ lụy
không mong muốn của việc pháp luật không bảo vệ hôn nhân đồng giới
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả
nghiên cứu (nếu có):
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2012
Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nguyễn Thị Kim Tuyền
Trang 11Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài:
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2012 Xác nhận của đơn vị Người hướng dẫn (ký tên và đóng dấu) (họ và tên) NGUYỄN HUỲNH ANH NHƯ
Trang 12BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ KIM TUYỀN
Sinh ngày: 01 tháng 04 năm 1991
Nơi sinh: Bến Tre
Lớp: LK09A2 Khóa: 2009
Khoa: Kinh tế và Luật
Địa chỉ liên hệ: 74/17/1 Trương Quốc Dung, Phường 10, Quận Phú Nhuận, Tp Hồ
Chí Minh
Điện thoại: 01656.159.569 Email: kimtuyen.lk92@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến
năm đang học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Luật kinh tế Khoa: Kinh tế và Luật
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - Khá
Sơ lược thành tích:
* Năm thứ 2:
Ngành học: Luật kinh tế Khoa : Kinh tế và Luật
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - Khá
Ảnh 4x6
Trang 13Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 03 năm 2013
thực hiện đề tài
Nguyễn Thị Kim Tuyền
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Từ xưa đến nay, thuật ngữ “Hôn nhân” thường được hiểu là sự kết hợp của
vợ và chồng ở hai giới tính khác nhau Tuy nhiên, hiện nay, việc kết hôn của những
người cùng giới tính là có thật và trở thành một hiện tượng xã hội làm phát sinh
nhiều tranh cãi cũng như nhiều mối quan hệ như nhân thân, tài sản, con cái rất khó
giải quyết mà pháp luật vẫn chưa điều chỉnh
Có rất nhiều ý kiến trái chiều về hiện tượng xã hội này Trong đó, hầu hết là
các quan điểm không tán đồng với hôn nhân đồng giới và cho rằng những người
đồng tính là những người mang bệnh, chạy theo trào lưu, hoặc thậm chí có người
còn cho rằng nó có thể lay lan khi sống chung một môi trường và tỏ thái độ kỳ thị,
xa lánh họ Tuy nhiên cũng có một số ít những ý kiến tán đồng và cho rằng hôn nhân
đồng giới đáng được thông cảm và cần được xã hội cũng như pháp luật thừa nhận
Một số ít quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã thừa nhận hôn nhân đồng
giới Còn ở Việt Nam thì việc kết hôn giữa những người cùng giới tính vẫn không
được pháp luật hiện hành cho phép, công nhận và bảo vệ Mặc dù trong xã hội hiện
nay, tỷ lệ người đồng tính ngày một tăng và tình trạng kết hôn đồng tính ngày một
phát triển Trước mắt, số lượng này sẽ còn ngày một gia tăng và chắc chắn kéo theo
sau sẽ là những hệ quả không mong muốn về nhiểu khía cạnh Chính vì không được
pháp luật công nhận, bảo vệ mà rất nhiều quan hệ của những người kết hôn đồng
tính ấy đang bị bỏ ngõ và bị xâm hại
Với mong muốn được nghiên cứu vấn đề này, đặc biệt là ở khía cạnh áp dụng
pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người đồng tính, từ
đó mạnh dạn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, góp
phần giữ vững ổn định đối với sự phát triển của xã hội Trong quá trình nghiên cứu,
Trang 15tìm hiểu thực tế cũng như được sự hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn
Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Anh Như, nên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài:
“Góc nhìn của xã hội và pháp luật về hôn nhân đồng giới, thực trạng – kiến
nghị” để làm đề tài nghiên cứu khoa học năm học 2012 – 2013
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích khái niệm, quy định cơ bản về hôn nhân đồng giới dựa trên pháp
luật của các nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam
Khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá về thực trạng hôn nhân đồng giới hiện
nay và các quy định của pháp luật về hôn nhân đồng giới
Đưa ra một số kiến nghị, quan điểm của nhóm nghiên cứu nhằm hoàn thiện
hơn hệ thống pháp luật và bảo vệ được quyền lợi ích hợp pháp của những người
đồng tính nói chung và hôn nhân đồng giới nói riêng
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Giới hạn đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những quan điểm trong xã hội về hôn nhân đồng
giới, pháp luật các quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam trong vấn đề
công nhận hay không công nhận kết hôn đồng giới và đưa ra các kiến nghị nhằm
bảo vệ quyền của người kết hôn đồng giới
3.2 Giới hạn phạm vi khảo sát
Khảo sát lấy ý kiến của các sinh viên trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh
Trang 164 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp
luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu
nguồn gốc của hôn nhân đồng giới, nguyên nhân của đồng tính
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu một
số trường hợp, kết hợp phương pháp diễn dịch, phương pháp phân tích, phương
pháp tổng hợp, phương pháp so sánh trong việc đưa ra luận cứ và trình bày luận
chứng để xem xét từng bộ phận của vấn đề cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn nhằm làm
sáng tỏ các vấn đề mà bài nghiên cứu đề cập đến
5 Nguồn số liệu, dữ liệu
Tài liệu cho bài nghiên cứu được lấy từ các bài báo, tạp chí, các cuộc điều tra,
thống kê trước đó và kết quả cuộc khảo sát do nhóm thực hiện
6 Ý nghĩa thực tiển của đề tài
Trước hết, khi bắt tay vào thực hiện đề tài nghiên cứu này, nhóm đã có cơ hội
làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và có được sự trải nghiệm thực tế,
tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho bản thân
Đề tài “Góc nhìn của xã hội và pháp luật về hôn nhân đồng giới, thực
trạng – kiến nghị” nêu lên được những quy định hiện hành của pháp luật về hôn
nhân đồng giới, thái độ và những phản ứng của xã hội trước hiện tượng kết hôn
đồng giới và hệ quả để lại cho xã hội cũng như chính những người kết hôn đồng
giới
Đồng thời, đề tài cũng góp tiếng nói chung cho hoạt động tuyên truyền giúp
mọi người tránh thái độ kỳ thị những người kết hôn đồng giới, giúp các nhà lãnh
đạo, những người làm luật thấy được mong muốn của những người kết hôn đồng
Trang 17giới và những hệ lụy không mong muốn của việc pháp luật không bảo vệ hôn nhân
đồng giới
Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng do kinh nghiệm nghiên cứu còn ít nên trong
quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những sai lầm và thiết sót Vì vậy,
nhóm nghiên cứu rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía ban giám
khảo để đề tài được hoàn thiện hơn và phát huy hết được vai trò thiết thực của đề
tài
Trang 18CHƯƠNG 1 GÓC NHÌN CỦA XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ
HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI
1.1 Tổng quan về hôn nhân đồng giới
