Mục tiêu đề tài: Thông qua tìm hiểu và phân tích số liệu về tình hình trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi, tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng, cũng như những thuận lợi, khó kh
Trang 2Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Quyền Nam, Nữ: Nam
Châu Bảo Trân Nam, nữ: Nữ
Trang 3-
Đề tài “Phát triển nghề trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi: thực trạng và giải pháp” là một công trình khoa học của chính chúng tôi Tôi xin cam đoan số liệu thu thập
và dùng trong phân tích của đề tài hoàn toàn trung thực, khách quan
Tất cả các tài liệu tham khảo trong luận văn đều có trích dẫn nguồn rõ ràng và có nêu trong tài liệu tham khảo Những nhận định, ý kiến nêu trong đề tài hoàn toàn là của chúng tôi, không sao chép của bất kì tác giả nào
Tập thể tác giả
Nguyễn Văn Quyền Châu Bảo Trân Phạm Thị Trúc Thuỳ
Trang 4Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, trước tiên, chúng tôi xin được trân trọng cảm
ơn TS Nguyễn Minh Đức – Giảng viên hướng dẫn của chúng tôi Thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu này Chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn chị Lê Thị Đỏ, chị đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ chúng tôi để hoàn thành đề tài nghiên cứu trong suốt thời gian qua
Chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu CTĐTĐB, đặc biệt là anh Nguyễn Hồng Đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện đề tài này, xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giảng viên đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức qúy báu cho chúng tôi trong thời gian qua
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Trạm Khuyến nông Bình Chánh, Trạm Khuyến nông Củ Chi đã tạo điều kiện thuận cho chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã hỗ trợ, động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tập thể tác giả
Nguyễn Văn Quyền Châu Bảo Trân Phạm Thị Trúc Thùy
Trang 5………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
Trang 7………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
…… ………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 8Đề tài nghiên cứu “Phát triển nghề trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi: thực trạng và giải pháp” thực hiện nhằm mục đích cung cấp những kiến thức về tình hình trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi, làm rõ những mặt thuận lợi và khó khăn của người dân trồng lan trên địa bàn 2 huyện, từ đó gợi ý chính sách phát triển ngành lan tại địa phương
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp: phân tích định tính, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp chỉ tiêu hoàn thành KPI và mô hình IPA
Số liệu được đưa vào phần mềm Excel để xử lý, tính toán các chỉ tiêu và phân tích số liệu
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cho chính quyền địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ trồng lan yên tâm sản xuất, góp phần phát triển ngành lan địa phương
Đề tài nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý trong việc hỗ trợ người trồng lan hay xa hơn là ban hành và thực thi các chính sách
có liên quan Đề tài cũng có giá trị tham khảo đối với những hộ muốn bắt đầu nghề trồng lan hay bất cứ ai quan tâm đến ngành lan Dù đã cố gắng rất nhiều, đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được sự phê bình, đóng góp từ quý thầy cô
và bạn đọc
Trang 9Tóm tắt đề tài (i)
Mục lục (ii)
Danh mục bảng (iv)
Danh mục chữ viết tắt (v)
Chương 1: Tổng quan (1)
1.1 Đặt vấn đề (1)
1.2 Câu hỏi nghiên cứu (2)
1.3.Mục tiêu của đề tài nghiên cứu (2)
1.4.Đối tượng nghiên cứu (3)
1.5.Phạm vi nghiên cứu (3)
1.6.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài (4)
Chương 2: Cơ sở lý luận (5)
2.1 Các khái niệm (5)
2.2 Các nghiên cứu trước (7)
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu (9)
3.1 Nguồn dữ liệu (9)
3.2 Mẫu khảo sát (9)
3.3 Phương pháp nghiên cứu (9)
Chương 4: Tổng quan tình hình phát triển của ngành lan (13)
4.1 Nông nghiệp đô thị (13)
4.1.1 Sự phổ biến của nông nghiệp đô thị tại một số nước trên Thế Giới (13) 4.1.2 Vai trò của Nông nghiệp đô thị với chiến lược phát (13)
triển bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay 4.1.3 Nông nghiệp đô thị của thành phố Hồ Chí Minh (16)
4.2 Dự báo khả năng tiêu thụ và khả năng cung ứng Hoa lan trên địa bàn thành phố (19) 4.3 Đánh giá thực trạng sản xuất - kinh doanh hoa lan
Trang 10Tp.HCM và những kết quả đạt được (22)
4.5 Chính sách của thành phố trong phát triển hoa lan ở đô thị (23)
4.6 Triển vọng của nghề trồng hoa lan (28)
4.7 Tổng quan về hoa lan ở Bình Chánh và Củ Chi ( 29)
4.7.1 Bình Chánh (31)
4.7.2 Củ Chi (35)
4.7.3 Phân tích SWOT chung cho Củ Chi và Bình Chánh (39)
4.7.4 Giải pháp thương hiệu (41)
Chương 5: Kết quả nghiên cứu (44)
5.1 Khảo sát các hộ trồng lan và các chuyên gia (44)
5.2 Kết quả phân tích định tính qua phỏng vấn chuyên gia (44)
5.3 Kết quả thống kê mô tả (49)
5.4 Kết quả phân tích các chỉ tiêu hoàn thành KPI (57)
5.5 Kết quả phân tích mô hình mức độ quan trọng – mức độ thể hiện IPA (60)
Chương 6: Kết luận và gợi ý chính sách (63)
Trang 11Bảng 5.1: Bảng thống kê một số chỉ tiêu tổng quát về tình hình trồng lan tại Bình Chánh và Củ Chi (45) Bảng 5.4: Bảng tổng hợp đánh giá của người trồng lan tại
Bình Chánh về mức độ hoàn thành của các chỉ tiêu (56) Bảng 5.5: Bảng tổng hợp đánh giá của người trồng lan tại
Củ Chi về mức độ hoàn thành của các chỉ tiêu (56)
Trang 12HTX: hợp tác xã
TTKN TpHCM: Trung tâm Khuyến nông thành phố Hồ Chí Minh
UBND: Ủy ban nhân dân
