Kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy Sextoy cũng là một lựa chọn cho những người phụ nữ thành đạt độc thân nói riêng, họ muốn xã hội chấp nhận nó và coi nó như một dụng cụ thiết yếu t
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề
Gia đình là tế bào của xã hội Do đó, bất kể trong thời đại nào, trong xã hội nào đều không thể phủ nhận vai trò của gia đình trong việc hình thành xã hội và duy trì những giá trị văn hóa của xã hội Trong đó, hôn nhân là quan hệ cơ bản của sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hôn nhân gia đình có sự thay đổi về cấu trúc và nhất là sự thay đổi về chất của thiết chế gia đình hiện đại (Lê Ngọc Văn, 2010)
Trong những năm gần đây ở hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt các nước ở Châu Á, mô hình hôn nhân đang biến đổi từ truyền thống sang hiện đại Đặc trưng chủ yếu của quá trình này là sự phổ biến của gia đình hạt nhân, tuổi kết hôn tăng, tỷ lệ những người sống độc thân cao và các cá nhân có quyền tự do lớn hơn trong việc quyết định hôn nhân của mình (Nguyễn Hữu Minh, 1995: 42) Trước năm 1970, hầu hết các nước ở Châu Á đều theo khuôn mẫu gia đình mở rộng truyền thống, kết hôn sớm và hầu hết mọi người đều trải qua hôn nhân Tuy nhiên từ năm 1970, dưới tác động của sự phát triển kinh tế- xã hội cùng với những chính sách khuyến khích trì hoãn kết hôn, khuôn mẫu hôn nhân truyền thống đã bắt đầu thay đổi theo xu hướng kết hôn muộn Cụ thể, tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) của cả nam và nữ đều tăng, đặc biệt SMAM của phụ nữ hiện nay đã vượt quá 20 tuổi ở hầu hết các nước, ngoại trừ các nước Nam Á (Liên Hợp Quốc 1990)
Theo kết quả báo cáo World Fertility Report (bản tường trình thế giới về sinh sản) của Liên Hợp Quốc, tuổi kết hôn lần đầu ở phụ nữ trên thế giới hiện nay là 23,2 tuổi, tăng 2 tuổi so với thập kỷ 1970; ở các nước phát triển, xu hướng này thể hiện rõ hơn với mức tăng từ 22,0 lên 26,1 tuổi Tại Việt Nam, tuổi lập gia đình trung bình ở nam giới đã tăng từ 24,5 tuổi năm 1989 lên 26,2 tuổi năm 2010, trong khi nữ giới không ghi nhận sự tăng tương ứng; Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có tuổi lập gia đình trễ nhất cả nước: năm 2010, tuổi kết hôn lần đầu trung bình của nam giới là 28,5 tuổi và của nữ giới là 24,8 tuổi, thông tin được trình bày cụ thể trong bảng dữ liệu kèm theo.
Bảng 1: Tuổi trung bình kết hôn lần đầu (đvt: tuổi)
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1-4- 2010: các kết quả chủ yếu, Hà Nội, 2-2011
Bên cạnh việc trì hoãn kết hôn, hiện tượng phụ nữ sống độc thân cũng đang trở thành một xu hướng mang tính toàn cầu, bắt đầu từ những nước đi trước về trình độ phát triển kinh tế- xã hội Lối sống độc thân thoạt đầu xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970 khi phụ nữ tham gia nhiều hơn vào hệ thống kinh tế và giáo dục Nhiều phụ nữ trẻ bắt đầu chinh phục tấm bằng đại học và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, họ bắt đầu gạt hôn nhân vào thời điểm muộn hơn Đến giữa thập kỷ 90, trào lưu này đã lan sang cả Đông Âu và Châu Á, điển hình là các nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc với tỷ lệ phụ nữ độc thân, trì hoãn kết hôn cao Trong đó, Nhật Bản là nước điển hình của trào lưu phụ nữ độc thân Năm 2004, số phụ nữ Nhật độ tuổi 25- 29 chưa lập gia đình là 54%, độ tuổi 30-34 là 27% và 8,6% trong độ tuổi 40-44 (Vũ Hoàng, báo Đời sống và pháp luật số ra ngày 21/06/2006)
Theo kết quả báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ ngày 1/4/2014, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ người ở độ tuổi kết hôn chưa có vợ/chồng cao nhất cả nước (29,6%), còn TP Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ người chưa từng có vợ/chồng cao nhất (32%) Kết hôn muộn và sống độc thân có thể xảy ra ở bất cứ xã hội nào, nhưng khi các hiện tượng này phổ biến ở mức độ nhất định sẽ dẫn đến các vấn đề xã hội không mong muốn; kinh nghiệm từ Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy cần xem xét nguyên nhân và xây dựng các chính sách phù hợp Vì vậy, cần nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề và tìm hiểu nguyên nhân để có các biện pháp chính sách hiệu quả.