1.1.1 Định nghĩa về hôn nhân
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hôn nhân, sau đây là một số cách
định nghĩa về hôn nhân thường gặp
Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt
của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà Nó là
một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan
hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với nhau, quy định
quyền lợi và nghĩa vụ của họ
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn
giáo một cách hợp pháp Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu Hôn nhân là một
mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội Về mặt xã hội, lễ cưới thường là
sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký
kết hôn
Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và
một người đàn bà được gọi là vợ Hôn nhân theo chế độ đa thê là một kiểu hôn nhân
trong đó một người đàn ông có nhiều vợ Ở một số nước, hôn nhân đồng giới được
công nhận Ở một số nước khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới
đang diễn ra Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình cấm hôn
nhân giữa những người cùng giới tính.1
Theo từ điển bách khoa toàn thư Britannica thì “hôn nhân là sự liên kết về luật
pháp và xã hội, thường là giữa một người nam và một người nữ, chịu sự điều chỉnh
1
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B4n_nh%C3%A2n#cite_note-LHNG.C4.90-1
Trang 19của pháp luật, phép tắc, phong tục, đức tin, và thái độ về các quyền và nghĩa vụ của
những người trong cuộc phối ngẫu, đồng thời quy định vị trí của con cái họ (nếu
có)”2 Theo đó thì chỉ cần luật pháp và xã hội thừa nhận, tất cả những người yêu
thương và muốn sống chung với nhau đều được quyền cưới hỏi
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common law), phổ biến một
khái niệm cổ điển mang quan niệm truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo, do
Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866): “Hôn nhân là
sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà
không vì mục đích nào khác”3 Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở
Châu âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và
một người nữ với tư cách là vợ chồng” 4, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình
trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” 5
Trong pháp Luật HN & GĐ Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn nhân đã được
nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn Luật HN & GĐ năm
2000 qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Khoản 6
Điều 8) Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà
Nội hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên
nguyên tắc tự nguyện, bìnhđẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung
sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”6
Hôn nhân qua các khái niệm này đều phản ánh năm đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, Tính tự nguyện trong hôn nhân
Trang 20Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưng
thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân
có hiệu lực Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đình của các nước đều ghi nhận:
Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện
Tự nguyện trong pháp luật phương tây còn đồng nghĩa với tự do thoả thuận,
thông qua việc thừa nhận chế độ tài sản ước định trong quan hệ vợ chồng, khi các
bên không thoả thuận được pháp luật mới áp dụng chế độ tài sản pháp định
Nhà làm luật các nước XHCN cũng coi yếu tố tự nguyện trong hôn nhân là
một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 2 Luật HN
& GĐ Việt Nam năm 2000; Điều 2 Luật hôn nhân CHND Trung hoa…) Tuy nhiên,
họ lại xác định tự nguyện trong hôn nhân là tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa
nam và nữ, vậy nên họ không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn, mà việc kết
hôn phải do chính các bên nam, nữ quyết định Mặt khác, mục đích của hôn nhân là
xây dựng gia đình, chứ không vì mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân
sự, đồng thời để tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán kinh tế,
pháp luật XHCN không thừa nhận chế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng,
mà chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và
chồng (xem chế độ tài sản của vợ chồng được qui định từ điều 27 đến điều 33 Luật
HN & GĐ Việt Nam năm 2000, điều 13 Luật hôn nhân CHND Trung hoa…)
Thứ hai: Tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân
Có quan điểm cho rằng, đặc điểm này chỉ tồn tại trong hôn nhân XHCN Trên
thực tế không hoàn toàn như vậy, đặc điểm bền vững của hôn nhân cũng đã được
nhà làm luật tư sản đề cập đến từ rất lâu Lord Penzance khi đưa ra khái niệm hôn
nhân (năm 1866) đã khẳng định “sự liên kết tự nguyện suốt đời” của các bên trong
hôn nhân Pháp luật về hôn nhân của nhiều nước tư sản cũng ghi nhận đặc điểm
Trang 21này (ví dụ: Theo Luật hôn nhân năm 1961 của Australia: để việc kết hôn có hiệu lực
pháp lý, các bên kết hôn phải có mục đích chung sống suốt đời)7
Pháp luật HN & GĐ Việt Nam luôn coi trọng tính bền vững của hôn nhân, vì
truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát từ vai trò hôn nhân là cơ sở: xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 1 Luật HN & GĐ
Việt Nam năm 2000)
Thứ ba: Tính chất một vợ một chồng
Trong xu thế tiến bộ xã hội (đặc biệt sự bình quyền giữa nam và nữ), sự khẳng
định cá nhân con người ngày càng lớn, đạo đức mới của con người không những
phủ nhận kiểu hôn nhân một chồng nhiều vợ, hoặc một vợ nhiều chồng như trước,
mà đòi hỏi tình yêu nam, nữ phải biểu hiện trong mối quan hệ thuỷ chung một vợ,
một chồng
Vậy nên, hiện nay chế độ một vợ một chồng đã được ghi nhận trong hầu hết
pháp luật HN & GĐ của các nước (trừ một số nước ở Châu Phi, Trung cận đông,
Trung á do ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo và phong tục, tập quán vẫn thừa nhận chế
độ đa thê trong pháp luật) Pháp luật HN & GĐ Việt Nam coi một vợ, một chồng là
một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình XHCN và là một
trong các điều kiện để thừa nhận việc kết hôn hợp pháp (Điều 2 và khoản 1 Điều 9
Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000)
Thứ tư, Hôn nhân chỉ tồn tại giữa những người khác nhau về giới tính
Thực chất và ý nghĩa của hôn nhân là mục đích xây dựng gia đình, thể hiện
trong việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầu
vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, hôn nhân là sự liên kết giữa
những người khác giới tính là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính
7
Kaye Healey Marriage, The Spinney Press Australia 1996 Trang 4.