Viện CNSH TpHCM: Viện Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Phát triển nghề trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi: thực trạng
và giải pháp”
- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Quyền; Châu Bảo Trân; Phạm Thị Trúc Thùy
- Lớp: QT11DB01 Khoa: CTĐTĐB Năm thứ:02 Số năm đào tạo: 04
- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Minh Đức
2 Mục tiêu đề tài:
Thông qua tìm hiểu và phân tích số liệu về tình hình trồng hoa lan tại Bình Chánh
và Củ Chi, tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng, cũng như những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển của ngành Từ đó đề ra những giải pháp để phát triển ngành trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi Cụ thể:
+ Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng với mức độ ảnh hưởng tương ứng đến sự phát triển của hoa lan ở Bình Chánh và Củ Chi;
+Phân tích được thuận lợi và khó khăn của ngành trồng hoa lan Bình Chánh và Củ Chi;
+ Gợi ý một số giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích các ảnh hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến sự phát triển của ngành, từ đó phát triển nhanh, mạnh và bền vững ngành trồng hoa lan ở
Củ Chi và Bình Chánh
3 Tính mới và sáng tạo:
Đề tài nghiên cứu “Phát triển nghề trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi: thực trạng và giải pháp” là một trong số ít những đề tài nghiên cứu về ngành lan tại Bình Chánh và Củ Chi trong xu thế ngành lan đang phát triển mạnh tại 2 địa
phương này
Trang 14Đề tài nghiên cứu áp dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia; phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích chỉ tiêu hoàn thành KPI; phương pháp mô hình mức độ quan trọng – mức độ thể hiện IPA và đã đạt đươc các mục tiêu đặt ra ban đầu:
+ Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng với mức độ ảnh hưởng tương ứng đến sự phát triển của hoa lan ở Bình Chánh và Củ Chi;
+Phân tích được thuận lợi và khó khăn của ngành trồng hoa lan Bình Chánh và Củ Chi;
+ Gợi ý một số giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích các ảnh hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến sự phát triển của ngành, từ đó phát triển nhanh, mạnh và bền vững ngành trồng hoa lan ở
Củ Chi và Bình Chánh
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng
và khả năng áp dụng của đề tài:
Sau đây là một số đóng góp có thể kể đến của đề tài nghiên cứu:
+ Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý có liên quan trong việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển ngành trồng hoa lan trên địa bàn
2 huyện Bình Chánh và Củ Chi nói riêng và các huyện ngoại thành TpHCM nói chung
+ Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những cá nhân muốn bắt đầu sự nghiệp trồng lan
+ Đề tài cung cấp một góc nhìn tổng quát về ngành trồng lan Bình Chánh, Củ Chi cho những ai quan tâm
Trang 15Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 16TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Văn Quyền
Sinh ngày: 11 tháng 06 năm 1993
Nơi sinh: TP.HCM
Lớp: QT11DB01 Khóa: 2011-2015
Khoa: CTĐTĐB
Địa chỉ liên hệ: A8/1A, ấp 1, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, TP.HCM
Điện thoại: 01636440864 Email: vanquyenkim93@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang học):
Ngành học: Quản trị kinh doanh quốc tế Khoa: CTĐTĐB
Kết quả xếp loại học tập: Chưa có
Trang 18Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, phát triển chủ yếu nhờ nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước trong vài thập niên trở lại đây, nền nông nghiệp vẫn đóng vai trò rất quan trọng Đặc biệt, trong thời kì kinh tế suy thoái, nông nghiệp vẫn phát triển tốt, đóng vai trò là trụ đỡ trong phát triển kinh tế nước nhà Điển hình trong năm 2011, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng tốc độ tăng trưởng nông nghiệp vẫn đạt 3% (Nguồn http://agro.gov.vn/news/tID22548_Nam-2011-nong-nghiep-tang-truong-an-tuong.htm).
Thuộc về lĩnh vực nông nghiệp, ngành trồng hoa lan đã tỏ ra là một ngành rất triển vọng Hoa lan với giá trị kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập khấm khá cho người trồng Điển hình, trong những năm trở lại đây, ngành trồng hoa lan tại Củ Chi và Bình Chánh phát triển khá nhanh, với diện tích lan năm 2011 lần lượt là trên 102 ha và trên 25 ha Đặc biệt, trong dịp Tết Quý Tỵ 2013, lan bất ngờ trở thành loài hoa được ưa chuộng không kém gì mai, đào, số lượng người mua lan chưng Tết cao hơn hẳn mọi năm Từ đầu tháng Chạp âm lịch, nhiều cửa hàng bán hoa ở nhiều con đường lớn nhỏ như: Phạm Văn Đồng, Phan Bội Châu, Hùng Vương… đã tranh thủ nhập một số lượng khổng lồ hoa lan
Trang 19các loại về phục vụ nhu cầu khách hàng Không khí xuân đã về rất sớm bên những chậu hoa lan với sức mua tăng mạnh.Chỉ cần tìm hiêu sơ lược về ngành trồng lan trong những năm gần đây, có thể thấy, đây là ngành có triển vọng phát triển rất lớn Do đó, hoa lan sẽ trở thành đối tượng thu hút sự quan tâm của đông đảo mọi người trong tương lai không
ở Bình Chánh và Củ Chi: thực trạng và giải pháp”
1.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nội dung của đề tài nghiên cứu hướng đến trả lời các câu hỏi: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành trồng hoa lan ở Bình Chánh, Củ Chi là gì? Với mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố ra sao?; Những thuận lợi, khó khăn của ngành trồng hoa lan ở Bình Chánh, Củ Chi hiện nay ra sao?; Những giải pháp nào có thể được áp dụng để thúc
đẩy ngành trồng hoa lan ở Bình Chánh, Củ Chi phát triển?