Năm Cả nước Thành thị Nông thôn
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
Nhận thấy việc lựa chọn kết hôn muộn hay lối sống độc thân là một xu hướng khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay, nhưng vẫn gây nhiều tranh cãi bởi sự lựa chọn lối sống này bị cho là đi ngược với các giá trị gia đình truyền thống Hơn nữa, vấn đề kết hôn muộn hay sống độc thân của phụ nữ nói chung chỉ được đề cập trong các bài viết trên các tạp chí, các bài báo, những trích đoạn nhỏ từ các tạp chí của nước ngoài và trong một số cuốn sách dịch Riêng tại Việt Nam hiện chỉ có nghiên cứu chính thức về “phụ nữ đơn thân tại Việt Nam” của tác giả Lê Thi Tuy nhiên, những tài liệu này mới chỉ đề cập đến vấn đề trên phương diện tổng quát, chưa đề cập đến những nguyên nhân mang tính cá nhân và chưa đề cập đến đối tượng cụ thể Do đó, chúng tôi đi tìm hiểu “quan điểm của phụ nữ thành đạt về tầm quan trọng của hôn nhân” để tìm hiểu quan điểm đó tác động như thế nào đến quyết định kết hôn muộn hay lối sống độc thân của phụ nữ thành đạt hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan tƣ liệu
Qua việc khảo cứu một số công trình nghiên cứu (trong nước và nước ngoài) liên quan đến hiện tượng phụ nữ độc thân và trì hoãn kết hôn, chúng tôi nhận thấy những điểm chủ yếu được giải thích như là nguyên nhân của vấn đề Trong đó, sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân được xem là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng nhiều phụ nữ độc thân và trì hoãn kết hôn trong xã hội hiện đại với quy mô toàn cầu Các yếu tố khác: sự thay đổi của hệ giá trị, vai trò người mẹ đang mất dần sức hấp dẫn đối với nhiều phụ nữ và việc phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế, được xem như là những hệ quả đi theo sau chủ nghĩa cá nhân Do đó, sự trình bày dưới đây nhằm nêu bật lên ý nghĩa cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố trên tới hiện tượng phụ nữ độc thân và trì hoãn kết hôn
1 Sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân
Mặc dù chủ nghĩa cá nhân đã có từ lâu, song mãi đến thế kỷ XIX ở Châu Âu, quá trình cá nhân hóa mới phát triển và trở thành trào lưu lan truyền khắp thế giới với mức độ, điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Danh từ "Chủ nghĩa cá nhân" (individualisme) đến thời kỳ này mới chính thức xuất hiện và trở thành một khái niệm quan trọng, phổ biến trong học thuật cũng như cuộc sống đời thường ở Châu Âu Có thể nói, sự ra đời và phổ biến của từ "chủ nghĩa cá nhân" đã làm nên một chỉ báo khách quan quý giá, là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển nhân loại nói chung và sự phát triển của cá nhân con người nói riêng
Chủ nghĩa cá nhân với sự phát triển của nó, được xem như một lời giải thích chính dẫn đến sự thay đổi của gia đình (Lewis, 2001: 8) Trong cuộc nghiên cứu của Linda Berg- Cross, Anne- Marie Scholz, Joanne Long, Ewa Grzeszcyk và Anjali Roy về “Single Professional Women: A Global Phenomenon Challenges Oppoturnities” tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Ba Lan và Ấn Độ cũng đã đưa ra một kết luận khá rõ ràng về sự tác động của chủ nghĩa cá nhân đối với sự gia tăng số lượng phụ nữ thành đạt độc thân (SPW- Single Professional Women) tại các nước này Nhiều phụ nữ cho rằng hy sinh bản thân mình hoàn toàn vì lợi ích của gia đình không phải là một lựa chọn Đặc biệt, nhiều người phụ nữ trong cuộc nghiên cứu trên cũng cho rằng nếu họ đã có một người đàn ông thì việc có một người chồng không quan trọng, hôn nhân không quan trọng Những người phụ nữ thuộc nhóm tinh hoa (SPW), họ hoàn toàn có quyền đối với cuộc sống của họ, tương lai của họ, sống vì bản thân họ mà không cần phải có mối ràng buộc nào nếu họ không muốn Họ không muốn phụ thuộc vào một người đàn ông, họ chứng minh cho xã hội thấy rằng họ có thể độc lập và có thể tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình
Thêm vào đó, sự gia tăng của chủ nghĩa cá nhân cũng làm mất dần sự hy sinh và ràng buộc đối với gia đình, cá nhân có xu hướng vị kỷ nhiều hơn Hệ quả của điều này là nhiều người không lập gia đình và sự gia tăng con số những người không kết hôn để có được sự tự do (Roona Simpson, 2003)
Sự tác động của chủ nghĩa cá nhân là một sự tác động mang tính toàn cầu, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nước Do đó, hiện tượng những phụ nữ thuộc tầng lớp tinh hoa (SPW) lựa chọn trì hoãn kết hôn hay sống độc thân là hiện tượng mang tính toàn cầu nhưng với mức độ khác nhau giữa các quốc gia Tại Việt Nam, việc phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế được cho là hệ quả của các cuộc giải phóng giai cấp Trong đó, “Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng đánh dấu mốc quan trọng, bởi không chỉ giải phóng đất nước khỏi nô lệ, mà còn giải phóng cho gia đình Các tầng lớp thanh niên và phụ nữ thoát khỏi sự coi thường và áp chế của bậc bề trên cao tuổi và của nam giới Cách mạng khơi dậy ở họ những suy nghĩ mới, những tình cảm mới, đem lại sức mạnh cho họ để vùng lên, để đứng thẳng với tư thế con người Phụ nữ không chỉ còn luẩn quẩn trong nhà làm nội trợ và tham gia sản xuất vì lợi ích gia đình mà phải đảm việc nước, việc nhà, cầm cày, cầm súng, không chịu thua kém nam giới” (Vũ Khiêu, 2000: 10) Điều này vừa mang đến hệ quả tích cực, vừa mang đến hệ quả tiêu cực đối với người phụ nữ nói riêng Việc phụ nữ được giải phóng khỏi sự áp đặt của gia đình, được tự do hơn trong quyết định, được tham gia hoạt động kinh tế có trả lương, là những điểm tích cực, dẫu trong thực tế chưa đạt được hoàn toàn nhưng đã có bước phát triển Điểm tiêu cực dễ nhận thấy là phụ nữ phải “đảm việc nước (hoạt động xã hội), việc nhà, cầm cày (hoạt động kinh tế)”, phụ nữ phải mang trên mình nhiều vai trò Do đó, để được đánh giá cao, người phụ nữ phải phấn đấu hoàn thành tốt những vai trò mà xã hội đặt cho họ Điều này tưởng chừng như giải phóng phụ nữ nhưng vô tình lại đưa họ vào tình thế khó khăn hơn Vì thế, nhiều người phụ nữ, với sự tự do cá nhân của mình, họ lựa chọn cách sống, lối sống đối với họ là hoàn hảo nhất và lựa chọn để thoát ly khỏi cuộc sống gia đình (sống độc thân, không con cái) cũng là một trong những lựa chọn đó
Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu đề cập tới chủ nghĩa cá nhân và hệ quả của nó đối với hôn nhân gia đình Sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân thể hiện ở sự thay đổi về chủ thể hưởng lợi- từ nhấn mạnh hơn đến quyền lợi xã hội, cộng đồng, tập thể sang tập trung vào những quyền lợi cá nhân (Phạm Minh Hạc, 2007)
Trong một nghiên cứu về “Toàn cầu hóa và biến đổi gia đình”, Lê Ngọc Văn đã đề cập đến tự do cá nhân như là hệ quả của toàn cầu hóa, kéo theo sự thay đổi của thiết chế gia đình Tuy nhiên, theo chúng tôi, ông đã quá đề cao vai trò của toàn cầu hóa khi cho rằng: “Trong điều kiện của toàn cầu hóa, thiết chế gia đình được xây dựng trên một tiền đề mới- tự do cá nhân” Bởi vì, tự do cá nhân là điều mà con người đã có trước khi diễn ra toàn cầu hóa Toàn cầu hóa chỉ là yếu tố làm tăng không gian của tự do cá nhân nên tự do cá nhân không phải là yếu tố hoàn toàn mới Trong xã hội truyền thống, hôn nhân có thể chỉ diễn ra giữa làng này với làng kia hay trong làng xã với nhau Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, với sự tác động của toàn cầu hóa, hôn nhân có thể diễn ra giữa những cá nhân thuộc các quốc gia, châu lục khác nhau và điều đó dẫn đến sự thay đổi lớn trong thiết chế gia đình
2 Hệ giá trị thay đổi
Qua sự phát triển của lịch sử và tiến bộ của con người, xã hội và hệ thống giá trị cũng không ngừng biến đổi Với sự tự do cá nhân, mức độ ưu tiên các giá trị sống của mỗi người trở nên khác biệt, vì vậy giá trị sống phản ánh tại sao hoặc vì sao một người làm điều này hay điều kia Chính điều này khiến chúng tôi tiến hành nghiên cứu thang giá trị của phụ nữ thành đạt tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm trả lời câu hỏi vì sao họ thường trì hoãn kết hôn và vì sao lại chọn sống độc thân.