Trang 22xã hội Để bảo đảm mục đích của hôn nhân được thực hiện; đồng thời, để bảo vệ yếu
tố đạo đức truyền thống và tính tự nhiên trong hôn nhân, pháp luật của đa số các
nước trên thế giới đều cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (Việt Nam qui
định tại khoản 5 Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000) Trong đó, một số nước coi
hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính là tội phạm Tuy nhiên, hiện nay do
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, đặc biệt do quá coi trọng quyền tự do cá nhân, có
nước đã thừa nhận hôn nhân của những người cùng giới (Luật hôn nhân sửa đổi của
Hà lan có hiệu lực từ ngày 01.04.2001 đã cho phép những người cùng giới tính kết
hôn với nhau…) Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới ở những nước này đã gặp sự
phản đối của dư luận rộng rãi trên thế giới
Thứ năm: Tính chịu sự qui định của pháp luật
Với vị trí là một thiết chế xã hội, hôn nhân có vai trò là cơ sở xây dựng gia
đình – tế bào của xã hội Điều đó không chỉ có ý nghĩa riêng tư mà còn có ý nghĩa
xã hội Bởi vì, trên cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng, các quan hệ thân thuộc trong
gia đình (quan hệ trực hệ và quan hệ giữa những người có họ hàng khác) và các
quan hệ thích thuộc (quan hệ giữa một bên vợ hoặc chồng với những người trong họ
nhà vợ hay trong họ nhà chồng) được thiết lập và làm phát sinh các quyền và nghĩa
vụ đạo đức, pháp lý giữa các chủ thể trong gia đình Việc phát sinh tồn tại và chấm
dứt hôn nhân đều có những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quan hệ gia
đình (trong nhiều trường hợp hôn nhân có ảnh hưởng mang tính chất quyết định) Vì
vậy, cũng như các thiết chế xã hội khác hôn nhân phải chịu sự điều chỉnh của pháp
luật Pháp luật HN & GĐ các nước đều có các qui định chặt chẽ về kết hôn , quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng về chấm dứt hôn nhân Luật HN & GĐ Việt Nam năm
2000 qui định vấn đề kết hôn bao gồm điều kiện kết hôn, ghi thức kết hôn, huỷ kết
hôn trái pháp luật tại Chương II từ Điều 9 đến Điều 17; qui định các quyền và nghĩa
vụ giữa vợ và chồng tại Chương III từ Điều 18 đến Điều 33 và chấm dứt hôn nhân
tại Chương X – Ly hôn từ Điều 85 đến Điều 99
Trang 23Ngoài năm đặc điểm trên, có quan điểm cho rằng hôn nhân còn có đặc điểm
bình đẳng Theo quan điểm của chúng tôi, bình đẳng không phải là đặc điểm chung
cho hôn nhân ở các nước có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau “Bình đẳng” là
đặc điểm phản ánh rõ nét nhất bản chất giai cấp, yếu tố tôn giáo, phong tục, tập quán
trong qui định về hôn nhân ở mỗi quốc gia Có nước không thừa nhận sự bình đẳng
trong hôn nhân (các nước hồi giáo ở Trung đông, Châu Phi và Trung á) Pháp luật
HN & GĐ các nước phương tây thừa nhận bình đẳng trong hôn nhân, nhưng đó chỉ
là sự bình đẳng về hình thức
Dưới chế độ XHCN, bình đẳng có thể được coi là đặc điểm của hôn nhân
XHCN Bởi vì, nhà làm luật XHCN xác định vợ chồng bình đẳng là một trong các
tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội và là một nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và
gia đình XHCN (Điều 2, Điều 19 Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000; Điều 2, Điều
9 Luật hôn nhân CHND Trung Hoa ), nội dung bình đẳng do pháp luật qui định
trên cả quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng Điều quan
trọng hơn, các nước XHCN có điều kiện chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội và cơ
chế pháp luật để bình đẳng trong hôn nhân được thực hiện trên thực tế
Tóm lại, Trong giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay, khái niệm hôn nhân
mà nhà làm luật các nước đưa ra đã có sự tiếp cận nhau hơn Tuy nhiên, hôn nhân là
một hiện tượng xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong
tục, tập quán, nên nội dung các đặc điểm của hôn nhân ở các nước có điều kiện
chính trị – kinh tế – xã hội khác nhau là khác nhau.8
1.1.2 Khái niệm hôn nhân đồng giới
Thế giới đồng tính là một thế giới hết sức phức tạp và thường được gọi là giới
LGBT Bốn chữ đầu LGBT: L là chữ đầu của Lesbian tức những người đồng tính
nữ G tức Gay là những người đồng tính nam B là Bisexual có nghĩa là những
8
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2007/09/11/56834-2/
Trang 24người vừa đồng tính, vừa không đồng tính Và sau cùng là T tức Transgender là
những người đổi giống từ đàn ông sang đàn bà hoặc từ đàn bà sang đàn ông Từ
“đồng tính” - Gay - chỉ là một từ thông thường gọi chung trong thành phần đồng
tính Còn lại, như vừa trình bày thế giới này gồm cả 4 loại người như vừa nêu trên.9
Để có cái nhìn đúng đắn về hôn nhân đồng tính, thì trước hết phải hiểu, hay
chính xác hơn là có một định nghĩa gần đúng nhất về “đồng tính”
Thời cổ đại, ở Hi Lạp, Platon trong luận văn “ bữa tiệc” đã viết về đề tài đồng
tính một cách đầy hoang sơ và đẫm màu thần thoại: “Để đánh giá ích lợi của tình
yêu, phải biết bản chất xa xưa của con người Có ba loại người : nam-nam, nữ-nữ
và nam-nữ hay lưỡng tính Những người này có thân hình tròn, bốn tay, bốn chân và
hai mặt ngược nhau trên một cái đầu Khoẻ mạnh và táo bạo, họ định leo lên trời
Để trừng phạt họ, Zeus đã chẻ những người này ra làm đôi và quay mặt họ về phía
vết cắt, để họ nhìn thấy sự trừng phạt mà trở nên khiêm tốn hơn và cho Apollon
chữa lành vết thương Nhưng từ đó, mỗi nửa đi tìm nửa còn lại và khi hai nửa gặp
nhau, chúng ôm lấy nhau với sự khát khao nồng cháy đến nỗi có thể tự để mặc mình