1.3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Thông qua tìm hiểu và phân tích số liệu về tình hình trồng hoa lan tại Bình Chánh và
Củ Chi, tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng, cũng như những thuận lợi, khó khăn
Trang 20trong quá trình phát triển của ngành Từ đó đề ra những giải pháp để phát triển ngành trồng hoa lan tại Bình Chánh và Củ Chi Cụ thể:
+ Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng với mức độ ảnh hưởng tương ứng đến sự phát triển của hoa lan ở Bình Chánh và Củ Chi;
+Phân tích được thuận lợi và khó khăn của ngành trồng hoa lan Bình Chánh và Củ Chi;
+ Gợi ý một số giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích các ảnh hưởng tích cực và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến sự phát triển của ngành, từ đó phát triển nhanh, mạnh và bền vững ngành trồng hoa lan ở Củ Chi và Bình Chánh
1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
+ Các hộ trồng lan trên địa bàn 2 huyện Củ Chi và Bình Chánh Trong đó các hộ trồng lan được chọn có diện tích trồng khác nhau nhằm đảm bảo tính thực tế của đề tài;
+ Các cơ quan quản lý các cấp liên quan đến nông nghiệp thuộc TpHCM, huyện Bình Chánh và Củ Chi; các tổ chức nghề nghiệp liên quan đến hoa lan; các chính sách Nhà nước liên quan đến sản xuất, kinh doanh hoa lan
1.5.1 Phạm vi địa lý
Nghiên cứu được thực hiện ở Bình Chánh và Củ Chi vì đây là 2 huyện ngoại thành TpHCM có ngành trồng hoa lan phát triển nhanh, diện tích trồng hoa lan lớn và đồng thời, đây là 2 huyện được UBND TpHCM ưu tiên phát triển nông nghiệp
1.5.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trang 21Đề tài chi tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng, phân tích những thuận lợi và khó khăn trong qúa trình phát triển ngành, từ đó đề ra giải pháp để phát triển ngành trồng hoa lan ở Củ Chi và Bình Chánh Đề tài không phân tích kỹ lưỡng và chi tiết các yếu tố thuộc về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh hoa lan cũng như các yếu tố thuộc về kỹ thuật trong quá trình trồng hoa lan
1.6 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Sau đây là một số đóng góp có thể kể đến của đề tài nghiên cứu:
+ Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý có liên quan trong việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển ngành trồng hoa lan trên địa bàn 2 huyện Bình Chánh và Củ Chi nói riêng và các huyện ngoại thành TpHCM nói chung;
+ Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những cá nhân muốn bắt đầu sự nghiệp trồng lan;
+ Đề tài cung cấp một góc nhìn tổng quát về ngành trồng lan Bình Chánh, Củ Chi cho những ai quan tâm
Trang 22CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOA LAN
Giới thiệu chung
Họ Lan, hay họ Phong lan, (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales), lớp thực vật một lá mầm Họ Phong lan là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có các thành viên mọc trên toàn thế giới, ngoại trừ châu Nam Cực; có cây hoa lan sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất cũng như
có cây hoa lan sống tại vùng cao nguyên của dãy núi Himalaya; hoa lan có thể tìm thấy tại các vùng có khí hậu nhiệt đới như trong rừng già của Brasil đến các vùng có tuyết phủ trong mùa đông như tại bình nguyên của Manitoba, Canada Các loài lan chủ yếu mọc trên cây cao, sống biểu sinh lâu năm Chúng được gọi chung là phong lan Bên cạnh đó cũng có các loài mọc trong đất, tức là địa lan và có một số loài mọc trên đá tức thạch lan Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học Số lượng loài lan cao gấp 4 lần số lượng loài động vật có vú hay hơn 2 lần
số lượng loài chim Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa Khoảng 800 loài lan mới được bổ sung thêm mỗi năm Các chi lớn nhất là Bulbophyllum (khoảng 2.000 loài), Epidendrum (khoảng 1.500 loài), Dendrobium (khoảng 1.400 loài) và Pleurothallis (khoảng 1.000 loài) Họ này cũng bao gồm chi Vanilla (chi chứa loài cây vani), Orchis (chi điển hình) và nhiều loài được trồng phổ biến như Phalaenopsis hay Cattleya
Dendrobium farinatum là một loài lan rừng, mới được phát hiện (2012) và chỉ có ở Việt Nam Trên thực tế nó được đưa vào Đức trước đó từ Việt Nam, và được các nhà khoa học Đức chứng thực Tuy nhiên, do nguồn lan nhập vào nước Đức không phải mẫu thu trực tiếp ở rừng nên họ không biết đích xác vùng sinh thái phân bố Cho đến khi
Trang 23chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Sinh học nhiệt đới, khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà và Vườn thực vật Praha thực hiện khảo sát mới tìm ra vị trí phân bố của loài lan trên tại khu bảo tồn Hòn Bà (Khánh Hòa, ở độ cao 1.200-1.500m)
Theo khảo sát ban đầu thì loài lan này ra hoa vào tháng 7 trong năm Hiện chỉ phát hiện loài Dendrobium farinatum tại khu vực sinh thái Khánh Hòa, các nhà khoa học đang tiến hành khảo sát đánh giá vùng phân bố và sinh thái của loài lan này trong tự nhiên nhằm đưa ra giải pháp bảo tồn cho loài lan đặc hữu của Việt Nam
Mokara Orchid là một lai trigeneric giữa Orchids Ascocentrum, Vanda và Arachnis Tạo ra tại Singapore vào năm 1969, Mokara bây giờ là phổ biến như cha mẹ của nó Lai Mokara đầu tiên được gọi là Mokara Wai Liang, được đặt tên sau khi CY Mok của Xin-ga-po Lai hearty có một hình dạng hoa độc đáo và khả năng kéo dài đến hai hoặc ba tuần trong bình với việc chăm sóc thích hợp
Mokara là một phong lan Vandaceous Điều quan trọng là phải nhớ rằng tất cả các hoa lan Vandaceous là thói quen tăng trưởng monopodial Nghĩa là, họ phát triển từ đầu hoặc vương miện của nhà máy Các chùm hoa xuất hiện từ trên trục của lá Hoa được lâu dài và xuất hiện trong một cụm dọc theo cành
(Nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8D_Phong_lan)
Một số đặc tính được ưa chuộng
Hoa lan được người tiêu dùng ưa chuộng vì vẻ đẹp đặc sắc và các hình thức đa dạng của chúng Cũng giống như cây lan, hoa lan hầu như có tất cả các màu trong cầu vồng và những kết hợp của các màu đó Hoa lan nhỏ nhất chỉ bằng hạt gạo trong khi hoa lan lớn nhất có đường kính khoảng 1 m
Đa số các loại hoa lan được bán rộng rãi trên thị trường thường không có hương thơm nhưng trong tự nhiên có rất nhiều loại hoa lan có mùi thơm đặc trưng Vanilla là một loại hoa lan mà hương thơm được dùng trong các loại ẩm thực của thế giới và có nguồn gốc từ Mexico; trong khi đó có các loại hoa lan tỏa ra mùi như thịt bị hỏng để hấp dẫn các côn trùng
Trang 24Tóm lại, hoa lan sở dĩ được nhiều ưa chuộng là vì:
+ Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang, sọc, vằn thẩy đều không thiếu;
+ Hình dáng thực là khác trăm ngàn hình dạng khác nhau, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi = lip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt,có loại cụp vào, có loại xoè
ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong (Ophrys insectifera) Hoa lan có những bông nhỏ như đầu chiếc kim gút nhưng cũng có bụi lan Grammatophylum speciosum ở Phi luật thân cao gần 10 thước, dò hoa dài chừng 2 thước và nặng chừng một tấn Lan này cũng mọc tại Việt nam nhưng chỉ cao độ 2-3 thước và mang tên Thanh Tuyền;
+ Hương lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả cho nên các bà,các cô đã phải trả một giá rất đắt cho bình nước hoa nhỏ síu Tại Thái lan có một loại Vanda đươc giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một nhà sản xuất nước hoa danh tiếng Nếu hoa lan sớm nở, tối tàn thì dù cho có hương, sắc đến đâu cũng không thể nào được liệt vào loài hoa vương giả Hoa lan nếu được giữ đúng nhiệt độ và ẩm độ có thể còn đươc nguyên hương, nguyên sắc
từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những thứ lâu đến 4 tháng, có những thứ nở hoa liên tiếp quanh năm, nhưng cũng có loại chỉ 1-2 ngày đã tàn phai hương sắc
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC:
2.2.1 Nghiên cứu của Lê Đặng Trung Tuyến, Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2003): “Hiện trạng sản xuất Hoa Lan và nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng Lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm tại Khánh Hoà”
Bằng phương pháp phỏng vấn điều tra, thí nghiệm, ngoài việc đánh giá được điều kiện
tự nhiên, điều tra thực trạng một số loại phân bón và giá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng
Trang 25của trồng lan, đề tài còn cung cấp những thông tin quý về thực trạng nuôi trồng lan tại tỉnh Khánh Hòa
2.2.2 Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng (2008): “Nghiên cứu khả năng phát triển
kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên”
Bằng phương pháp điều tra khảo sát, nghiên cứu đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, đó là các yếu tố về điều kiện tự nhiên,điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý, các nhân tố về khoa học kĩ thuật công nghệ và các nhân tố thuộc về vĩ mô của Nhà nước, đồng thời, đề tài cũng đã cung cấp được một tầm nhìn sơ lược về tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 26+ Dữ liệu sơ cấp: được thu thập thông qua phrng vấn các hộ trồng lan trên địa bàn huyện Bình Chánh và Củ Chi, các cán bộ quản lý có liên quan
3.2 MẪU KHẢO SÁT
Đối với các hộ trồng lan: kích thước mẫu là 20 hộ (8 hộ ở Bình Chánh và 12 hộ ở Củ Chi) Các hộ được chọn ngẫu nhiên và phân tán theo địa lý dựa trên bảng thống kê các hộ trồng lan, sao cho diện tích trồng lan của mỗi hộ là tương đối không đồng nhất để đảm bảo tính thực tế của đề tài
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đầu tiên, phương pháp định tính sẽ được áp dụng với hình thức phỏng vấn chuyên gia Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 3-5 chuyên gia, các nhà quản lý lĩnh vực nông nghiệp để thu thập ý kiến, các hướng dẫn Đồng thời, xem đó như những đóng góp hữu ích để hoàn thiện hơn bảng câu hỏi dành cho hộ trồng lan và các cơ sở mua bán hoa lan
Trang 27Sau đó, bảng khảo sát sẽ được đưa vào khảo sát thử đối với 5 hộ trồng lan để phát hiện và sửa chửa, bổ sung những sai lệch, thiếu sót của bảng câu hỏi Sau khi đã có được bảng câu hỏi tương đối hoàn thiện, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn điều tra để thu thập
số liệu Sau khi khảo sát xong, tiến hành sàn lọc, mã hóa và nhập dữ liệu vào phần mềm Excel Sau đó, kiểm tra lại dữ liệu một lần nữa Cuối cùng, tiến hành phân tích dữ liệu và
đề ra giải pháp
Kết quả nghiên cứu có được trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp phân tích định tính các ý kiến của các chuyên gia, phương pháp thống kê mô tả các tiêu chí tổng quát về tình hình trồng lan trên địa bàn 2 huyện Củ Chi và Bình Chánh, phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoàn thành KPI và ứng dụng mô hình mức độ quan trọng – mức độ thể hiện IPA trong việc phân tích các yếu tố có vai trò quyết định đến sự phát triển của ngành hoa lan trên địa bàn 2 huyện Bình Chánh và Củ Chi
3.3.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoàn thành KPI
Giới thiệu : theo Trịnh Thùy Anh (Trường Đại học Mở TP.HCM) và Trần Thị Thanh Huyền (Học viện Hàng không Việt Nam), phương pháp KPI (Key Performance Index – chỉ tiêu hoàn thành), xuất phát từ yêu cầu đo lường các kết quả thực hiện trong doanh nghiệp, đã được giới thiệu tại Mỹ từ những năm 80, sau đó cùng với sự ra đời của thẻ điểm cân bằng của 2 tác giả Robert S.Kaplan và David Norton, KPI được sử dụng trên thế giới như là một phương thức hữu hiệu để đo lường kết quả hoàn thành của hoạt động thôn qua việc thiết lập hệ thống các thước đo hiệu suất