Kết quả một số nghiên cứu (trong nước và nước ngoài) cho thấy rằng, sự thay đổi thang giá trị của phụ nữ cũng được xem như một yếu tố tác động trực tiếp dẫn tới sự gia tăng số lượng phụ nữ thành đạt sống độc thân
Trong xã hội hiện đại, hôn nhân không còn là thước đo uy tín duy nhất của một người phụ nữ; giá trị ưu tiên của họ có thể là sự nghiệp, học vấn hoặc vị trí xã hội, tùy từng thời điểm và từng cá nhân Khác với xã hội truyền thống, nơi nhiều phụ nữ đặt gia đình lên hàng đầu, sự phát triển và cơ hội mở ra khiến vị trí ưu tiên được chuyển đổi Một người có thể có giá trị ưu tiên khác nhau theo thời gian, và không ít người vẫn duy trì nguyên tắc riêng suốt các thời kỳ Điều này giải thích vì sao có người kết hôn muộn hoặc chọn sống độc thân Nhiều phụ nữ trẻ mong hoàn thành chương trình giáo dục và đạt được vị thế xã hội hoặc nghề nghiệp trước khi bước vào đời sống hôn nhân Họ cho rằng hôn nhân có thể chờ đợi và không nhất thiết phải vội vàng Hơn nữa, kết hôn sớm và có con có thể làm giảm thời gian dành cho kế hoạch cá nhân, nghiên cứu hoặc làm việc toàn thời gian, từ đó nhiều người đẩy thời điểm kết hôn xa hơn hoặc không muốn sinh con (Linda Berg- Cross, Anne- Marie Scholz, Joanne Long, Ewa Grzeszcyk và Anjali Roy, 2004)
Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã đề cập tới sự thay đổi trong thang giá trị của các cá nhân Trong ý thức của đại đa số thanh niên, nhiều giá trị được đề cao trong quá khứ nhường chỗ cho những giá trị mới (Đỗ Ngọc Hà, 2000: 22) Theo kết quả thu được thông qua đề tài KX- 07 do Viện nghiên cứu con người, Viện Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu sau gần mười năm đổi mới cho thấy các định hướng giá trị ở thanh niên, sinh viên chủ yếu biến đổi theo xu hướng: di chuyển từ những giá trị tinh thần sang những giá trị vật chất, kinh tế; từ nhấn mạnh hơn vào các quyền lợi xã hội, cộng đồng, tập thể sang tập trung vào những quyền lợi cá nhân (Phạm Minh Hạc, 2007: 3) Sự định hướng giá trị thể hiện thái độ ưa thích ủng hộ và hành động để hiện thực hóa các giá trị đó (Lãnh Thị Bích Hòa, 2009: 28) Hơn nữa, các thang giá trị về cuộc sống và sự lựa chọn giá trị ưu tiên sẽ tạo thành quan điểm sống của từng cá nhân (Đỗ Long, 1999; Đỗ Ngọc Hà, 2000) Do đó, việc xác định được thang giá trị các yếu tố quan tâm của con người nói chung và phụ nữ thành đạt nói riêng sẽ giải thích được lý do của sự hình thành các quan điểm sống và mục đích các hành động của họ Nói cách khác, việc cá nhân lựa chọn điều gì làm giá trị ưu tiên cho cuộc sống của họ thì họ sẽ hành động và định hướng cuộc sống theo giá trị đó Việc phụ nữ thành đạt lựa chọn công việc, hôn nhân hay con cái làm giá trị ưu tiên trong thang giá trị sẽ tạo thành quan điểm sống của họ đối với giá trị đó và định hướng những hành động để hiện thực hóa hay tăng khả năng hiện thực hóa giá trị ưu tiên
Khi phụ nữ từ chối các giá trị gia đình truyền thống, ví dụ tham gia lực lượng lao động để đạt thành công trong sự nghiệp, sống một mình hoặc làm mẹ đơn thân, họ bị xem là đi ngược lại chuẩn mực xã hội; điều này vẫn xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả với phụ nữ thành công về nghề nghiệp và giáo dục (Roona Simpson, 2003) Ở Việt Nam, dưới ảnh hưởng của Nho giáo và Khổng giáo, cùng với các nguyên tắc “tam tòng” và “tứ đức”, hệ giá trị gia đình đóng vai trò đặc biệt quan trọng; “tứ đức” vừa được coi là mục tiêu vừa là thước đo giá trị của người phụ nữ, trong khi thuyết “tam tòng” thể hiện sự bất bình đẳng khi phụ nữ phải phục tùng cha, chồng và con trai (Lê Thị, Đạo đức, nhân cách của phụ nữ Việt Nam xưa và nay, 2014) Do đó, khi phụ nữ lựa chọn sống độc thân hoặc không sinh con, họ dễ bị xã hội định kiến, gán nhãn là ích kỷ và bị xếp vào nhóm “bà cô không chồng”.
Từ những tổng hợp trên, thông qua bài nghiên cứu, chúng tôi muốn tìm hiểu sự thay đổi giá trị ưu tiên của phụ nữ thành đạt và mục đích của sự thay đổi đó Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu ý nghĩa của “tam tòng tứ đức” đối với phụ nữ trẻ thành đạt hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Vai trò người mẹ đang mất dần sức hấp dẫn đối với nhiều phụ nữ Ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhiều phụ nữ cho rằng vai trò “người mẹ” đang mất dần sức hấp dẫn đối với họ Đó cũng là một trong những nguyên nhân nhiều phụ nữ lựa chọn lối sống độc thân thay vì kết hôn và có con
Đối với nhiều phụ nữ, có con được xem như một trở ngại lớn trên con đường thành công, đặc biệt với những người có tư tưởng tự do và ý chí mạnh mẽ, vì họ cho rằng việc nuôi con sẽ làm giảm thời gian dành cho công việc và nghiên cứu; đồng thời họ nhận thức rằng các nhà tuyển dụng không ưu ái với phụ nữ có con nhỏ, nên việc có con có thể trở thành một rào cản đáng kể Do đó, nhiều phụ nữ trì hoãn kết hôn, độc thân, sinh ít con hoặc thậm chí không muốn sinh con, dù sau này có thể phải trả giá bằng sự cô đơn (Roona Simpson, 2003) Trong một cuộc khảo sát của ILO tại Việt Nam vào tháng 3 năm 2015 về “Bình đẳng giới trong thực tiễn tuyển dụng và thăng tiến tại Việt Nam”, kết quả cho thấy ngoài trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc, hai phần ba chủ lao động có mặt trong phỏng vấn tuyển dụng đặt câu hỏi về khả năng làm việc ngoài giờ làm việc chính thức; có tới 43% chủ lao động muốn tìm hiểu về tình trạng hôn nhân và 30% hỏi thông tin về kế hoạch sinh con.
Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
Phụ nữ thành đạt hiện nay quan niệm như thế nào về đời sống hôn nhân?
Tìm hiểu phụ nữ thành đạt ngày nay quan niệm như thế nào về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân
MT1: Tìm hiểu ý nghĩa của những yếu tố tác động đến quan điểm của phụ nữ thành đạt về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân
MT2 tập trung tìm hiểu quan điểm của phụ nữ thành đạt về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân và cách nó ảnh hưởng đến quyết định sống độc thân hay trì hoãn kết hôn Phụ nữ có sự nghiệp ổn định thường xem đời sống hôn nhân như một yếu tố bổ sung cho thành công cá nhân, nhưng đồng thời họ điều chỉnh thời điểm kết hôn dựa trên mục tiêu nghề nghiệp và sự độc lập tài chính Những yếu tố như tự do về thời gian, áp lực xã hội và sự phù hợp của người bạn đời có thể đẩy họ về hướng sống độc thân hoặc trì hoãn hôn nhân để ưu tiên phát triển bản thân Mặt khác, hôn nhân vẫn được xem là một lựa chọn có giá trị khi điều kiện phù hợp và sự đồng thuận mang lại hỗ trợ lâu dài cho cuộc sống Nghiên cứu cho thấy quan điểm của phụ nữ thành đạt rất đa dạng và quyết định kết hôn hay sống độc thân phụ thuộc vào ngữ cảnh cá nhân, mục tiêu nghề nghiệp và mức độ ưu tiên cho sự độc lập.
MT 3: Biết được tiêu chuẩn kết hôn của phụ nữ thành đạt hiện nay
MT 4: Tìm hiểu suy nghĩ của phụ nữ thành đạt về đời sống độc thân
Quan điểm của phụ nữ thành đạt hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân
Chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu quan điểm của một số phụ nữ thành đạt tại thành phố
Hồ Chí Minh làm trường hợp điển cứu vì đây là một trong những trung tâm kinh tế lớn của nước ta Hơn nữa, đây là một trong những vùng có nền kinh tế năng động nhất nước, có tỷ lệ người nước ngoài sinh sống và làm việc khá cao nên có sự giao thoa văn hóa Điều này theo chúng tôi, có ảnh hưởng tới quan điểm của phụ nữ thành đạt về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân và quan niệm của họ về các giá trị truyền thống Do đó, chúng tôi chọn Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn nghiên cứu cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp chọn mẫu: Để đảm bảo mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi chọn mẫu đồng nhất (Homogeneous samples) để có thể nghiên cứu sâu về một nhóm, một tầng lớp trong xã hội, cụ thể là tầng lớp những phụ nữ thành đạt, điển cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh Sự đồng nhất được thể hiện qua những đặc điểm nhân khẩu: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, mức thu nhập, đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, để mở rộng quy mô mẫu, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp chọn mẫu tích lũy (Snowball sampling) Thông qua đối tượng phỏng vấn, chúng tôi đề cập đến đối tượng (mẫu) cần tìm để được đối tượng phỏng vấn tiếp tục giới thiệu những người họ có quen biết và phù hợp với những đặc điểm nhân khẩu của mẫu nói trên
Việc chọn mẫu và thu thập thông tin tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu (mẫu theo mục đích) Vì vậy, khi thông tin chưa đảm bảo cho mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi tiếp tục mở rộng quy mô mẫu, nhưng khi thông tin đã đảm bảo tốt cho mục tiêu nghiên cứu, việc mở rộng mẫu được dừng lại để nghiên cứu sâu về những trường hợp có thông tin nổi bật
3 Phương pháp thâu thập thông tin:
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá quan điểm của phụ nữ thành đạt ở Thành phố Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân và tác động của những quan điểm này đến quyết định kết hôn của họ Việc thâu thập thông tin được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu trực tiếp với đối tượng và quan sát trực tiếp quá trình phỏng vấn, nhằm đảm bảo dữ liệu có chiều sâu và độ tin cậy cao Kết quả sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về vai trò của đời sống hôn nhân đối với quyết định kết hôn của phụ nữ thành đạt trong bối cảnh đô thị và gợi ý các hướng phân tích, khuyến nghị liên quan đến gia đình và sự nghiệp.
4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Phân tích dữ liệu dựa trên mô hình các tác tố của A Greimas, được đề xuất vào những năm 1960, trở thành công cụ mô tả và giải mã mọi hành động, đặc biệt là những hành động được thể hiện trong văn bản và hình ảnh Nguyên lý của mô hình này là xác định các tác tố và vai trò của chúng—nhà gửi, người nhận, đối tượng, người hỗ trợ và đối thủ—để làm rõ động cơ, mục đích và mối quan hệ giữa các yếu tố trong từng chuỗi sự kiện Nguồn tham khảo: Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012:125-126.
Trong mô hình này, một hành động được phân tích thành sáu thành tố được gọi là các tác tố (actants) Sáu tác tố này cũng được phân ra thành ba cặp đối lập, được xây dựng thành ba trục: Trục ước muốn- gồm chủ thể (phụ nữ thành đạt độc thân) và đối tượng (sự tự do và bình đẳng); trục quyền lực- gồm tác tố hỗ trợ (các yếu tố vốn: kinh tế, văn hóa, xã hội) và tác tố cản trở (hôn nhân, có con cái); trục chuyển giao- gồm tác tố yêu cầu (các yếu tố vốn) và tác tố hưởng lợi (chủ thể- phụ nữ, xã hội) Việc sử dụng mô hình này giúp chúng tôi cấu trúc bài nghiên cứu với những đường nét sơ khai để phân tích vấn đề.
Khung nghiên cứu
Khái niệm tri thức trong vốn văn hóa ở đây được cụ thể trong ba yếu tố: kiến thức về sức khỏe (độ tuổi sinh con tốt nhất), sự hiểu biết về thực trạng hôn nhân hiện nay (trong nước và nước ngoài), sự hiểu biết và đánh giá các giá trị hôn nhân truyền thống Các mối quan hệ trong vốn văn hóa bao gồm: gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Giải thích khung lý thuyết: Đi từ các yếu tố tác động như: vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội của cá nhân phụ nữ thành đạt, chúng tôi tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố này là gì và nó tác động như thế nào đến quan điểm họ về tầm quan trọng của hôn nhân Việc đánh giá của các chủ thể về tầm quan trọng của hôn nhân sẽ tác động đến tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của họ và điều đó dẫn đến quyết định kết hôn muộn hay sống độc thân.