bất động và chết đói trong cái ôm hôn này Để ngăn không cho nòi giống mất đi,
Zeus đã đặt bộ phận sinh dục ra phía trước, trước đây bộ phận này nằm phía sau
Bằng cách này, con người có thể làm dịu cơn ham muốn và sinh sản, và như thế tình
yêu thiết lập sự thống nhất nguyên thủy
Mỗi người trong chúng ta do đó chỉ là một nửa của con người, và đi kiếm
nửa còn lại Những ai xuất phát từ người lưỡng tính thích giới tính khác mình; phụ
nữ bắt nguồn từ người nữ-nữ nguyên thủy yêu phụ nữ, đàn ông bắt nguồn từ phần
phân chia từ người nam-nam yêu đàn ông, và là những người tốt nhất Khi mỗi nửa
gặp nửa kia của mình, tình yêu tác động đến họ cách kỳ diệu đến nỗi họ không muốn
tách rời nhau nữa: họ khao khát tan chảy vào nhau và tái hợp như đơn vị nguyên
thủy.”
9
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=3027
Trang 25Trong thời đại chúng ta, thì chúng ta lại dựa vào xu hướng tính dục để định
nghĩa về đồng tính:“Xu hướng tính dục là một trong bốn yếu tố tạo nên tính dục và
được định nghĩa là sự hấp dẫn có tính bền vững về tình cảm hoặc tình dục hướng tới
những người khác Nó khác với ba yếu tố cấu thành tính dục khác là : giới tính sinh
học, bản dạng giới, thể hiện giới Từ khái niệm trên mới đi đến định nghĩa của các
loại xu hướng tính dục : Hấp dẫn bởi người khác giới – Dị Tính Hấp dẫn bởi người
đồng giới – Đồng Tính Hấp dẫn bởi cả hai giới – Song Tính” 10
Hôn nhân đồng giới hay hôn nhân đồng tính là hôn nhân của hai người có cùng
giới tính sinh học hoặc giới tính xã hội được chấp nhận về mặt luật pháp hay xã hội
Đồng tính là cụm từ nói chung người Việt Nam dùng để chỉ những người Đồng
tính luyến ái nam - nữ (Gay - Les), những người Song tính luyến ái (Bi) và chuyển
giới (Trans), chuyển giới tính
Đồng tính luyến ái nam (Gay) hiểu nôm na là những người mang giới tính
sinh học là nam giới Tự ý thức mình là nam giới và luôn mong muốn mình là nam
giới.Có sự luyến ái (xu hướng, ham muốn về mặt tình cảm và tình dục) hướng về
những người có cùng giới tính sinh học
Đồng tính luyến ái nữ (Les) hiểu nôm na là những người mang giới tính sinh
học là nữ giới Tự ý thức mình là nữ giới và luôn mong muốn mình là nữ giới.Có sự
luyến ái (xu hướng, ham muốn về mặt tình cảm và tình dục) hướng về những người
có cùng giới tính sinh học
Song tính luyến ái (Bi) hiểu nôm na là những người mang giới tính sinh học là
nam giới hoặc nữ giới Tự ý thức được giới tính sinh học của mình.Có sự luyến ái
(xu hướng, ham muốn về mặt tình cảm và tình dục) hướng về những người ở cả hai
giới tính nam hoặc nữ
10
http://blog.tamtay.vn/entry/view/775244
Trang 26Chuyến giới (Trans) hiểu nôm na là những người mang giới tính sinh học là
nam giới hoặc nữ giới Tự ý thức được giới tính sinh học của mình hoặc không ý
thức được giới tính sinh học của mình.Luôn mong muốn mình là giới tính ngược lại
giới tính sinh học của bản thân.Có sự luyến ái (xu hướng, ham muốn về mặt tình
cảm và tình dục) hướng về những người có cùng giới tính sinh học
Chuyển giới tính hiểu nôm na những người này là những người chuyển giới
sau khi đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới Trên cơ bản họ đã là những người dị
tính, ngoại trừ chức năng sinh sản và bài tiết hooc-môn sinh dục
1.1.3 Nguyên nhân gây ra đồng tính
Có lẽ đây là một trong những câu hỏi khó trả lời cho bất kỳ nhà nghiên cứu
tình dục học nào Có nhà nghiên cứu cho rằng đó là do gen di truyền, có người lại
cho rằng đó là do sự tác động của cá nhân hoặc xã hội, hoặc là cả hai Có một nhận
thức khá lệch lạc về vấn đề này cho rằng những trục trặc trong cuộc sống gia đình
thường khiến người ta bị đồng tính Không có một nhà nghiên cứu nào đồng tình với
kết luận trên
Ở thập niên 90, một nhóm nghiên cứu y học ở Anh đã tìm ra được mối liên hệ
giữa gen và chứng đồng tính Đó là điểm đặc biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể
X của những người đồng tính được truyền từ mẹ sang con Họ cho rằng, thiên hướng
giới tính là một đặc điểm phức tạp, vì thế chẳng có gì ngạc nhiên khi họ tìm thấy vài
vùng ADN có liên quan đến sự biểu hiện này; có một nhóm gen, có tiềm năng tương
tác với những tác nhân môi trường Đây là điều quyết định sự khác biệt trong thiên
hướng tình dục
Để chứng minh, họ đưa ra quá trình phân tích bộ gen của gần 500 người đàn
ông, trong đó gần 200 gia đình có từ hai anh em trai trở lên là gay Kết quả họ xác
định được những đoạn ADN giống hệt nhau trên ba nhiễm sắc thể thường - số 7, 8
và 10 - trên khoảng 60% cặp gay anh em Nếu ở các cặp đồng tính ngẫu nhiên, tỷ lệ
Trang 27ADN giống nhau chỉ là 50% Mặt khác, họ cũng nhận thấy đoạn ADN trên nhiễm
sắc thể số 10 có liên quan đến xu hướng giới tính chỉ khi nó được thừa hưởng từ mẹ
Từ công trình này họ khẳng định, gen đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên một
người đàn ông đích thực hay là gay
Cũng trong khoảng thời gian đó, một vị bác sĩ thuộc khoa Thần kinh, Viện
Salk (Mỹ) đã công bố nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 40 tử
thi Trong số đó là một nửa người đồng tính luyến ái Bác sĩ phát hiện ra rằng,
những người đồng tính luyến ái, thành phần INH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như
một yếu tố điều khiển thái độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ gấp hai lần so với
những người bình thường khác
Những người này có biểu hiện bất thường về gen, nội tiết hoặc cơ quan sinh
dục Nguyên nhân dẫn đến khiếm khuyết giới tính có thể do quá trình mang thai bị