Xây dựng các chỉ tiêu hoàn thành KPI
Dựa vào hoàn cảnh thực tế của người trồng lan trên địa bàn 2 huyện Bình Chánh và
Củ Chi hiện nay, nghiên cứu đưa ra 6 KPI cụ thể có vai trò quyết định đến sự phát triển của ngành lan 6 chỉ tiêu này là: (1) Vốn,(2) Khoa học kĩ thuật,(3) Giống, (4)Tiêu thụ,(5)Điều kiện tự nhiên, (6)Cung cấp thông tin Căn cứ vào điểm đánh giá của các hộ
Trang 28trồng lan về Mức độ quan trọng và Mức độ thể hiện, mức độ hoàn thành của các KPI được đánh giá như sau:
Mức độ hoàn thành KPI = Mức độ thể hiện*Mức độ quan trọng
3.3.2 Mô hình mức độ quan trọng – mức độ thể hiện IPA
Giới thiệu:
Theo Trịnh Thùy Anh và Trần Thị Thanh Huyền, mô hình IPA (Important Perfomance Analysis) là mô hình phân tích mức độ quan trọng và mức độ thể hiện của các tiêu chí Trên thế giới đã sử dụng khá phổ biến mô hình IPA mang lại những kết quả đáng kể như đánh giá chất lượng “dịch vụ Chính phủ điện tử của Nhật Bản” được thực hiện bởi Meng Seng; Hideki, Nishimoto vào ngày 01 tháng 08 năm 2011, hay trong việc đánh giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe” đăng trên tạp chí Journal of Service Science and Management (JSSM) ngày 1 tháng 6 năm 2010
Xây dựng mô hình IPA
Căn cứ vào diểm đánh giá của các hộ trồng lan về Mức độ quan trọng và Mức độ thể hiện, các tiêu chí được sắp xếp vào mô hình IPA như trong hình sau:
Trang 29Mức độ thể hiện
Cao
Thấp
Thấp Cao
“Tập trung phát triển” “Duy trì thể hiện”
“Hạn chế phát triển” “Giảm sự đầu tư”
Trang 30CHƯƠNG 4
TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT-KINH DOANH HOA LAN TẠI TPHCM NÓI CHUNG VÀ 2 HUYỆN BÌNH CHÁNH, CỦ CHI
NÓI RIÊNG
4.1 NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
Nền nông nghiệp truyền thống yêu cầu sự đầu tư rất lớn, từ nước tưới tiêu cho đến thuốc trừ sâu, phân bón… Sau khi nông sản được thu hoạch từ các cách canh tác truyền thống này, chúng phải được bảo quản, đông lạnh và vận chuyển tới nơi tiêu thụ Các quá trình này gây ra ô nhiễm môi trường rất lớn Nông nghiệp đô thị thẳng đứng có thể giải quyết được vấn đề này và làm thay đổi môi trường đô thị theo chiều hướng tốt đẹp tại các thành phố
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, đô thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan Bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội đáng ghi nhận của quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của khu vực đô thị, góp phần nâng cao mức sống của một số bộ phận dân cư, thì đô thị hóa cũng làm nảy sinh nhiều nhiều vấn đề phức tạp cần sớm được giải quyết như: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi trường; vấn đề an toàn
về lương thực, thực phẩm, vấn đề cảnh quan đô thị… Đây là các yếu tố đe dọa sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị hiện nay Một thực tế hiện nay của quá trình đô thị hóa ở nước ta là diễn ra trên diện rộng nhưng các yếu tố kinh tế đô thị làm động lực cho
đô thị hóa thì còn nhiều khó khăn chỉ chú trọng đô thị hóa theo chiều rộng mà ít dựa vào động lực nội tại – chiều sâu Đô thị hóa trong điều kiện nền tảng như vậy càng làm cho
Trang 31các khó khăn nội tại như trên của các đô thị thêm phần căng thẳng và khó khăn trong việc tìm ra các giải pháp khắc phục Dựa trên những ưu thế nổi bật trong việc phân tích vai trò của nông nghiệp đô thị cùng với việc tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm nhiều đô thị trên Thế Giới đã áp dụng chúng tôi nhận thấy phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một động lực nội tại rất quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị của Việt Nam hiện nay
4.1.1 Sự phổ biến của nông nghiệp đô thị tại một số quốc gia trên Thế Giới
Mặc dù chỉ mới phát triển mạnh từ những năm 70 của thể kỉ XX trở lại đây song nông nghiệp đô thị đã góp phần rất lớn trong chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trên thế giới Từ cuối thế kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008 “gần 1/3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là từ nông nghiệp đô thị, 25 - 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị” (Báo cáo của FAO: Tổng quan tình hình lương thực thế giới 2008.) Rất nhiều đô thị nổi tiếng trên thế giới phát triển mạnh về nông nghiệp đô thị Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%, Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu , nông nghiệp đô thị, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân
(Nguồn http://www.agroviet.gov.vn/Pages/news_detail.aspx?NewsId=16574)
4.4.2 Vai trò của Nông nghiệp đô thị với chiến lược phát triển bền vững của các
đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay
i Nông nghiệp đô thị góp phần cung ứng nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống tại chỗ cho các đô thị
Trang 32An ninh lương thực và an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề đã và đang rất được quan tâm hiện nay tại các đô thị, đặc biệt là những người có thu nhập thấp tại các đô thị của các nước đang phát triển như nước ta Có vẻ là nghịch lý nếu đưa ra nhận định này nhưng trên thực tế lại là rất khách quan Quy mô dân số đô thị không ngừng gia tăng trong quá trình
đô thị hóa, quá trình này cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ven đô vào tình thế mất tư liệu sản xuất chính và vấn đề gia tăng các hộ khó khăn, hộ thu nhập thấp ở khu vực đô thị càng ngày càng khó kiểm soát Bản thân nguồn cung lương thực thực phẩm chất lượng cao với giá đắt đỏ chỉ hướng đến các hộ thu nhập cao vì vậy nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực cơ bản đáp ứng cho các hộ khó khăn ngày càng trở nên hiện hữu Vì vậy phát triển nông nghiệp đô thị là cứu cánh duy nhất cho vấn đề này Người dân nông thôn có thể