Các khái niệm chính và thuật ngữ liên quan
Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
Quan điểm về tầm quan trọng của đời sống hôn nhân
Vốn kinh tế Vốn xã hội Vốn văn hóa
Mức thu nhập Độc lập kinh tế
Lòng tin xã hội nghiệ
Sự nhìn nhận của một cá nhân về chủ đề hay hiện tượng nào đó (Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb VHTT 1999, 1360)
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự thành đạt Tuy nhiên, cách hiểu chung nhất: Thành đạt là “đạt được những điều mà một người mong muốn” (Friedman, Greenhaus, 2000: 27) Wynn Davis (1988) cho rằng thành đạt là “đạt được kết quả tốt nhất với những gì ta đang có” Những cách hiểu trên cho thấy tiêu chuẩn về sự thành đạt là khác nhau giữa các cá nhân trong xã hội
Trong lãnh vực nghề nghiệp cũng đã có nhiều nghiên cứu về sự thành đạt và thành công trong lĩnh vực này thường được hiểu là “những kết quả tích cực về tâm lý hoặc những thành tựu về công việc mà một người đã đạt được từ kinh nghiệm làm việc của họ” (Judge, Cable, Boudreau và Bretz, 1995: 486) Tuy nhiên, theo chúng tôi, khái niệm trên chưa đủ cụ thể khi đề cập đến “những thành tựu về công việc”
Một cách định nghĩa khác về sự thành đạt theo khía cạnh khách quan và chủ quan Dưới khía cạnh khách quan, sự thành đạt gắn với những thành tựu có thể quan sát, đo lường, kiểm chứng, hoặc xác nhận bởi một bên thứ ba (Gattiker và Larwood, 1988), được biểu hiện dưới dạng tiền lương, tốc độ tăng lương, sự thăng tiến trong công việc hoặc uy quyền (London và Stumpf, 1982; Judge và Bretz, 1994; Dries, Pepermans và Carlier, 2008)
Dưới góc độ chủ quan, sự thành đạt được hiểu rộng hơn, bao gồm cả sự hài lòng trong công việc và đánh giá cá nhân về mức độ thành công của chính mình Trong thực tế, thu nhập cao và sự thăng tiến không nhất thiết làm cho một người cảm thấy tự hào hay cho rằng họ đã thành công Các nghiên cứu của Hall (2002) và Korman, Wittig‑Berman và Lang (1981) cùng Schein (1978) cho thấy yếu tố cảm nhận và thỏa mãn cá nhân mới là thước đo chủ chốt của sự thành đạt, chứ không chỉ dựa vào các chỉ số vật chất Vì vậy, thành đạt theo quan điểm chủ quan phản ánh sự hài hòa giữa kết quả công việc và sự thỏa mãn cá nhân.
Từ những quan điểm nêu trên, chúng tôi giới hạn khái niệm thành đạt trong lĩnh vực nghề nghiệp với những chỉ báo: Mức lương, chức vụ nghề nghiệp và mức độ trách nhiệm trong nghề nghiệp Để cụ thể hơn về mức lương, theo chúng tôi, mức thu nhập của phụ nữ thành đạt hiện nay vào khoảng 20.000.000VNĐ/tháng trở lên Cơ sở của điều này là quy định về mức lương cơ bản hiện hành của nước ta, được quy định trong Nghị định 103/2014/NĐ- CP với mức lương cơ bản cụ thể cho từng vùng Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng I với mức lương cơ bản cao nhất là 3.317.000VNĐ/tháng
Thêm vào đó, cuộc khảo sát về phụ nữ trung niên có thu nhập cao do nhóm nghiên cứu thị trường Viettrack thực hiện vào tháng 5 năm 2011 được tiến hành trên hai nhóm tuổi khác nhau nhằm làm rõ đặc điểm và hành vi tiêu dùng của nhóm khách hàng mục tiêu này.
Ở ba trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ có thu nhập từ 20.000.000 đồng/tháng trở lên (cụ thể 20.266.667 đồng/tháng) được xem là nhóm có thu nhập cao trong điều kiện kinh tế Việt Nam.
Từ những lập luận trên, chúng tôi đưa ra khái niệm phụ nữ thành đạt: là những phụ nữ có nghề nghiệp ổn định, mức lương cao (từ 20.000.000VNĐ/tháng trở lên) và có đảm nhận chức vụ nghề nghiệp
Theo Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2014, số 52/2014/QH13: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” Đời sống hôn nhân: đời sống được hình thành sau khi hai người kết hôn theo quy định của pháp luật Nó tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ giữa các cá nhân trong quan hệ hôn nhân gia đình (hiểu trong đề tài nghiên cứu này)
2 Các thuật ngữ liên quan
Theo từ điển Tiếng Việt, độc thân là “những người sống một mình, không lập gia đình hay những người chỉ sống một mình, không sống cùng gia đình” (Từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXBGD, 2000)
Giáo sư Lê Thi cho rằng khái niệm độc thân mang nội hàm rộng hơn nhiều so với cách hiểu thông thường Theo bà, những người độc thân là những người “chưa có vợ hay có chồng, hoặc không lấy vợ, lấy chồng theo nhiều lý do; có vợ, có chồng nhưng nay đã góa bụa, đã ly thân, ly hôn Người độc thân có thể sống một mình trong một căn nhà (hộ độc thân) hay sống cùng gia đình, bố mẹ, họ hàng, bạn bè (Lê Thi, 2002: 26)
Theo một số nhà xã hội học, lối sống độc thân là sản phẩm của những người lãng mạn thế kỷ XXI và là sự nổi loạn trước những cuộc hôn nhân mang tính toán; họ gọi hiện tượng này là “hội chứng cô đơn” Ulrich Beck là nhà xã hội học đầu tiên đề cập đến vấn đề này khi ông nói về “cá thể hóa”, cho rằng cá thể hóa chính là quá trình cá nhân tự tổ chức cuộc sống của mình và tự chịu trách nhiệm về những quyết định của chính mình.
Nhà văn kiêm doanh nhân người Mỹ Sasha Cagen, trong cuốn sách Quirkyalone, cho rằng người độc thân không phản đối cuộc sống hôn nhân, nhưng họ coi độc thân là lựa chọn có chủ đích để tránh những ràng buộc và nỗi cô đơn có thể nảy sinh trong mối quan hệ; khái niệm "Quirkyalone" mô tả người có thể tận hưởng sự tự do và độc lập cá nhân, đồng thời vẫn sẵn sàng kết nối và yêu thương khi đúng thời điểm.