đột biến gen, do di truyền bị khiếm khuyết nhiễm sắc thể hoặc những bất thường
nội Vì thế, những người tình dục đồng giới chỉ là nạn nhân của một cấu trúc sinh
học mà họ không thể thay đổi được
Tuy nhiên, trái ngược với những nghiên cứu trên, đầu năm 2000, một nhóm
khoa học khác thuộc khu vực châu Á lại phản bác yếu tố kiểu gen này Họ chỉ ra:
“Tỉ lệ cùng đồng tính ở sinh đôi cùng trứng là 6.7%, ở sinh đôi khác trứng là 7.2%,
ở các cặp anh chị em bình thường là 5.5% Rõ ràng, kết quả cho thấy sự giống nhau
về thiên hướng tình dục không tương ứng với sự giống nhau về kiểu gen Yếu tố
kiểu gen nếu có thì nó đã bị các yếu tố khác trội hơn lấn áp Chính vì thế, những
biểu hiện ham muốn đồng giới cần phải có một môi trường xã hội nào đó hoặc do
tâm lý tác động
Mặc dù các giả thiết đã đặt ra và chứng minh, song các nhà khoa học của các
công trình nghiên cứu về đề tài đồng tính cũng nhấn mạnh rằng, trước mắt những thí
nghiệm nói trên vẫn chưa thể chứng minh được rằng liệu có mối liên hệ nào đó giữa
Trang 28gen và hiện tượng đồng tính ở con người hay không, nhưng nó được nghiên cứu một
cách nghiêm túc có cơ sở và đáng tin cậy Chính vì thế, xã hội cần có một cái nhìn
thật sự nghiêm túc hơn về vấn đề này.11
Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (Amerecian Psychological Association –APA)
không đưa ra lý giải khoa học cho hiện tượng đồng tính mà chỉ nêu các dẫn chứng
nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh
hướng tình dục này, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn
tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hòa nhập
cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này APA đã loại đồng
tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần vào năm
1973 Đồng thời vào tháng 12/1992, APA đã đưa ra lời kêu gọi thế giới cùng hành
động để bảo vệ quyền lợi của những người đồng tính luyến ái: “xét thấy đồng tính
luyến ái tự thân nó không hề hàm chứa việc có hay không sự thiệt hại, tính ổn định,
sự tin cậy trong năng lực xã hội chung hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính
luyến ái), APA kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần
học ở các quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt
pháp lý đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người
trưởng thành
Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực hiện mọi
việc có thể để giảm đi những sỉ nhục có liên quan đến luyến ái đồng giới, ở bất cứ
đâu và bất cứ khi nào”.12Hiện nay, các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân dẫn
tới hiện tượng đồng tính luyến ái, nhưng hầu hết đều cho rằng, khuynh hướng tình
dục trên chịu sự chi phối của cả yếu tố sinh học và xã hội Kết quả các cuộc nghiên
cứu, thống kê và khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học và nhi khoa khác
11
http://baogiaoduc.edu.vn/chi-tiet/154-2393-nguyen-nhan-gay-ra-benh-dong-tinh.html
12 Tuyên bố lập trường của Trung tâm tâm lý học và tổ chức về nhân sự (Center for Organizational
and Pesonnel Psychology) về các liệu pháp tập trung thay đổi khuynh hướng tình dục
Trang 29đều đi đến kết luận đồng tính luyến ái không phải là sự rối loạn tâm thần mà là hiện
tượng bình thường trong tự nhiên, những người có khuynh hướng tình dục trên hoàn
toàn không phải do lỗi chủ quan của họ Ngày 17/5/1990 Tổ chức y tế thế giới
(WHO) đã xóa bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần- đây là
dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm về người đồng tính
Tất cả các tổ chức y tế trong đó có cả APA, Hiệp hội tâm lý học nổi tiếng của
Mỹ đều cho rằng đồng tính không phải là bệnh Cho đến nay, thật sự mọi sự trị liệu
bằng thuốc, tập tính, tâm lý… đối với đồng tính đều thất bại Điều này giống như
người bình thường trong một hoàn cảnh nào đó cũng không thể trở thành đồng tính,
dù bị mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ… Đồng tính thật sự là trạng thái không thể đảo
ngược trong xã hội
Trên trang Web http://www.trongsach.com đã đưa ra một số nguyên nhân của
đồng tính như sau: Nguyên nhân của đồng tính luyến ái chưa được hiểu thấu đáo đầy
đủ, và những người phải chống cự với những cám dỗ về lãnh vực này không chọn
hoặc không muốn chúng Có nhiều cuộc tranh luận về nguyên nhân trong tự nhiên
thay vì sự dưỡng dục, nhưng các nhà khoa học không thể tìm thấy một nguyên nhân
di truyền gây ra đồng tính Bác sĩ Dean Hamer (người đặt ra cụm từ “gen đồng
tính”) nói rằng “Chúng ta chưa tìm thấy gen – thứ mà chúng tôi không nghĩ nó tồn
tại – cho khuynh hướng tình dục.”13 Một cuộc nghiên cứu khác kết luận: “Bài đánh
giá chứng tỏ bằng chứng nghiêng về học thuyết sinh học (di truyền) thì không
đủ.”14Có thể có những nhân tố di truyền vẫn chưa được khám phá, nhưng sự phát
13
R McKie, “The Myth of the Gay Gene,” The Press NZ, July 30, 1993, 9 As quoted by Neil and
Briar Whitehead, My Genes Made Me Do It! (Lafayette, La.: Huntington House Publishers, 1999),
135
14
W Byne and B Parsons, “Human Sexual Orientation: The Biological Theories Reappraised,”
Archives of General Psychiatry 50 (1993), 228–239; “Gay Genes Revisited,” Scientific American,
November 1995, 26
Trang 30triển của những xu hướng về đồng tính thường có nguồn gốc từ việc cá nhân được
dạy dỗ.15
Thứ nhất: Lạm dụng tình dục Nếu một người phụ nữ thời trẻ bị lạm dụng
bởi bất kỳ người nam nào, trong tiềm thức cô ấy có thể nghĩ “Tất cả đàn ông đều
giống như người này, và không người nào được phép làm như vậy với tôi! Tôi không
muốn bị tổn thương giống như vậy một lần nữa.”