tự sản xuất được các nhu cầu lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong ngày còn người dân nghèo đô thị thì không thể mua được lương thực thực phẩm nếu không có tiền
Do vậy nguy cơ thiếu lương thực, dinh dưỡng ở người dân thành thị lớn hơn so với nông thôn, nhất là trong điều kiện giá cả các mặt hàng thiết yếu gia tăng mạnh như hiện nay Trong điều kiện hiện nay, khái niệm nghèo đói không chỉ dành riêng cho khu vực vùng núi, vùng sâu vùng xa mà hiện hữu ngay tại các vùng ven đô thị, và đây là vấn đề chung, khách quan trong tiến trình đô thị hóa Để đảm bảo phát triển bền vững, giảm khoảng cách quá xa trong nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu của người dân đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một giải pháp quan trọng hiện nay Nếu tổ chức tốt việc sản xuất được quy hoạch hợp lý, nông nghiệp đô thị có thể tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống và an toàn, tại chỗ góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị
ii Nông nghiệp đô thị tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư ở đô thị
Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của các đô thị mà vấn đề thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô diễn ra phổ biến Người dân mất tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có trình độ, vốn hạn
Trang 33chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp rất thấp vì vậy vấn đề việc làm cho người lao động, nhất là những gia đình ven đô càng trở nên cấp thiết Những người đàn ông có thể làm các nghề tạm để kiếm sống nhưng trong gia đình phụ nữ, người già và trẻ em sẽ làm được gì? Bên cạnh đó, làn sóng di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị để tìm kiếm việc làm cũng gia tăng nhanh chóng Trong vấn đề này với Nông nghiệp đô thị, nếu được quan tâm và có quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư để góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán việc làm và thu nhập trong tiến trình đô thị hóa Ước tính hiện có khoảng 800 triệu dân cư trên thế giới kiếm sống nhờ sản xuất thức ăn, lương thực từ nông nghiệp đô thị Ngoài ra, hình thức nông nghiệp này còn tạo cơ hội liên kết với các DN chế biến quy mô nhỏ sản xuất những thực phẩm cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao, có thể xuất khẩu
iii Nông nghiệp đô thị góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm ô
nhiễm môi trường
Nông nghiệp đô thị có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới, cho sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng việc làm giảm ô nhiễm môi trường Chất thải đô thị đang thực sự tạo thành áp lực ngày càng tăng cùng với sự gia tăng dân số
ở đô thị Bằng công nghệ xử lý thích hợp, có thể tận dụng một phần nguồn chất thải đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, an toàn và hiệu quả Điều này thật sự có ý nghĩa trong việc cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống Nông nghiệp là ngành sản xuất yếu cầu một lượng nước rất lớn tuy nhiên với nông nghiệp đô thị bằng cách tái sử dụng nguồn nước thải nó có thể cải thiện công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho các đô thị
Tại các đô thị, tình trạng đất đai bị bẩn hóa, suy thoái, thiếu màu mỡ cũng được quan tâm không kém so với việc ô nhiễm và thiếu nguồn nước Phần lớn đất đai kém phì nhiêu,
bị nhiễm bẩn do các hóa chất công nghiệp, do bị ảnh hưởng bởi hoạt động xây dựng…Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nông nghiệp đô thị là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ các hoạt động của đô thị
Trang 34Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho các đô thị vừa giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón Nông nghiệp đô thị được sản xuất tại chỗ ven các đô thị nên sau thu hoạch, chi phí đóng gói, vận chuyển và bảo quản bằng kho lạnh được bỏ qua nên góp phần giảm giá thành đến mức tối đa Chất lượng các sản phẩm được đảm bảo an toàn đồng thời góp phần giảm lượng xe cộ trọng tải lớn vào ra các đô thị, giảm tai nạn và ô nhiễm đáng kể cho khu vực đô thị
iv Nông nghiệp đô thị góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức khỏe cộng đồng
Phát triển “đô thị sinh thái” hay “đô thị xanh” là những cụm từ đang trở nên phổ biến tại các diễn đàn về phát triển đô thị hiện nay Mục tiêu hướng tới là quy hoạch và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng Đối với mục tiêu này trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô hị thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất Ngoài các ý nghĩa như trên, nông nghiệp đô thị sẽ tạo ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị ( Cây xanh, công viên, mảng xanh trên các ban công, hay các vành đai xanh bao quanh ven đô… là những hình thức và sản phẩm của nông nghiệp đô thị) Sản xuất nông nghiệp đô thị môt mặt vừa đảm bảo các nu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị
c Nông nghiệp đô thị của thành phố Hồ Chí Minh
Sự phát triển nông nghiệp đô thị của thành phố Hồ Chí Minh có đặc thù khác so với nông nghiệp truyền thống, do thực trạng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Vìvậy, phải tập trung sản xuất cây, con có giá trị kinh tế cao nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân, việc chuyển đổi cơ
Trang 35cấu cây trồng là một yêu cầu cấp thiết Trước thực tế đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 718/QĐ-UBND ngày 25 tháng 02 năm 2004 về phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển hoa, cây kiểng giai đoạn 2004 - 2010, Quyết định này đã xác định hoa kiểng là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với sự phát triển của nền nông nghiệpđô thị