Khái niệm độc thân được hiểu trong đề tài nghiên cứu: là những người không lập gia đình, không bị lệ thuộc về vật chất và tình cảm vào bất cứ ai Họ tự tổ chức cuộc sống và tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình
2.2 Trì hoãn kết hôn (kết hôn muộn):
Trì hoãn kết hôn là hiện tượng mà những người đã đủ tuổi kết hôn và được pháp luật cho phép có thể chọn sống độc thân một thời gian để theo đuổi các mục tiêu cá nhân và trải nghiệm sự tự do trước khi bước vào đời sống hôn nhân Quyết định này cho phép họ tập trung phát triển sự nghiệp, học hỏi, tích lũy tài chính và thực hiện các kế hoạch cá nhân quan trọng, đồng thời vẫn đảm bảo quyền kết hôn khi họ đã sẵn sàng.
Cơ sở lý luận
1 Thuyết tương tác biểu tượng
Lý thuyết này là một quan điểm nghiên cứu của trường phái Chicago, nghiên cứu sự hình thành cơ cấu xã hội dựa trên quá trình tác động hỗ tương của con người Dựa trên quan điểm của Mead: “Cái tôi là sản phẩm của tương tác xã hội” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012: 29), chúng tôi cho rằng quan điểm và quyết định về hôn nhân của phụ nữ thành đạt cũng bị ảnh hưởng bởi các mối tương tác trong xã hội Các mối tương tác mà các cá nhân có được trong môi trường sống và làm việc, đó là gia đình (cha mẹ, anh chị em, họ hàng), bạn bè và đồng nghiệp Bên cạnh đó, theo H Blumer: “ý nghĩa của sự vật nảy sinh từ mối tương tác xã hội giữa các cá nhân” (Lê Ngọc Hùng, 2008: 337)
Việc tương tác với các cá nhân khác hình thành quan niệm về hôn nhân, đồng thời xác định tầm quan trọng và sự cần thiết của hôn nhân trong cuộc sống Đặc biệt, sự trao đổi và tiếp xúc với những người đã kết hôn và có kinh nghiệm xây dựng gia đình sẽ ảnh hưởng tới quan điểm của phụ nữ thành đạt độc thân về hôn nhân Các mối quan hệ xã hội và các câu chuyện đời thực từ những người đã trải qua đời sống gia đình có thể làm thay đổi nhận thức và mong muốn của họ về việc lập gia đình Do đó, môi trường giao tiếp và mạng lưới quan hệ xã hội đóng vai trò định hình quyết định cá nhân của phụ nữ thành đạt độc thân về hôn nhân.
Trong một xã hội với sự phát triển không ngừng về kinh tế- xã hội đã tác động sâu sắc tới sự bền vững của gia đình, biểu hiện là tình trạng ly hôn của các cặp vợ chồng, sự đổ vỡ, tan rã của nhiều gia đình, bạo lực gia đình Đó là những thực trạng đã và đang diễn ra tại nhiều nơi trên thế giới Do đó, khi tương tác với những thông tin tiêu cực về gia đình, tương tác với một người đã ly hôn, nhất là chứng kiến sự đổ vỡ của nhiều gia đình xung quanh, ý nghĩa của hôn nhân có thể bị thay đổi trong quan niệm của phụ nữ thành đạt độc thân Từ đó, cá nhân sẽ có sự dè dặt, cân nhắc, cẩn trọng hơn trong quyết định về hôn nhân cũng như những suy nghĩ về sự cần thiết của hôn nhân đối với bản thân họ
Ngoài ra, dựa trên quan điểm của H Blumer và G Mead: “Cá nhân đối xử với sự vật trên cơ sở ý nghĩa mà sự vật đó đem lại cho họ” (Lê Ngọc Hùng, 2008: 337), để giải thích cho vấn đề nghiên cứu Như vậy, đối với những cá nhân cho rằng hôn nhân quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với họ, họ sẽ hành động để làm cho cuộc hôn nhân tương lai của họ được hoàn hảo hơn Tuy nhiên, đối với những cá nhân cho rằng hôn nhân không có ý nghĩa, họ sẽ tìm mọi phương thức và hành động để có thể đẩy lùi thời điểm kết hôn, thậm chí không bao giờ kết hôn
2 Thuyết lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý thường được xem là một lý thuyết thiên kinh tế Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây nó được xem là “Lý thuyết trong các khoa học xã hội hứa hẹn dựng nên một sự thống nhất lớn cho sự thống nhất đã tồn tại cho đến ngày hôm nay” (Coleman, 1989: 5) Hay nói cách khác, nó được xem là một mô hình lý thuyết mới giải thích được một số hiện tượng như hôn nhân, tình yêu, thậm chí có thể giải thích “những hiện tượng mang đậm tính tâm linh như tôn giáo” (Nguyễn Xuân Nghĩa, Tạp chí xã hội học số 2- 2008)
Thuyết này có nguồn gốc từ một số triết thuyết, kinh tế học, nhân học vào thế kỷ XVIII, XIX Một số nhà triết học cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các tác nhân lựa chọn hành động
Thuật ngữ "lựa chọn" nhấn mạnh sự cân nhắc và tính toán để chọn phương tiện hay cách thức tối ưu giữa các điều kiện hiện có nhằm đạt được mục tiêu khi nguồn lực khan hiếm Phạm vi của mục tiêu không chỉ dừng ở lợi ích vật chất như lãi, lợi nhuận và thu nhập mà còn mở rộng đến lợi ích xã hội và tinh thần Đại diện của trường phái này là Coleman với định đề cho rằng các tác nhân cá nhân không bị ảnh hưởng bởi người khác và không bị câu thúc bởi các chuẩn mực xã hội (Coleman, 1990: 503), đồng thời động cơ tối đa hóa lợi ích cá nhân được nhấn mạnh bởi Smelser (1997).