Thứ hai: Đôi khi bố/mẹ khác giới thì quá vướng víu, dây dưa trong cuộc đời
đứa trẻ Ví dụ, một người mẹ và con trai có thể dựa dẫm vào nhau cách thái quá
ngay cả cho những nhu cầu mà cần phải được giải đáp từ nguồn khác Điều này có
thể góp phần cho sự nhầm lẫn nhận dạng giới tính ở trẻ
Thứ ba: Đứa trẻ có thể đã thiếu vắng cảm xúc hoặc thể lý của bố/mẹ Bố/mẹ
cùng giới có thể đã thiếu vắng cảm xúc hoặc thể lý Trong trường hợp một người trẻ,
sự vắng mặt của bố có thể dẫn đến cảm giác về sự thấp kém hoặc bị bỏ rơi so với
bạn đồng tuổi khi nó đến với những nỗ lực thể thao với các chàng trai khác Hoặc
một người cha có thể đối xử quá tiêu cực với con trai mình và không bao giờ bận
tâm để xác nhận hay khuyến khích nam tính của người trai trẻ Điều này có thể làm
cho người trai trẻ cảm giác bất lực để giao tiếp với những người cùng giới tính anh
ta Điều phổ biến là vào tuổi trưởng thành của người trai trẻ sẽ tìm để xác nhận
những gì là thuộc về nam giới Đôi khi mong muốn được xác định với một chàng
trai nam tính rõ ràng có thể bị bị hiểu nhầm là sự bắt đầu một mối quan hệ đồng
tính
15
E Moberly, Homosexuality: A New Christian Ethic (Cambridge, U.K.: James Clarke, 1983); G
van den Aardweg, On the Origins and Treatment of Homosexuality: A Psychoanalytic
Reinterpretation (Westport, Conn.: Praeger, 1986)
Trang 311.2 Nhận thức của xã hội về hôn nhân đồng giới
Các nghiên cứu xã hội học đã khẳng định rằng, đồng tính không phải là một
giới tính, mà phải hiểu đồng tính là một xu hướng/ thiên hướng tình dục.Bản thân
người đồng tính về mặt sinh học họ vẫn là nam giới/ nữ giới và cũng không phải là
người lưỡng giới (có thể yêu cả nam lẫn nữ).Số lượng người đồng tính chiếm số
lượng rất ít trong xã hội Tỉ lệ người đồng tính luyến ái gần như không thay đổi ở
mọi xã hội, thời đại.Họ chiếm khoảng 3-5% dân số mỗi quốc gia, tỉ lệ này gồm cả
người có quan hệ luyến ái với người cùng giới ở mức độ thi thoảng Họ trở thành đối
tượng rất dễ bị tổn thương (bị đẩy vào thế bất bình đẳng) nên rất cần được sự quan
tâm, chia sẻ của xã hội, không nên có các hành vi kỳ thị, xa lánh chỉ vì họ là người
đồng tính Người đồng tính thường phải chịu các tác động tiêu cực từ xã hội và cả
tâm lý sợ hãi của bản thân họ do những nhận thức sai lầm và quan điểm kỳ thị vì xu
hướng tình dục không phổ biến này Biểu hiện cụ thể nhất của thái độ kỳ thị người
đồng tính là: Định kiến và phân biệt đối xử, lăng mạ và bạo hành thể xác ở gia đình,
chê cười tại trường học, sa thải hoặc từ chối tuyển dụng tại nơi làm việc, gây áp lực
phải lấy vợ và có con, một số người đồng tính còn kỳ thị đối với chính bản thân, coi
mình mắc bệnh kinh niên và dị thường hoặc có suy nghĩ hoặc hành động tự tử
Trên phương diện khoa học, người đồng tính được xem như người bình
thường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm
hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ các thái độ tiêu cực của xã hội
Những định kiến, kỳ thị nêu trên tạo ra sự uy hiếp và đối xử không công bằng với bộ
phận người đồng tính trong xã hội - nhóm người yếu thế, đang chịu những tổn
thương nhất định trong việc hòa nhập với cuộc sống thật của mình và với cộng đồng
xã hội nói chung Sự tồn tại của người đồng tính trong xã hội với những khó khăn,
thử thách mà họ đang chịu đựng sẽ là những căn cứ quan trọng để đưa ra kiến nghị
về việc thừa nhận các quyền cho người đồng tính
Trang 32Hiện chưa có cuộc điều tra nào ước lượng số người là đồng tính ở Việt Nam
nhưng theo thống kê của Tổ chức phi chính phủ CARE16
, tại Việt Nam, ước tính có khoảng 120 ngàn người đồng tính Nếu lấy tỉ lệ trung bình của thế giới là 3% dân số
thì số người đồng tính và song tính ở Việt Nam trong độ tuổi từ 15- 59 tuổi là
khoảng 1,65 triệu người
Nghiên cứu mới nhất về quan điểm xã hội đối với đồng tính và hôn nhân
đồng giới do ISEE tiến hành tại Hà Nội, Hà Nam, TP.Hồ Chí Minh và An Giang cho
thấy, hiểu biết của xã hội về đồng tính còn rất hạn chế Chỉ 13% số người được hỏi
cho rằng, đồng tính không phải là bệnh, trong khi đó có tới 89% người được hỏi có
thái độ kỳ thị với người đồng tính Nguyên nhân được chỉ ra là gia đình đồng giới
không thể sinh con, cha mẹ đồng giới không thể nuôi dạy con tốt
Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi
trường (ISEE) về sự kỳ thị người đồng tính nam cho thấy “1,5% đã bị đuổi học khi
bị phát hiện là người đồng tính; 4,1% bị kỳ thị về vấn đề nhà ở; 4,5% từng bị tấn
công và đánh đập vì là người đồng tính; 15,1% cho biết bị gia đình chửi mắng vì là
người đồng tính”17
Tiến sỹ Lê Quang Bình, Viện trưởng Viện ISEE cho biết: "Giống như nhiều
xã hội khác, xã hội Việt Nam truyền thống đề cao chủ nghĩa độc tôn dị tính - một hệ
thống tư tưởng chỉ chấp nhận quan hệ tình yêu và tình dục giữa người khác giới Hệ
quả là con người có thể kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và
16Viết tắt của Cooperative for American Remittances to Europe = Hợp tác xã cho việc gửi hàng
của Mỹ sang châu Âu - là một tổ chức nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế lớn, với các chương
trình ở trên 70 quốc gia khắp thế giới
17
Cộng tác nghiên cứu ISEE và Khoa học, Học viện Báo chí và tuyên truyền, Nghiên cứu khoa học:
Thông điệp về đồng tính trên báo in và báo mạng, tr.14, nguồn:
http://isee.org.vn/uploads/dowload/you4share.com_4d5258c2076fb.pdf
Trang 33chuyển giới một cách gần như vô thức, mà không nhận thấy sự bất hợp lý và bất
bình đẳng trong thái độ và hành vi của mình”
Tuy nhiên, khi được hỏi ý kiến về các quyền của người đồng tính, đặc biệt là
quyền chung sống và nhận con nuôi thì mức độ ủng hộ tương đối cao 77% số người
cho rằng pháp luật cần bảo vệ các quyền của người đồng tính, 75% ủng hộ việc
người đồng tính nhận con nuôi
Theo kết quả nghiên cứu đồng tính nữ năm 2012 cho thấy có tới 62% đang
có người yêu là nữ và 87% đang hoặc đã từng có người yêu Điều này cho thấy,
chắc chắn ngày càng có nhiều người đồng tính có nhu cầu sống chung và muốn
được pháp luật bảo vệ
Nằm trong nhóm phản đối hôn nhân đồng tính, Phó giáo sư Phùng Trung Tập
- Đại học Luật Hà Nội đưa ra một suy nghĩ khá mới.Ông cho rằng bàn về hôn nhân
đồng giới phải nhấn mạnh đến tính loài: “Một nhà phân tâm học từng nói: “ Con
người có một trí tuệ nhưng đừng quên con người có những bản năng” và bản năng
của con người là hoạt động tính giao khác dấu có từ ngàn đời nay Hôn nhân đồng
tính là trái quan niệm xã hội ngàn năm nhưng nó vốn không trái với tự nhiên.”
Theo ông Tập, người đồng tính cũng có quyền được hưởng hạnh phúc nhưng
vào thời điểm này ở nước ta chưa nên cho phép họ kết hôn."Thừa nhận hôn nhân
đồng tính không dựa vào kinh tế mà dựa vào tính loài, sinh con, đẻ cái.Gia đình là tế
bào của xã hội, trong đó có quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng Vậy nên đứng
từ dân trí, văn hóa, quan điểm sống, trật tự xã hội của nước ta hiện nay, tôi cho
rằng chưa nên thừa nhận hôn nhân đồng tính"
Ngược lại, giới trẻ mạnh mẽ lên tiếng ủng hộ hôn nhân đồng giới, sinh viên
Vũ Phương Linh - Đại học quốc gia Hà Nội phản biện Theo Linh, nếu dựa vào tính
loài mà cấm kết hôn thì nên cấm luôn cả những người vô sinh, người cao tuổi kết
hôn vì họ không thể duy trì nòi giống được Cô sinh viên năm nhất lý luận người
Trang 34đồng tính chỉ chiếm một phần nhỏ trong xã hội, việc cho họ kết hôn không thể làm
loài người bị diệt vong
1.3 Pháp luật về hôn nhân đồng giới
1.3.1 Pháp luật các nước trên thế giới 1.3.1.1 Pháp luật các quốc gia công nhận hôn nhân đồng giới
Kết hôn đồng giới là một vấn đề về quyền công dân và là vấn đề chính trị, xã
hội, đạo đức và tôn giáo ở nhiều quốc gia phương Tây Hà Lan là quốc gia đầu tiên
cho phép hôn nhân đồng giới năm 2001 Sau đó 10 quốc gia khác (Bỉ, Tây Ban
Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy , Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Iceland, Argentina và Đan
Mạch) và năm tiểu bang ở Hoa Kỳ (Massachusetts, Iowa, Connecticut, Vermont,
New Hapshire) cùng với thủ đô Mexico (Thành phố Mexico) cũng cho phép hôn
nhân đồng giới Ở 16 quốc gia khác, những người cùng giới có thể kết hợp dân
sự với nhau
Tiến trình công nhận HNĐG tại một số quốc gia
Hà Lan: Đây là quốc gia nổi tiếng với phong trào đòi quyền bình đẳng cho
người đồng giới vào thập niên 1980s Hai mươi năm sau, ngày 1/4/2001, Hà Lan
chính thức công nhận các đám cưới đồng giớ
Trang 35ớnuôi con nuôi
tháng 7 năm 2005 Năm 2004, Chính phủ dân chủ xã hội vừa được bầu cử, được dẫn
dắt bởi Thủ tướng José Luis Rodríguez Zapatero, bắt đầu chiến dịch hợp pháp hóa
hôn nhân đồng tính bao gồm quyền nhận con nuôi của các cặp đồng tính Sau nhiều
tranh luận, luật cho phép hôn nhân đồng tính được Quốc hội Tây Ban Nha thông qua
vào 30 tháng 6 năm 2005 và công bố vào 2 tháng 7 năm 2005 Hôn nhân đồng giới
bắt đầu hợp pháp từ Chủ nhật, 3 tháng 7 năm 2005 Tây Ban Nha trở thành quốc gia
thứ ba trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trên cả nước theo sau Hà
Lan và Bỉ và trước Canada 17 ngày
Nguồn: Internet
Hình 1.1.Đám cưới đồng giới nữ tại Tây Ban Nha
Canada:
Trang 36Nam Phi:
luậ
Na Uy: Năm 2003, Na Uy là quốc gia thứ hai sau Đan Mạch công nhận việc
các cặp đồng giới có thể sống chung với nhau một cách hợp pháp Tuy vậy, cũng
phải tớ
ừ
Trang 38
Hình 1.3.Đám cưới đồng giới nữ tại Argentina (Nguồn: Internet)
Nói chung, xu hướng công nhận hôn nhân đồng tính trên thế giới là không thể
đảo ngược Từ ngày Hà Lan đi tiên phong (năm 2001), đến nay đã có ít nhất 10
nước hợp thức hóa hôn nhân đồng tính bằng văn bản pháp luật và 24 nước khác
công nhận dưới hình thức “tác hợp dân sự” và đăng ký sống chung Hiện có 250
triệu người (4% dân số thế giới) sống trong các vùng công nhận hôn nhân đồng
tính.18
1.3.1.2 Pháp luật các quốc gia không công nhận hôn nhân đồng giới
Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới dựa trên quyền chung của con người,
bình đẳng trước pháp luật Những người phản đối thường dựa vào lý do tác động
18
http://www.tinmoi.vn/hon-10-nuoc-cong-nhan-hon-nhan-dong-tinh-01777094.html
Trang 39trực tiếp và gián tiếp của hôn nhân đồng giới, vấn đề con cái, nền tảng tôn
giáo, truyền thống và chủ nghĩa dị tính luyến ái
Và trên thế giới, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính đã
trở thành cuộc chiến gay gắt trong lòng xã hội rất nhiều quốc gia trên thế giới hiện
nay
Nguồn: Internet
Hình 1.4 Biểu tình phản đối hôn nhân đồng tính ở thành phố Toulouse của
Pháp ngày 17/11/2012
Điển hình như ở Pháp, bày tỏ quan điểm phản đối quyết liệt việc hợp pháp hóa
hôn nhân đồng tính, hàng trăm nghìn người Pháp ngày 17-11-2012 đã xuống đường
biểu tình rầm rộ tại những thành phố lớn nhất, trong đó đông đảo nhất là ở Thủ đô
Paris với khoảng 70 nghìn người theo ước tính của cảnh sát Những cuộc biểu tình
đối chọi quan điểm về vấn đề hôn nhân đồng tính ở Pháp diễn ra trong bối cảnh
chính quyền của Tổng thống Francois Hollande đầu tháng 11 đã thông qua dự luật
hợp thức hóa hôn nhân đồng tính ở nước này Dự luật được xem là việc thực hiện lời
hứa “hôn nhân cho tất cả mọi người” mà ông Hollande đã cam kết khi tranh cử Tổng
thống
Trang 40Sau khi những quốc gia đầu tiên luật hóa hoặc công nhận hôn nhân đồng tính,
từ đầu những năm 2000 tới nay, trên thế giới vẫn chỉ có khoảng 20 quốc gia và vùng
lãnh thổ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính Ngay tại Mỹ, nước đề cao các giá trị tự
do và quyền của cá nhân, cũng mới có 8 bang trong 51 bang hợp pháp hóa hôn nhân
đồng tính cũng như các quyền dân sự của các cặp đôi đồng tính
Chia rẽ, đấu tranh quan điểm, quan niệm… một cách gay gắt về vấn đề hôn
nhân đồng tính ở nước Pháp cũng chính là bức tranh xung quanh vấn đề này ở rất
nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, kể cả tại các quốc gia phương Tây vốn có lối
sống và cái nhìn bớt khắt khe hơn
Sau khi những quốc gia đầu tiên luật hóa hoặc công nhận hôn nhân đồng tính,
từ đầu những năm 2000 tới nay, trên thế giới vẫn chỉ có khoảng 20 quốc gia và vùng
lãnh thổ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính Ngay tại Mỹ, nước đề cao các giá trị tự
do và quyền của cá nhân, cũng mới có 8 bang trong 51 bang hợp pháp hóa hôn nhân
đồng tính cũng như các quyền dân sự của các cặp đôi đồng tính
Đồng tính, chuyển giới và quan hệ đồng tính hiện là một thực tế ở hầu như tất
cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, chống phân biệt đối xử,
công nhận và hợp pháp các quyền cơ bản của bộ phận không nhỏ này trong xã hội
không phải là điều dễ dàng
Lên tiếng trong cuộc họp hồi tháng 3 năm 2012 của Hội đồng Nhân quyền
Liên hiệp quốc, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-moon đã kêu gọi tất cả các quốc
gia trên thế giới chấm dứt nạn phân biệt đối xử và bạo lực với người thuộc "thế giới
thứ ba" Ông cũng ủng hộ cuộc đấu tranh chấm dứt nạn bạo lực và phân biệt đối xử