Giai đoạn 2011- 2015, thành phố tập trung triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần IX với mục tiêu nhiệm vụ chung
là khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế, tập trung các nguồn lực để đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế;tiến bộ, công bằng xã hội
và bảo vệ môi trường Phát triển nông nghiệp đô thịhiện đại, bền vững, tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, tập trung sản xuất cây giống, con giống, rau an toàn, hoa kiểng,
cá cảnh
Phát triển hoa, cây kiểng là một hướng đi đúng, phù hợp với nền nông nghiệp đô thị; giúp cho người nông dân thành phố tăng thu nhập và đảm bảo giá trị sản xuất nông nghiệp Trong thời gian qua, chương trình hoa, cây kiểng đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Sở, ngành, quận, huyện thực hiện có hiệu quả Diện tích hoa, cây kiểng giai đoạn 2003 - 2010 tăng từ 665 ha lên 1.910 ha, tăng 187,2%; giá trị sản xuất hoa, cây kiểng tăng từ 69,8 tỷ đồng năm 2005 lên 456,44 tỷ đồng năm 2010, tăng hơn 6,5 lần so với năm 2005
Tuy nhiên, hiện trạng sản xuất hoa kiểng thành phố vẫn còn nhỏ lẻ do điều kiện đất đai manh mún nên khó áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, chưa tạo sản phẩm có tính cạnh tranh cao, khó đáp ứng các đơn đặt hàng xuất khẩu với số lượng lớn hàng hóa Do đó, việc xây dựng chương trình hoa, cây kiểng giai đoạn 2011 -2015 là việc làm cần thiết nhằm duy trì và phát triển hoa, cây kiểng một cách bền vững, phù hợp phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố trong thời gian sắp tới
Trang 364.2 DỰ BÁO KHẢ NĂNG TIÊU THỤ VÀ KHẢ NĂNG CUNG ỨNG HOA LAN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
Ngành hoa kiểng của Việt Nam đã phát triển từ lâu đời nhưng hoa phong lan thì mới phát triển gần đây, chủ yếu tập trung là lan nhiệt đới ở TP.HCM và địa lan ở vùng cao như Đà Lạt Chủng loại lan ở TP.HCM chỉ tập trung ở 2 loại Mokara (đơn thân) và Dendrobium (đa thân) Diện tích dành cho hoa lan của VN quá khiêm nhường, khoảng
200 ha so với gần 4.000 ha của Thái Lan Diện tích nhỏ bé này chỉ giải quyết được 25% nhu cầu tiêu thụ hoa lan ở TP.HCM Hiện TP.HCM đang quy hoạch diện tích trồng hoa phong lan gấp đôi diện tích hiện nay Dĩ nhiên, với 400ha, ngành phong lan TP.HCM cũng mới chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, chưa tính đến chuyện xuất khẩu
Về diện tích, TP.HCM không có đủ đất để phát triển những vườn phong lan lớn như Bangkok Về quy mô, chúng ta thiếu và thua hẳn Thái Lan vì họ có những công ty rất lớn,
có thể quản lý từ 30 đến 50 ha đất trồng phong lan Tất nhiên, bản thân những công ty này chỉ xuất khẩu được 40% doanh số xuất khẩu hoa lan hàng năm của họ, còn 60% là thu gom từ các đối tác nằm trong hệ thống, giống như một doanh nghiệp, xoay xung quanh họ
là hệ thống vệ tinh Đây là mô hình mà ngành phong lan TP.HCM cần phải học hỏi
Theo TS Trần Viết Mỹ, Giám đốc Trung tâm khuyến nông TP.HCM, với điều kiện đất đai ít, manh mún, quy mô các nhà vườn VN nhỏ bé và chưa có một công ty hay nông trại nào có diện tích khoảng 2 ha cho nên chúng ta phải liệu cơm gắp mắm Vấn đề ngành phong lan VN phải giải quyết đó là với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, quy mô nhỏ, phân tán như vậy, chúng ta phải chọn lựa một giải pháp phù hợp, chứ không phải cứ đi theo mô hình của Thái Lan và hướng đến xuất khẩu vội vàng trong khi cung chưa đủ phục vụ cho nhu cầu cả nước Đã thế, hàng năm, TP.HCM vẫn còn nhập khoảng gần 25 triệu cành lan
để tiêu thụ tại chỗ Theo ước tính của một số chuyên gia nông nghiệp, trong 5 năm nữa, TP.HCM vẫn chưa đủ hoa để cung cấp cho thị trường trong nước
Theo ông Phạm Anh Dũng, Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh Củ Chi, kỹ thuật chăm sóc và nuôi trồng hoa lan của người VN so ra không thua kém người Thái Lan Tuy nhiên, người
Trang 37nông dân VN phải mua tất cả, từ cây giống, vật tư, phân bón… từ Thái Lan Cho nên, đầu vào của sản xuất hoa phong lan bị đội lên rất cao Hiện nay, chúng ta nhập giống về, trồng rồi đưa ra tiêu thụ nội địa chứ không thể tìm đầu ra cho xuất khẩu vì giá thành cao Nếu như mỗi cây lan ở TP.HCM được bán với giá từ 50.000 đến 60.000 đồng, thì ngay tại Bangkok, chúng tôi mua được với giá cực rẻ, chỉ khoảng từ 12.000 đến 15.000 đồng/cây Trở lại với công nghệ tạo cây giống hoa lan, ở TP.HCM có nhiều trung tâm cấy mô thuộc trường ĐH Nông Lâm, ĐH Khoa học - Tự nhiên, Viện Cộng nghệ sinh học TP.HCM… Tuy nhiên, công tác lai tạo giống chưa được đầu tư và ứng dụng các tiến bộ khoa học đúng mức để đẩy nhanh tiến độ tạo ra giống mới Nguồn giống vẫn còn lệ thuộc nhiều vào nước ngoài Sản phẩm hoa chưa được tiêu chuẩn hóa, chưa áp dụng hiệu quả công nghệ mới để tạo ra sản phẩm có chất lượng phù hợp với đặc thù VN nên tính cạnh tranh còn thấp Theo ông Mỹ, chất lượng cây con tạo ra của các trung tâm này vẫn chưa bằng chất lượng cây con của Thái Lan: "Họ có bí quyết riêng mà mình phải cần tìm hiểu
và học hỏi"
Bên cạnh đó, chúng ta chưa có một hiệp hội hay một tổ chức đại diện cho những người trồng lan VN Bản thân mỗi người trồng lan đều phải tự mày mò đi tìm giống mới Cái khó hiện nay của người nhập giống đơn lẻ là phải tự đi đến từng vườn lan của Thái để chỉ chọn được từ 1 đến 2 cây giống mà thôi Vì cái quy trình "đơn thân độc mã" mua cây giống ở Thái Lan về trồng, nhà vườn VN đã gặp nhiều thua thiệt Cây giống trồng lên không đạt chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu về màu sắc, độ bền… Đã không ít lần người trồng lan mua cây giống cho hoa màu này nhưng khi về trồng ở VN thì lại ra hoa màu khác!