Dựa trên định đề của Coleman, chúng tôi cho rằng việc phụ nữ thành đạt lựa chọn lối sống độc thân hay trì hoãn thời điểm kết hôn của họ, việc họ đưa ra tiêu chuẩn về người bạn đời, cũng hệ tại ở việc tính toán đến yếu tố lợi ích mà lựa chọn đó đem lại cho họ Trong đó, theo quan điểm của lý thuyết, mỗi con người là một chủ thể duy lý trong việc xem xét và chọn lựa hành động Các yếu tố: học vấn, khả năng kinh tế của chủ thể và đặc biệt là tuổi tác, có sự tác động rất lớn tới việc suy xét, tính toán và hành động Sự hợp lý trong mỗi hành động, mỗi sự lựa chọn là do sự nhận thức chủ quan của người hành động, là do mỗi chủ thể đánh giá tính hợp lý và lợi ích của hành động đối với họ, dựa trên cơ sở đó họ lựa chọn, hành động Hành động đó có khi đi ngược với giá trị, chuẩn mực truyền thống của một xã hội nhưng với lợi ích mà nó mang lại, chủ thể vẫn sẵn sàng lựa chọn và hành động để đạt được lợi ích đó Tuy nhiên, theo chúng tôi, hành động của cá nhân không hoàn toàn độc lập với các yếu tố văn hóa, chuẩn mực và các mối tương tác nhưng vẫn chịu sự tác động ở mức độ nhất định Thông qua sự tác động đó, chủ thể có sự cân nhắc và tính toán kỹ càng hơn trước khi quyết định lựa chọn hành động và lợi ích
3 Lý thuyết cá thể hóa của Ulrich Beck
Khi đề cập đến cá thể hóa, U Beck bàn nhiều đến mặt khách quan của cá thể hóa như là điều kiện của hành động Lối sống cá thể hóa là một lối sống đặc trưng của xã hội công nghiệp, cá nhân tự chịu trách nhiệm và tự tổ chức cuộc sống của mình, dựa trên những điểu kiện vật chất họ có được Sự gia tăng mức sống và điều kiện vật chất dẫn đến sự thay đổi về cấu trúc xã hội, trong đó có hôn nhân gia đình Sự tác động của toàn cầu hóa trong xã hội công nghiệp đã tác động tới mỗi cá nhân và cuộc sống của họ: sự tiến bộ về giáo dục và gia tăng về thu nhập Điều này đặc biệt có ý nghĩa với giới nữ, bởi trong xã hội truyền thống, phụ nữ luôn bị gắn liền với gia đình, không có vị trí trong nền kinh tế của gia đình và xã hội Do đó, bước sang xã hội công nghiệp, người phụ nữ ngày càng khẳng định về địa vị và vai trò kinh tế đối với nam giới, đồng tiền tự làm ra của họ đã làm thay đổi quan hệ quyền lực trong hôn nhân gia đình Bởi đồng tiền tự làm ra không chỉ là giá trị vật chất mà còn có giá trị xã hội và biểu tượng Do đó, phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội cho những quyết định cá nhân, quyết định chọn lối sống theo họ là tốt và phù hợp nhất
4 Thuyết nữ quyền: Trường phái nữ quyền đổi mới quan điểm giới (Gender reform feminisms )
Là lý thuyết và chính trị luận đặc sắc và nổi trội vào những năm 1970s, xác định vị thế bất bình đẳng giới trong cơ cấu của trật tự xã hội giới Trường phái nữ quyền này lập luận rằng “phụ nữ nên có giá trị tương đương như nam giới và cần được tự do sống theo tiềm năng, khả năng của họ Họ được lựa chọn, được tự quyết, được kiểm soát nguồn lực kinh tế, phân bổ trách nhiệm gia đình với nam giới, và tự tin trên con đường phát triển” (Judith Lorber, 2012) Từ phong trào nữ quyền này, nhiều phụ nữ trẻ (bắt đầu ở Mỹ) chinh phục tấm bằng đại học, tham gia các hoạt động kinh tế, nghệ thuật…
Do đó họ đẩy lùi thời điểm kết hôn, lối sống độc thân của nhiều phụ nữ trẻ cũng bắt đầu từ đó
Các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, ít hoặc không có ”phong trào nữ quyền” theo đúng nghĩa của từ này Nói cách khác, Việt Nam chưa có phong trào nữ quyền theo đường lối của phong trào này ở các nước phương Tây (Hoàng Bá Thịnh, 2014) Tại Việt Nam vào thế kỷ XX, những tư tưởng đấu tranh cho phụ nữ chỉ thể hiện nhỏ lẻ trên các bài báo Sau khi thành lập Đảng, vấn đề đấu tranh, giải phóng cho phụ nữ được gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
Từ thế kỷ XX, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa và chính sách văn hóa giáo dục của Pháp, Việt Nam có sự thay đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục Khi xã hội thay đổi, tất cả đều ảnh hưởng tới phụ nữ Thời kỳ này, phụ nữ đã tham gia kinh tế, làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ, bồi bếp Đặc biệt là sự xuất hiện đội ngũ nữ trí thức: thư ký, giáo viên, nhà thơ, nhà báo
Năm 1907 trên Đăng Cổ Tùng báo- một tờ báo Tiếng Việt hiếm hoi thời bấy giờ đã xuất hiện mục “Nhời đàn bà”, phê phán tục đa thê và những quan niệm không đúng về việc phụ nữ đi học Năm 1913 trên Đông Dương tạp chí vẫn xuất hiện mục này với xu hướng dung hòa văn hóa Đông Tây, không chỉ phê phán tập quán cũ mà còn truyền bá khoa học và văn minh phương Tây Vấn đề nữ quyền được đề cập trên Đông Dương tạp chí năm 1914, đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong gia đình, cho rằng phụ nữ bị đánh giá thấp do không có học thức Quyền bình đẳng nam nữ được hiểu là “phải lưu tâm đến việc giáo dục đàn bà Cuộc đấu tranh đòi nữ quyền là cuộc đấu tranh sao cho nữ quyền chúng ta ngày càng nhớn và làm thiên hạ kinh hồn bạt vía chẳng dám khinh chi đến lũ má hồng quần lĩnh chúng ta” (Đông Dương tạp chí số ra ngày 19/2/1914, trang 6) Như vậy, vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, trải qua quá trình nhận thức từ lĩnh vực văn hóa- nữ học, giáo dục phụ nữ, sang lĩnh vực chính trị xã hội- phụ nữ và quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham chính, giải phóng phụ nữ… Đến những năm 1930, dưới ảnh hưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề nữ quyền được gắn với vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp
Với sự xuất hiện của tờ báo dành riêng cho phụ nữ là Nữ giới chung năm 1918 và sự phát triển của báo chí phụ nữ trong thập niên 1930 cùng sự tham gia của các nhà báo nữ như Sương Nguyệt Ánh, Đạm Phương, Nguyễn Thị Kiêm, Phạm Thị Nga, Vân Đài và Huỳnh Lan, ý thức về bình đẳng và tiến bộ cho phụ nữ đã hình thành như một nhận thức tự thân của chính phụ nữ Việt Nam Sau đó, nội dung đấu tranh cho quyền bình đẳng được thể hiện xuyên suốt trong các chính sách và pháp luật của nhà nước cho đến ngày nay, đặc biệt được quan tâm kể từ khi Đảng thành lập và mở ra nhiều cơ hội hơn trong giáo dục và kinh tế Tuy vậy, do ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo và Nho giáo, nhiều phụ nữ Việt Nam hiện nay vẫn đối mặt với định kiến khi tham gia vào nhịp sống hiện đại: không kết hôn, kết hôn muộn và mong muốn đi học lên cao.
Cùng chọn lối sống độc thân nhưng phụ nữ luôn chịu những cái nhìn khắt khe hơn nam giới từ xã hội Đối với xã hội, hôn nhân là điều gì đó nhất định phải xảy ra ở phụ nữ (Khuất Thu Hồng, 2014) Do đó, những phụ nữ không lập gia đình, xã hội luôn có những từ ngữ để ám chỉ, thậm chí đã trở nên quen thuộc trong đời sống: ế chồng, chồng chê, chê chồng, gái già, gái ế, bà cô không chồng, con mẹ không chồng Đó là những từ ngữ mang màu sắc định kiến nặng nề và tiêu cực Trong khi đó, xã hội không có từ ngữ nào ám chỉ người đàn ông không kết hôn Từ góc độ đó, xã hội gán cho họ những lý do của việc không kết hôn: do kén chọn, do không đàng hoàng, vô duyên mà không hiểu rằng đó là quyết định của chính bản thân người phụ nữ Trong xã hội Việt Nam hiện nay, hiện tượng độc thân, kết hôn muộn không còn xa lạ và được chấp nhận hơn trước kia Tuy vậy, những tàn dư của định kiến vẫn tồn tại mặc dù không còn quá khắt khe, kể cả khi người phụ nữ đã có quyền quyết định đối với cuộc đời mình, có điều kiện kinh tế và trình độ giáo dục cao.
Vài nét về kinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế- văn hóa quan trọng, là đô thị có quy mô dân số lớn nhất Việt Nam với 8.224,4 ngàn người (2015) Tuy nhiên trong những năm gần đây tốc độ gia tăng tự nhiên đã giảm mạnh nhưng do tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất cả nước nên thành phố thu hút nhiều lao động từ các địa phương khác (Hoàng Thị Thêu, 2011) Các nhà nghiên cứu nhận định đây chính là nguồn lực phát triển kinh tế và tạo ra nền văn hóa ngày càng đa dạng
Kinh tế TP Hồ Chí Minh trong quý I năm 2015 cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế, với tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) ước tăng 9,85% so với năm 2014, tăng 0,26 điểm phần trăm; trong mức tăng này, khu vực dịch vụ đóng góp 6,59 điểm phần trăm, công nghiệp và xây dựng 3,21 điểm phần trăm, và nông, lâm nghiệp, thủy sản 0,05 điểm phần trăm Thành phố với tính chất động lực cao thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước: từ đầu năm 2015 đến ngày 15/12/2015 có 555 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với vốn đăng ký 2.810,3 triệu USD từ 44 quốc gia và vùng lãnh thổ; tổng vốn đăng ký cấp mới và điều chỉnh đến ngày 15/12 đạt 3.636,5 triệu USD, và tổng số dự án còn hiệu lực hoạt động đến ngày 15/12 là 5.820 với tổng vốn đăng ký 39,1 tỷ USD Theo báo cáo chỉ số của Jones Lang LaSalle (JLL), TP Hồ Chí Minh được xem là thành phố có biên độ phát triển lớn nhất trong nhóm các thành phố năng động và xếp ở vị trí thứ sáu trên 120 thành phố về vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và chi tiêu cho cơ sở hạ tầng.
Như vậy sự phát triển kinh tế làm cho đời sống người dân được nâng cao, thu hút nhiều lao động từ các vùng miền khác đến đây tìm việc Hơn nữa sự đa dạng hóa các ngành nghề phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn) tạo ra nhiều cơ hội để các bạn trẻ thành công trên con đường thăng tiến sự nghiệp
Từ những tìm hiểu trên chúng tôi nhận thấy thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn thích hợp để thực hiện đề tài này
Theo kết quả điều tra dân số - lao động thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, số nam giới và phụ nữ kết hôn ở độ tuổi 25–29 nhiều nhất, lần lượt 16.284 nam và 16.423 nữ trên tổng số 92.638 người kết hôn trong năm, cho thấy phụ nữ tại TP HCM đã tăng độ tuổi kết hôn rõ rệt Tuy nhiên, số phụ nữ kết hôn ở độ tuổi 30–34 giảm mạnh còn 7.267 người, trong khi số nam giới ở cùng độ tuổi là 10.265; ở độ tuổi 35–39, số phụ nữ kết hôn là 3.208 người, thấp hơn số nam giới kết hôn cùng độ tuổi (4.972) Ở các độ tuổi 40–44 và 45–49, số phụ nữ kết hôn lần lượt là 1.556 và 816, thấp hơn nam giới là 2.674 và 1.337 Như vậy, từ độ tuổi 35 trở đi phụ nữ có tỷ lệ kết hôn thấp hơn nam giới Dữ liệu được thể hiện trong biểu đồ đi kèm.
Biểu đồ 1 Tình trạng kết hôn của dân số thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 phân theo giới tính (số người):
Nguồn: Tổng cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh 2011
Như vậy, biểu đồ cho thấy sau tuổi 30 chỉ một bộ phận nhỏ phụ nữ tiến tới hôn nhân, và mức độ này thấp hơn so với nam giới Điều này cho thấy từ độ tuổi 30, phụ nữ độc thân có xu hướng chiếm tỉ lệ cao hơn so với nam giới, phản ánh một xu hướng độc thân ở phụ nữ ở độ tuổi này và có thể ảnh hưởng đến các kế hoạch gia đình và hôn nhân.
50 nam nữ xu hướng sống độc thân cao hơn nam giới Tuy nhiên, từ độ tuổi 50, số phụ nữ kết hôn tăng dần lên (tuy không nhiều) Do đó có thể thấy đối với nhiều phụ nữ, sống độc thân chỉ là lựa chọn tạm thời trong một giai đoạn nhất định của cuộc đời, họ vẫn thay đổi quyết định và tiến đến hôn nhân vào một thời điểm họ cảm thấy cần có một gia đình của riêng họ
3 Những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện nghiên cứu
Thuận lợi: Chúng tôi không gặp khó khăn nhiều trong quá trình liên hệ với đối tượng phỏng vấn Thời gian xắp xếp các buổi phỏng vấn khá thuận lợi, đối tượng cũng không quá khó khăn trong việc chia sẻ thông tin và tạo mối quan hệ, giữ liên lạc để bổ sung thông tin nếu cần thiết
Khó khăn: Do đối tượng nghiên cứu là những người “phụ nữ thành đạt độc thân” nên việc xắp xếp thời gian cho các cuộc phỏng vấn có một số khó khăn do đối tượng không có thời gian, đi công tác Hơn nữa, một số trường hợp tỏ ra e ngại khi được giới thiệu và không hợp tác nên nhóm phải liên tục liên hệ để tìm kiếm đối tượng Bên cạnh những người dễ dàng chia sẻ thông tin, cũng có những người tỏ ra ngại ngùng, nhất là khi đề cập tới Sextoy Vấn đề tìm tài liệu tham khảo cũng là một vấn đề khá khó khăn, bởi chưa có tài liệu nào ở Việt Nam nghiên cứu chính thức về vấn đề độc thân và nghiên cứu liên quan đến phụ nữ thành đạt Hơn nữa, việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu và phỏng vấn cũng làm cho chúng tôi khá bỡ ngỡ trong một số cuộc phỏng vấn đầu tiên Đó là những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi thực hiện nghiên cứu.