So với bề dày 40 năm của Thái Lan, ngành phong lan ở TP.HCM chỉ mới phát triển khoảng 10-15 năm nay Mặc dù người nông dân VN cần cù, chịu khó và rất sáng tạo, nhưng kinh nghiệm chúng ta còn thiếu, từ cách tổ chức và quy hoạch sản phẩm tại các hộ nhỏ lẻ Vì thế, để phát triển ngành trồng lan tại VN, vẫn còn một chặng đường rất dài phía trước…
Quanh TP HCM cũng có đến 20 cơ sở lớn mỗi năm cung cấp cho thị trường cả vạn Cành lan, cùng hàng trăm cơ sở nhỏ lẻ khác Các cơ sở này chuyển lan vào thành phố
Trang 38theo 2 hình thức: cung cấp theo đơn đặt hàng với số lượng lớn và ổn định cho những hàng hoa, cây cảnh; thông qua đội quân bán dạo mà có thời điểm lên đến cả ngàn người
Nhu cầu : Nhu cầu tiêu thụ hoa trên thế giới tăng rất nhanh, hiện đã ở mức 102 tỉ USD mỗi năm, cao gấp nhiều lần so với những nông sản khác Nhưng Việt Nam hiện chỉ có 15.000ha trồng hoa
Theo “Chương trình phát triển hoa, cây kiểng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2015” được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt có nội dung: Phấn đấu đến năm 2015, diện tích hoa, cây kiểng đạt 2.100 ha, tăng 190 ha so với năm 2010 Tập trung chủ yếu ở huyện Củ Chi và Bình Chánh Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng và cho các doanh nghiệp, các đơn vị có năng lực thuê dài hạn để xây dựng những trang trại sản xuất tập trung với quy mô vài ha đến vài chục ha Chính những trang trại hạt nhân này sẽ là đầu tàu trong việc phát triển ngành hoa kiểng thành phố Bình Chánh và Củ Chi được xem là hai trụ cột lớn trong phát triển nông nghiệp đô thị thành phố Hồ Chí Minh
2011-4.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT - KINH DOANH HOA LAN TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2004 – 2010
Diện tích hoa lan đến cuối năm 2010 là 190 ha, tăng 170 ha so với năm 2003 và đạt 95% mục tiêu chương trình phát triển hoa, cây kiểng giai đoạn 2004 - 2010 Hoa lan được trồng ở hầu hết các quận, huyện, ngay cả địa bàn có khó khăn về nguồn nước ngọt như Nhà Bè (2 ha), huyện có diện tích trồng lan lớn nhất là Củ Chi (50 ha) Sản lượng hoa lan cung ứng hàng năm khoảng 2,3 triệu chậu và 2,7 triệu cành với giá trị sản lượng khoảng 123,4 tỷ đồng
Theo số liệu điều tra của Trung tâm Khuyến nông năm 2010, trên địa bàn thành phố
có 771 hộ trồng lan, qui mô sản xuất từ 50m2 đến 3 ha, bình quân 2.200 m2/hộ, qui mô dưới 500 m2 có 131 hộ; từ 500 - 1.000 m2 có 231 hộ; từ trên 1.000 m2 có 401 hộ
Trang 39Chủng loại lan trồng khá phong phú gồm Mokara, Dendrobium, Catlleya, Vanda, Phalaenopsis, Oncidium, trong đó hai giống lan được trồng nhiều nhất là Mokara và Denbrobium
Một số mô hình sản xuất hoa lan với qui mô lớn, có hiệu quả cao như: Vườn lan Trần Ngọc Tuyết: qui mô 2 ha tại huyện Củ Chi, doanh thu ước khoảng 4 tỷ đồng/năm; Vườn lan Tân Xuân: qui mô 2,5 ha tại huyện Hóc Môn, doanh thu ước khoảng 4 tỷ đồng/năm; Vườn lan Kiều Lương Hồng: qui mô 1 ha tại huyện Bình Chánh, doanh thu ước khoảng 2,1 tỷ đồng/năm
4.4 DỰ ÁN SẢN XUẤT KINH DOANH HOA LAN TIÊU BIỂU TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Nhóm nghiên cứu của TS Dương Hoa Xô đã xây dựng 4 mô hình canh tác thu hoạch sản phẩm hoa cắt cành kết hợp áp dụng biện pháp nhân giống lan Mokara tại 3 hộ nông dân ở xã Phước Hiệp, xã Trung An (huyện Củ Chi); xã Tân Kiên (huyện Bình Chánh) và
ở vườn của Trung tâm Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao TPHCM (xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi) Diện tích của 4 mô hình nói trên khoảng 14.230 m2
Trong gần 3 năm thực hiện, dự án đã thu hoạch được 94.173 cây giống, trong đó cây dạng đọt 22.430 cây và dạng chồi các loại là 71.743 cây; thu hoạch 376.433 hoa cắt cành các loại, tăng 64.433 cành (đạt tỉ lệ 20,6% so với nhóm hoa đối chứng) Thực hiện so sánh
về năng suất cho thấy các vườn trong dự án cho năng suất hoa (mỗi vườn chọn ra 4 giống) tăng hơn so với vườn đối chứng từ 10,8% – 32,4%
Tính toán bước đầu của nhóm nghiên cứu về hiệu quả kinh tế như sau: Trong trường hợp không tính tiền thuê đất, doanh thu toàn bộ dự án đạt gần 6,9 tỉ đồng; tổng giá trị lợi nhuận đạt hơn 3 tỉ đồng Nếu lãi suất ngân hàng là 15% thì sẽ đạt gần 1,7 tỉ đồng Trường hợp lãi suất ngân hàng tăng lên 18% thì vẫn đạt gần 1,5 tỉ đồng
Trang 40Theo đó, ước tính lợi nhuận trung bình của toàn dự án là hơn 217 triệu đồng/1.000 m2 (sau 30 tháng) Ông Nguyễn Văn Lanh, một nông dân trồng hoa lan ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi lạc quan cho biết: “Mô hình này theo sự tư vấn của các nhà khoa học ở Trung tâm Công nghệ Sinh học TPHCM thực hiện cũng đơn giản, dễ áp dụng và cho kết quả rất khả quan Khởi đầu tôi đã đầu tư 1.500 m2, thấy có hiệu quả nên mới đây, tôi đã
mở rộng thêm 1.400 m2 nữa, nâng diện tích trồng hoa lan Mokara lên 2.900 m2”
4.5 CHÍNH SÁCH CỦA THÀNH PHỐ TRONG PHÁT TRIỂN HOA LAN Ở ĐÔ THỊ:
Với nhu cầu cấp thiết trong việc phát triển nông nghiệp đô thị, trong những năm vừa qua, Thành phố Hồ Chí Minh luôn có những chính sách phát triển nông nghiệp đô thị phù hợp trong từng giai đoạn Trong đó, hoa lan là một trong những đối tượng được ưu tiên phát triển Sau đây là nội dung chương trình phát triển hoa lan trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2015 được trích từ nội dung “Chương trình phát triển hoa, cây kiểng trên địa bàn Tp HCM giai đoạn 2011 – 2015
*Nội dung chương trình phát triển hoa lan giai đoạn 2011 – 2015:
a Mục tiêu chung:
Góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện Chương trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân
b Mục tiêu cụ thể: